wayground logo

Free Printable Worksheets

NEW

Font size

S
M
L
XL
Worksheets

Quizizz 27/1/2022

Total questions: 20

Worksheet time: 20mins

Name
Class
Date
1.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

(1)Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

(2)Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

(3)Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

(4)Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

(5)Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

(6)Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

(7)Áo bào thay chiếu, anh về đất,

(8) Sông Mã gầm lên khúc độc hành

----------

Câu 51: Trong câu (5), cụm từ “kiều thơm” thể hiện biện pháp tu từ nghệ thuật nào?

a)

A. Nhân hóa

b)

B. Ẩn dụ

c)

C. So sánh

d)

D. Hoán dụ

2.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

(1)Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

(2)Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

(3)Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

(4)Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

(5)Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

(6)Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

(7)Áo bào thay chiếu, anh về đất,

(8) Sông Mã gầm lên khúc độc hành

----------

Câu 52: Tác giả đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến qua những câu thơ nào?

a)

A. Câu 1,2

b)

B. Câu 4,5

c)

C. Câu 1,4

d)

D. Câu 3,4

3.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

(1)Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

(2)Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

(3)Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

(4)Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

(5)Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

(6)Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

(7)Áo bào thay chiếu, anh về đất,

(8) Sông Mã gầm lên khúc độc hành

----------

Câu 53: Câu thơ nào trong đoạn trích gợi liên tưởng đến câu nói “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”?

a)

A. Câu 1

b)

B. Câu 6

c)

C. Câu 3

d)

D. Câu 7

4.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

(1)Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

(2)Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

(3)Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

(4)Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

(5)Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

(6)Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

(7)Áo bào thay chiếu, anh về đất,

(8) Sông Mã gầm lên khúc độc hành

----------

Câu 54: Chủ đề của đoạn thơ trên là gì?

a)

A. Cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hiểm nguy của người lính Tây Tiến.

b)

B. Vẻ đẹp hào hùng và hào hoa, lãng mạn của người lính Tây Tiến.

c)

C. Bức chân dung bi tráng của người lính Tây Tiến và sự hi sinh anh dũng của họ.

d)

D. Bức chân dung bi tráng của người lính Tây Tiến và tâm hồn lãng mạn của họ.

5.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

(1)Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

(2)Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

(3)Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

(4)Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

(5)Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

(6)Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

(7)Áo bào thay chiếu, anh về đất,

(8) Sông Mã gầm lên khúc độc hành

----------

Câu 55: Biện pháp nói giảm, nói tránh qua cụm từ “anh về đất” có tác dụng gì?

a)

A. Làm giảm đi sự mất mát, đau thương, tránh cảm giác bi lụy

b)

B. Là cách nói tế nhị, tránh sự thô tục, thể hiện sự đồng cảm của tác giả với người lính

c)

C. Thể hiện thái độ lạc quan của tác giả và niềm tin của tác giả đối với người lính

d)

D. Tránh cảm giác đau thương, khẳng định ý nghĩa sự hi sinh của người lính

6.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

"Hầu hết mọi người đều gặp khó khăn khi tiêu hóa khoa học hiện đại, vì ngôn ngữ toán học của nó rất khó để bộ não chúng ta có thể hấp thụ được, và những phát hiện của nó thường mâu thuẫn với cảm tính thông thường. Trong số 7 tỉ người trên thế giới, bao nhiêu người thực sự hiểu cơ học lượng tử, sinh học tế bào hay kinh tế vĩ mô? Dẫu vậy, khoa học vẫn có được uy tín to lớn nhờ vào sức mạnh mới mà nó mang lại cho chúng ta. Tổng thống và tướng lĩnh có thể không hiểu gì về vật lý hạt nhân, nhưng họ hiểu rất rõ về những gì bom nguyên tử có thể làm được.

Năm 1962, Francis Bacon đã công bố một tuyên ngôn khoa học, với nhan đề Bộ công cụ mới. Trong đó, ông lập luận rằng "tri thức là sức mạnh". Phép thử thực sự của "tri thức" không phải là liệu nó có đúng hay không, mà là liệu nó có trao quyền lực cho chúng ta hay không. Các nhà khoa học thường cho rằng không có lí thuyết nào là chính xác 100 %. Do đó, chân lý là một phép thử tốt đối với tri thức. Phép thử thực sự chính là tính ứng dụng của nó. Một lý thuyết, nếu tạo điều kiện cho ta làm những điều mới, thì đó chính là trí thức.

Qua các thế kỷ, khoa học đã cung cấp cho chúng ta nhiều công cụ mới. Một số là công cụ tinh thần, chẳng hạn những công cụ dùng để dự đoán tỉ lệ tử vong và tăng trưởng kinh tế. Quan trọng hơn thế là công cụ công nghệ. Mối liên hệ giữa khoa học và công nghệ mạnh mẽ đến mức ngày nay mọi người có xu hướng nhầm lẫn giữa hai khái niệm. Chúng ta thường nghĩ rằng, không thể nào phát triển được những công nghệ mới nếu không có nghiên cứu khoa học, và rằng nghiên cứu là việc làm gần như vô nghĩa nếu không dẫn đến những công nghệ mới."

(Yuval Noah Harari, Sapiens - Lược sử loài người, Nguyễn Thủy Chung (dịch), Nxb, Tri thức, 2018, tr. Trang 323-324)

----------

Câu 56: Theo đoạn trích, ý nào sau đây KHÔNG nói về khoa học hiện đại?

a)

A. Hầu hết mọi người đều gặp khó khăn khi tiếp thu các tri thức khoa học hiện đại

b)

B. Những phát hiện của khoa học hiện đại thường mâu thuẫn với suy nghĩ của con người

c)

C. Khoa học đã mang đến cho con người nhiều công cụ mới

d)

D. Khoa học đã ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ đến sự phát triển công nghệ

7.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

"Hầu hết mọi người đều gặp khó khăn khi tiêu hóa khoa học hiện đại, vì ngôn ngữ toán học của nó rất khó để bộ não chúng ta có thể hấp thụ được, và những phát hiện của nó thường mâu thuẫn với cảm tính thông thường. Trong số 7 tỉ người trên thế giới, bao nhiêu người thực sự hiểu cơ học lượng tử, sinh học tế bào hay kinh tế vĩ mô? Dẫu vậy, khoa học vẫn có được uy tín to lớn nhờ vào sức mạnh mới mà nó mang lại cho chúng ta. Tổng thống và tướng lĩnh có thể không hiểu gì về vật lý hạt nhân, nhưng họ hiểu rất rõ về những gì bom nguyên tử có thể làm được.

Năm 1962, Francis Bacon đã công bố một tuyên ngôn khoa học, với nhan đề Bộ công cụ mới. Trong đó, ông lập luận rằng "tri thức là sức mạnh". Phép thử thực sự của "tri thức" không phải là liệu nó có đúng hay không, mà là liệu nó có trao quyền lực cho chúng ta hay không. Các nhà khoa học thường cho rằng không có lí thuyết nào là chính xác 100 %. Do đó, chân lý là một phép thử tốt đối với tri thức. Phép thử thực sự chính là tính ứng dụng của nó. Một lý thuyết, nếu tạo điều kiện cho ta làm những điều mới, thì đó chính là trí thức.

Qua các thế kỷ, khoa học đã cung cấp cho chúng ta nhiều công cụ mới. Một số là công cụ tinh thần, chẳng hạn những công cụ dùng để dự đoán tỉ lệ tử vong và tăng trưởng kinh tế. Quan trọng hơn thế là công cụ công nghệ. Mối liên hệ giữa khoa học và công nghệ mạnh mẽ đến mức ngày nay mọi người có xu hướng nhầm lẫn giữa hai khái niệm. Chúng ta thường nghĩ rằng, không thể nào phát triển được những công nghệ mới nếu không có nghiên cứu khoa học, và rằng nghiên cứu là việc làm gần như vô nghĩa nếu không dẫn đến những công nghệ mới."

(Yuval Noah Harari, Sapiens - Lược sử loài người, Nguyễn Thủy Chung (dịch), Nxb, Tri thức, 2018, tr. Trang 323-324)

----------

Câu 57: Ý nào sau đây KHÔNG được nói đến trong đoạn trích?

a)

A. Ngày nay người thường có xu hướng nhầm lẫn giữa khoa học với công nghệ

b)

B. Francis Bacon là người đưa ra lập luận rằng "tri thức là sức mạnh".

c)

C. Uy tín của khoa học bị ảnh hưởng bởi tính khó hấp thu của nó và sự cảm tính của con người

d)

D. Khoa học đã cung cấp cho chúng ta nhiều công cụ mới

8.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

"Hầu hết mọi người đều gặp khó khăn khi tiêu hóa khoa học hiện đại, vì ngôn ngữ toán học của nó rất khó để bộ não chúng ta có thể hấp thụ được, và những phát hiện của nó thường mâu thuẫn với cảm tính thông thường. Trong số 7 tỉ người trên thế giới, bao nhiêu người thực sự hiểu cơ học lượng tử, sinh học tế bào hay kinh tế vĩ mô? Dẫu vậy, khoa học vẫn có được uy tín to lớn nhờ vào sức mạnh mới mà nó mang lại cho chúng ta. Tổng thống và tướng lĩnh có thể không hiểu gì về vật lý hạt nhân, nhưng họ hiểu rất rõ về những gì bom nguyên tử có thể làm được.

Năm 1962, Francis Bacon đã công bố một tuyên ngôn khoa học, với nhan đề Bộ công cụ mới. Trong đó, ông lập luận rằng "tri thức là sức mạnh". Phép thử thực sự của "tri thức" không phải là liệu nó có đúng hay không, mà là liệu nó có trao quyền lực cho chúng ta hay không. Các nhà khoa học thường cho rằng không có lí thuyết nào là chính xác 100 %. Do đó, chân lý là một phép thử tốt đối với tri thức. Phép thử thực sự chính là tính ứng dụng của nó. Một lý thuyết, nếu tạo điều kiện cho ta làm những điều mới, thì đó chính là trí thức.

Qua các thế kỷ, khoa học đã cung cấp cho chúng ta nhiều công cụ mới. Một số là công cụ tinh thần, chẳng hạn những công cụ dùng để dự đoán tỉ lệ tử vong và tăng trưởng kinh tế. Quan trọng hơn thế là công cụ công nghệ. Mối liên hệ giữa khoa học và công nghệ mạnh mẽ đến mức ngày nay mọi người có xu hướng nhầm lẫn giữa hai khái niệm. Chúng ta thường nghĩ rằng, không thể nào phát triển được những công nghệ mới nếu không có nghiên cứu khoa học, và rằng nghiên cứu là việc làm gần như vô nghĩa nếu không dẫn đến những công nghệ mới."

(Yuval Noah Harari, Sapiens - Lược sử loài người, Nguyễn Thủy Chung (dịch), Nxb, Tri thức, 2018, tr. Trang 323-324)

----------

Câu 58: Đoạn trích thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

a)

A. Khoa học

b)

B. Nghệ thuật

c)

C. Chính luận

d)

D. Báo chí

9.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

"Hầu hết mọi người đều gặp khó khăn khi tiêu hóa khoa học hiện đại, vì ngôn ngữ toán học của nó rất khó để bộ não chúng ta có thể hấp thụ được, và những phát hiện của nó thường mâu thuẫn với cảm tính thông thường. Trong số 7 tỉ người trên thế giới, bao nhiêu người thực sự hiểu cơ học lượng tử, sinh học tế bào hay kinh tế vĩ mô? Dẫu vậy, khoa học vẫn có được uy tín to lớn nhờ vào sức mạnh mới mà nó mang lại cho chúng ta. Tổng thống và tướng lĩnh có thể không hiểu gì về vật lý hạt nhân, nhưng họ hiểu rất rõ về những gì bom nguyên tử có thể làm được.

Năm 1962, Francis Bacon đã công bố một tuyên ngôn khoa học, với nhan đề Bộ công cụ mới. Trong đó, ông lập luận rằng "tri thức là sức mạnh". Phép thử thực sự của "tri thức" không phải là liệu nó có đúng hay không, mà là liệu nó có trao quyền lực cho chúng ta hay không. Các nhà khoa học thường cho rằng không có lí thuyết nào là chính xác 100 %. Do đó, chân lý là một phép thử tốt đối với tri thức. Phép thử thực sự chính là tính ứng dụng của nó. Một lý thuyết, nếu tạo điều kiện cho ta làm những điều mới, thì đó chính là trí thức.

Qua các thế kỷ, khoa học đã cung cấp cho chúng ta nhiều công cụ mới. Một số là công cụ tinh thần, chẳng hạn những công cụ dùng để dự đoán tỉ lệ tử vong và tăng trưởng kinh tế. Quan trọng hơn thế là công cụ công nghệ. Mối liên hệ giữa khoa học và công nghệ mạnh mẽ đến mức ngày nay mọi người có xu hướng nhầm lẫn giữa hai khái niệm. Chúng ta thường nghĩ rằng, không thể nào phát triển được những công nghệ mới nếu không có nghiên cứu khoa học, và rằng nghiên cứu là việc làm gần như vô nghĩa nếu không dẫn đến những công nghệ mới."

(Yuval Noah Harari, Sapiens - Lược sử loài người, Nguyễn Thủy Chung (dịch), Nxb, Tri thức, 2018, tr. Trang 323-324)

----------

Câu 59. Từ “tiêu hóa” (in đậm, gạch chân) trong đoạn trích gần nghĩa với từ nào sau đây?

a)

A. ăn uống

b)

B. tiếp thu

c)

C. hấp thụ

d)

D. thích nghi

10.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

"Hầu hết mọi người đều gặp khó khăn khi tiêu hóa khoa học hiện đại, vì ngôn ngữ toán học của nó rất khó để bộ não chúng ta có thể hấp thụ được, và những phát hiện của nó thường mâu thuẫn với cảm tính thông thường. Trong số 7 tỉ người trên thế giới, bao nhiêu người thực sự hiểu cơ học lượng tử, sinh học tế bào hay kinh tế vĩ mô? Dẫu vậy, khoa học vẫn có được uy tín to lớn nhờ vào sức mạnh mới mà nó mang lại cho chúng ta. Tổng thống và tướng lĩnh có thể không hiểu gì về vật lý hạt nhân, nhưng họ hiểu rất rõ về những gì bom nguyên tử có thể làm được.

Năm 1962, Francis Bacon đã công bố một tuyên ngôn khoa học, với nhan đề Bộ công cụ mới. Trong đó, ông lập luận rằng "tri thức là sức mạnh". Phép thử thực sự của "tri thức" không phải là liệu nó có đúng hay không, mà là liệu nó có trao quyền lực cho chúng ta hay không. Các nhà khoa học thường cho rằng không có lí thuyết nào là chính xác 100 %. Do đó, chân lý là một phép thử tốt đối với tri thức. Phép thử thực sự chính là tính ứng dụng của nó. Một lý thuyết, nếu tạo điều kiện cho ta làm những điều mới, thì đó chính là trí thức.

Qua các thế kỷ, khoa học đã cung cấp cho chúng ta nhiều công cụ mới. Một số là công cụ tinh thần, chẳng hạn những công cụ dùng để dự đoán tỉ lệ tử vong và tăng trưởng kinh tế. Quan trọng hơn thế là công cụ công nghệ. Mối liên hệ giữa khoa học và công nghệ mạnh mẽ đến mức ngày nay mọi người có xu hướng nhầm lẫn giữa hai khái niệm. Chúng ta thường nghĩ rằng, không thể nào phát triển được những công nghệ mới nếu không có nghiên cứu khoa học, và rằng nghiên cứu là việc làm gần như vô nghĩa nếu không dẫn đến những công nghệ mới."

(Yuval Noah Harari, Sapiens - Lược sử loài người, Nguyễn Thủy Chung (dịch), Nxb, Tri thức, 2018, tr. Trang 323-324)

----------

Câu 60. Xác định chủ đề của đoạn trích.

a)

A. Sức mạnh của tri thức

b)

B. Sức mạnh của công nghệ

c)

C. Sức mạnh của khoa học

d)

D. Sức mạnh của công cụ

11.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

“Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, Thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng không bám lấy hiện thể, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.

(Trần Đình Hượu, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Ngữ văn 12 , tập một, NXB Giáo dục Việt Nam , 2014 )

----------

Câu 61: Phong cách ngôn ngữ của đoạn trích là gì?

a)

A. Chính luận

b)

B. Khoa học

c)

C. Báo chí

d)

D. Nghệ thuật

12.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

“Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, Thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng không bám lấy hiện thể, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.

(Trần Đình Hượu, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Ngữ văn 12 , tập một, NXB Giáo dục Việt Nam , 2014 )

----------

Câu 62: Theo đoạn trích, ý nào KHÔNG nói về đặc điểm của người Việt?

a)

A. Người Việt Nam coi trọng hiện thế trần tục hơn cái chết

b)

B. Người Việt Nam không coi trọng tôn giáo

c)

C. Người Việt Nam có tinh thần mê tín, tin là có cõi âm

d)

D. Người Việt Nam không phát triển cao ý thức về cá nhân và sở hữu

13.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

“Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, Thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng không bám lấy hiện thể, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.

(Trần Đình Hượu, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Ngữ văn 12 , tập một, NXB Giáo dục Việt Nam , 2014 )

----------

Câu 63: Câu văn nào nói về tinh thần “hiện thế” của người Việt Nam?

a)

A. Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo.

b)

B. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình.

c)

C. Nhiều người thực hành cầu cúng.

d)

D. Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao.

14.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

“Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, Thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng không bám lấy hiện thể, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.

(Trần Đình Hượu, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Ngữ văn 12 , tập một, NXB Giáo dục Việt Nam , 2014 )

----------

Câu 64: Chủ đề bao trùm của đoạn trích là gì?

a)

A. Tín ngưỡng của người Việt Nam

b)

B. Tôn giáo của người Việt Nam

c)

C. Văn hóa của người Việt Nam

d)

D. Phong cách sống của người Việt Nam

15.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

“Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, Thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng không bám lấy hiện thể, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người.

(Trần Đình Hượu, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Ngữ văn 12 , tập một, NXB Giáo dục Việt Nam , 2014 )

----------

Câu 65: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là gì?

a)

A. Tự sự

b)

B. Miêu tả

c)

C. Thuyết minh

d)

D. Nghị luận

16.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Các nhà tâm lý học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lý khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lý học người Mỹ da trắng suốt nhiều thập kỷ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mỹ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mỹ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử

nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lý học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

----------

Câu 66: Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích.

a)

A. Chính luận

b)

B. Khoa học

c)

C. Nghệ thuật

d)

D. Báo chí

17.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Các nhà tâm lý học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lý khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lý học người Mỹ da trắng suốt nhiều thập kỷ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mỹ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mỹ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử

nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lý học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

----------

Câu 67: Nội dung chính của đoạn trích là gì?

a)

A. Ảnh hưởng của trí tuệ đến công nghệ

b)

B. Nỗ lực tìm kiếm sự khác biệt về IQ do bẩm sinh

c)

C. Thái độ phân biệt giữa người da đen và người da trắng

d)

D. Nỗ lực của các nhà tâm lý học

18.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Các nhà tâm lý học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lý khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lý học người Mỹ da trắng suốt nhiều thập kỷ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mỹ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mỹ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử

nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lý học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

----------

Câu 68: Cụm từ “sự thật này” (in đậm, gạch chân) thay thế cho nội dung nào dưới đây?

a)

A. Các nhà tâm lý học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ

b)

B. Nhiều nhà tâm lý học người Mỹ da trắng suốt nhiều thập kỷ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mỹ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mỹ da trắng gốc Âu.

c)

C. Những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành

d)

D. Những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ.

19.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Các nhà tâm lý học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lý khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lý học người Mỹ da trắng suốt nhiều thập kỷ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mỹ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mỹ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử

nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lý học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

----------

Câu 69: Ý nào KHÔNG được nhắc đến trong đoạn trích?

a)

A. Mục đích nghiên cứu sự khách biệt về IQ là để chứng tỏ sự khác biệt giữa người da đen và người da trắng

b)

B. Sự khác nhau về môi trường sống có tác động đến IQ của con người

c)

C. Khó phân biệt rõ sự khác biệt IQ do gen di truyền và do môi trường sống

d)

D. Bắc Băng Dương sẽ vẫn đóng băng trong mùa đông, nhưng khó có thể tồn tại qua mùa hè.

20.

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Các nhà tâm lý học về nhận thức đã có một nỗ lực to lớn hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất thân từ nhiều vùng địa lý khác nhau nhưng hiện sống trong cùng một đất nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lý học người Mỹ da trắng suốt nhiều thập kỷ qua đã ra sức chứng minh rằng người Mỹ da đen gốc Phi bẩm sinh kém thông minh hơn người Mỹ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm kiểm chứng giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là nguyên nhân sâu xa cho những khác biệt về công nghệ. Thứ nhất, ngay cả khả năng nhận thức của người lớn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường xã hội nơi chúng ta trải qua thời thơ ấu, khiến cho thật khó lòng phân biệt rạch ròi xem ảnh hưởng nào là do những khác biệt bẩm sinh trong gen di truyền. Thứ hai, các thử

nghiệm về khả năng nhận thức (chẳng hạn như thử nghiệm IQ) có xu hướng đo đếm vốn kiến thức về văn hóa chứ không phải trí thông minh bẩm sinh dù nó là thế nào đi chăng nữa. Do những tác động rõ ràng đó của môi trường sống thời thơ ấu và tri thức thu nhận được đối với kết quả thử nghiệm IQ, nên nỗ lực của các nhà tâm lý học cho đến nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh mà nhiều người cho là hiển nhiên không phải bàn ở những ai không phải người da trắng.

(Jared Diamond, Súng, vi trùng và thép, NXB Thế giới, 2021, tr.24)

----------

Câu 70: Theo đoạn trích, có mấy yếu tố tác động khiến các nhà tâm lý vẫn chưa đưa ra được kết luận nào đủ sức thuyết phục về sự thiếu hụt IQ bẩm sinh?

a)

A. 1 yếu tố

b)

B. 2 yếu tố

c)

C. 3 yếu tố

d)

D. 4 yếu tố