WorksheetsDan nhap Kinh thanh
Total questions: 39
Worksheet time: 7mins
Name
Class
Date
1.
Thánh Kinh là gì
a)
Thánh Kinh là “Sách Giao Ước”. Trong truyền thống Do Thái giáo, “Giao Ước” diễn tả những tương quan của con người với Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn dẫn đưa con người đến đời sống hiệp thông với Ngài. Thiên Chúa nói với con người bằng ngôn ngữ của loài người.
b)
Thánh Kinh là “Sách Tân Ước”. Trong truyền thống Do Thái giáo, “Giao Ước” diễn tả những tương quan của con người với Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn dẫn đưa con người đến đời sống hiệp thông với Ngài. Thiên Chúa nói với con người bằng ngôn ngữ của loài người.
c)
Thánh Kinh là “Sách Cựu Ước”. Trong truyền thống Do Thái giáo, “Giao Ước” diễn tả những tương quan của con người với Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn dẫn đưa con người đến đời sống hiệp thông với Ngài. Thiên Chúa nói với con người bằng ngôn ngữ của loài người.
d)
Thánh Kinh là “Sách Tân và Cựu Ước”. Trong truyền thống Do Thái giáo, “Giao Ước” diễn tả những tương quan của con người với Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn dẫn đưa con người đến đời sống hiệp thông với Ngài. Thiên Chúa nói với con người bằng ngôn ngữ của loài người.
2.
Thánh Kinh là gì
a)
Thánh Kinh là cuốn sách ghi lại một trong những điểm nền tảng của Giao ước: đó là giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với dân Người, một giao ước được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và cuối cùng được hoàn tất nhờ máu đổ ra của Đức Kitô.
b)
Thánh Kinh là cuốn sách ghi lại một trong những điểm nền tảng của Cựu ước: đó là giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với dân Người, một giao ước được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và cuối cùng được hoàn tất nhờ máu đổ ra của Đức Kitô.
c)
Thánh Kinh là cuốn sách ghi lại một trong những điểm nền tảng của mạc khải: đó là giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với dân Người,
d)
Thánh Kinh là cuốn sách ghi lại một trong những điểm nền tảng của mạc khải: đó là giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với dân Người, một giao ước được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và cuối cùng được hoàn tất nhờ máu đổ ra của Đức Kitô.
3.
Đối với người Do-thái, khi nói đến “Thánh Kinh” là họ chỉ đề cập đến những tác phẩm bằng tiếng gì ?
a)
Tiếng Do-thái
b)
Tiếng Latin
c)
Tiếng Aram thời cổ đại
d)
Tiếng Anh
4.
Đối với các Kitô hữu, dùng từ “Thánh Kinh” để chỉ một tuyển tập bao gồm 73 cuốn bao gồm ?
a)
45 Cựu Ước và 27 cuốn Tân Ước
b)
46 Cựu Ước và 17 cuốn Tân Ước
c)
46 Cựu Ước và 26 cuốn Tân Ước
d)
46 Cựu Ước và 27 cuốn Tân Ước
5.
Tại sao cuốn Thánh Kinh cần được nghiên cứu và học hỏi?
a)
Những mặc khải được chứa đựng và trình bày trong Torah, đều được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần (DV 11). Tuy nhiên, vì trong Thánh Kinh, Thiên Chúa đã nhờ con người và dùng cách nói của loài người mà phán dạy, nên để thấy rỗ điều chính Ngài muốn truyền đạt cho chúng ta, chúng ta phải cẩn thận tìm hiểu các thánh sử thật sự có ý diễn đạt và điều Thiên Chúa muốn bày tỏ qua lời lẽ của các ngài.
b)
Những mặc khải được chứa đựng và trình bày trong Thánh truyền, đều được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần (DV 11). Tuy nhiên, vì trong Thánh Kinh, Thiên Chúa đã nhờ con người và dùng cách nói của loài người mà phán dạy, nên để thấy rỗ điều chính Ngài muốn truyền đạt cho chúng ta, chúng ta phải cẩn thận tìm hiểu các thánh sử thật sự có ý diễn đạt và điều Thiên Chúa muốn bày tỏ qua lời lẽ của các ngài.
c)
Những mặc khải được chứa đựng và trình bày trong Thánh Kinh, đều được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần (DV 11). Tuy nhiên, vì trong Thánh Kinh, Thiên Chúa đã nhờ con người và dùng cách nói của loài người mà phán dạy, nên để thấy rỗ điều chính Ngài muốn truyền đạt cho chúng ta, chúng ta phải cẩn thận tìm hiểu các thánh sử thật sự có ý diễn đạt và điều Thiên Chúa muốn bày tỏ qua lời lẽ của các ngài.
d)
Những mặc khải được chứa đựng và trình bày trong Thánh Kinh, đều được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Cha (DV 11). Tuy nhiên, vì trong Thánh Kinh, Thiên Chúa đã nhờ con người và dùng cách nói của loài người mà phán dạy, nên để thấy rỗ điều chính Ngài muốn truyền đạt cho chúng ta, chúng ta phải cẩn thận tìm hiểu các thánh sử thật sự có ý diễn đạt và điều Thiên Chúa muốn bày tỏ qua lời lẽ của các ngài.
6.
Người Do-thái dùng từ khác để gọi tên cho những tác phẩm này, được sắp xếp thành 24 quyển, là từ “Tanak", Từ này được hình thành từ các chữ cái đầu tiên của ba chữ gì ?
a)
Torah (Luật),
b)
Nevi’im (Ngôn sứ)
c)
Ketuvim (Văn chương).
d)
Tanak
7.
Kể tên các ngôn ngữ của Thánh Kinh mà các thánh sử đã sử dụng trong việc viết hay biên soạn Thánh Kinh
a)
Tiếng Do thái
b)
Tiếng Latin
c)
Tiếng Aram
d)
Tiếng Hy lạp
8.
Kể tên những thể văn chính của Cựu Ước?
a)
Thần thoại
Các phả hệ
Chuyện bình dân
Lịch sử
Tầm nguyên luận
Tiểu thuyết ngắn
Chuyện ngụ ngôn
Chuyện hư cấu
Lề luật
Phụng tự
Sâm Ngôn
Thi phú
b)
Các phả hệ
Chuyện bình dân
Lịch sử
Tầm nguyên luận
Tiểu thuyết ngắn
Chuyện ngụ ngôn
Chuyện hư cấu
Lề luật
Phụng tự
Sâm Ngôn
Thi phú
c)
Thần thoại
Các phả hệ
Chuyện bình dân
Lịch sử
Tầm nguyên luận
Tiểu thuyết ngắn
Chuyện ngụ ngôn
Chuyện hư cấu
Lề luật
Phụng tự
Sâm Ngôn
d)
Thần thoại
Các phả hệ
Chuyện bình dân
Lịch sử
Tầm nguyên luận, Chuyện ngụ ngôn
Chuyện hư cấu
Lề luật
Phụng tự
Sâm Ngôn
Thi phú
9.
Kể tên những thể văn chính của Tân Ước
a)
Tin Mừng
Các Lời Nói
Kể Chuyện
Dụ Ngôn
Ẩn Dụ
b)
Tin Mừng
Các Lời Nói
Kể Chuyện
Dụ Ngôn
Ẩn Dụ
Thư
Khải huyền
c)
Tin Mừng
Các Lời Nói
Kể Chuyện
Dụ Ngôn
d)
Tin Mừng
Dụ Ngôn
Ẩn Dụ
Thư
Khải huyền
10.
Đâu là mục đích chính yếu của việc nhận biết các thể văn khác nhau của Thánh Kinh ?
a)
Để tìm ý thích của soạn giả thánh, giữa những phương pháp khác, cũng cần xét đến văn loại. Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau, như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể văn diễn tả khác
b)
Để tìm ra cách làm của soạn giả thánh, giữa những phương pháp khác, cũng cần xét đến văn loại. Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau, như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể văn diễn tả khác
c)
Để tìm ra chủ ý của soạn giả thánh, giữa những phương pháp khác, cũng cần xét đến văn loại. Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau, như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể văn diễn tả khác
d)
Để tìm ra chủ ý của Thiên Chúa, giữa những phương pháp khác, cũng cần xét đến văn loại. Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau, như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể văn diễn tả khác
11.
Kể tên ba đế quốc lớn nằm ngoài Vùng Lưỡi Liềm Trù Phú ?
a)
Đế quốc Ba Tư
b)
Đế quốc Hy Lạp
c)
Đế quốc Rôma
d)
Đế quốc đảo SIP
12.
Miền đất của Palestine có thể được chia thành 4 phần chính theo chiều dọc từ Tây sang Đông, Vậy bạn hãy kể tên các phần chính của địa lý Palestine ?
a)
đồng bằng ven Địa Trung Hải
b)
cao nguyên trung phần
c)
thung lũng
d)
và cao nguyên bên kia sông Giođan
e)
Đồng bằng ven sông Gio đan
13.
Kể tên các giai đoạn chính của lịch sử Israel?
a)
Thời Thượng Cổ (k. 3100-2200) và Thời Tổ Phụ (St 12-25) (k. 2200-1550)
b)
Thời Ra Đi và Chiếm Đất (Xh, Ds, Đnl, Gs) (k. 1550-1200) và Từ Liên Minh Chi Tộc Đến Thành Lập Nền Quân Chủ (k. 1200-1000)
c)
Vương Quốc Bị Phân Đôi (k. 1000-600)
d)
Từ Hậu Lưu Đầy Cho Tới Triều Đại Hasmonê (k. 539-332 )
e)
Đức Chúa Giêsu đi rao giảng
14.
Nêu tầm quan trọng của việc học biết lịch sử Israel trong việc hiểu bản văn Thánh Kinh?
a)
Thánh Kinh là lời Thiên Chúa nói với con người. Lời này được nói trước tiên cho dân Israel, trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Vì thế muốn hiểu Thánh Kinh nói gì, ta cần biết lịch sử của dân ấy
b)
Thánh Kinh là lời Thiên Chúa nói với con người. Lời này được nói trước tiên cho dân Chúa, trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Vì thế muốn hiểu Thánh Kinh nói gì, ta cần biết lịch sử của dân ấy
c)
Thánh Kinh là lời Thiên Chúa nói với con người. Lời này được nói trước tiên cho dân Ai Cập, trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Vì thế muốn hiểu Thánh Kinh nói gì, ta cần biết lịch sử của dân ấy
d)
Thánh Kinh là lời Thiên Chúa nói với con người. Lời này được nói trước tiên cho dân Israel và dân Ai Cập, trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Vì thế muốn hiểu Thánh Kinh nói gì, ta cần biết lịch sử của dân ấy
15.
Mặc Khải là gì? (theo Hiến chế Dei Verbum)?
a)
Thiên Chúa cho chúng ta biết mầu nhiệm ý muốn Ngài. Qua đó, chúng ta có thể đến cùng Chúa Cha, nhà Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. DV 2).
b)
Thiên thần của Chúa vén mở chính mình cho chúng ta và tỏ cho chúng ta biết mầu nhiệm ý muốn Ngài. Qua đó, chúng ta có thể đến cùng Chúa Cha, nhà Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. DV 2).
c)
Chúa Giêsu vén mở chính mình cho chúng ta và tỏ cho chúng ta biết mầu nhiệm ý muốn Ngài. Qua đó, chúng ta có thể đến cùng Chúa Cha, nhà Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. DV 2).
d)
Thiên Chúa vén mở chính mình cho chúng ta và tỏ cho chúng ta biết mầu nhiệm ý muốn Ngài. Qua đó, chúng ta có thể đến cùng Chúa Cha, nhà Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. DV 2).
16.
Nhờ mặc khải chúng ta được biết điều gì?
a)
Nhiệm cục mặc khải này được thực hiện bằng các việc làm và lời nói có liên hệ mật thiết với nhau, theo nghĩa là các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu độ biểu lộ và củng cố cả giáo huấn lẫn những thực tại được diễn tả bởi các lời; còn các lời thì công bố các việc làm và làm sáng tỏ mầu nhiệm được chứa đựng trong đó. Quả thật, nhờ mặc khải này, sự thật thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về công cuộc cứu độ con người được bày tỏ cho chúng ta trong Chúa Kitô, Đấng vừa là Trung gian vừa là sự viên mãn của toàn thể mặc khải (Dei Verbum 2).
b)
Nhiệm cục mặc khải này được thực hiện bằng lời của Thiên Chúa, theo nghĩa là các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu độ biểu lộ và củng cố cả giáo huấn lẫn những thực tại được diễn tả bởi các lời; còn các lời thì công bố các việc làm và làm sáng tỏ mầu nhiệm được chứa đựng trong đó. Quả thật, nhờ mặc khải này, sự thật thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về công cuộc cứu độ con người được bày tỏ cho chúng ta trong Chúa Kitô, Đấng vừa là Trung gian vừa là sự viên mãn của toàn thể mặc khải (Dei Verbum 2).
c)
Nhiệm cục mặc khải này được thực hiện bằng các việc làm và lời nói có liên hệ mật thiết với nhau, theo nghĩa là các việc Chúa Giê su thực hiện trong lịch sử cứu độ biểu lộ và củng cố cả giáo huấn lẫn những thực tại được diễn tả bởi các lời; còn các lời thì công bố các việc làm và làm sáng tỏ mầu nhiệm được chứa đựng trong đó. Quả thật, nhờ mặc khải này, sự thật thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về công cuộc cứu độ con người được bày tỏ cho chúng ta trong Chúa Kitô, Đấng vừa là Trung gian vừa là sự viên mãn của toàn thể mặc khải (Dei Verbum 2).
d)
Nhiệm cục mặc khải này được thực hiện bằng các việc làm và lời nói có liên hệ mật thiết với nhau, theo nghĩa là các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử dân Israel biểu lộ và củng cố cả giáo huấn lẫn những thực tại được diễn tả bởi các lời; còn các lời thì công bố các việc làm và làm sáng tỏ mầu nhiệm được chứa đựng trong đó. Quả thật, nhờ mặc khải này, sự thật thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về công cuộc cứu độ con người được bày tỏ cho chúng ta trong Chúa Kitô, Đấng vừa là Trung gian vừa là sự viên mãn của toàn thể mặc khải (Dei Verbum 2).
17.
Linh hứng là gì? (trong liên hệ chuyên biệt tới Sách Thánh)
a)
Dei Verbum tuyên bố rằng Thiên Chúa là “Đấng linh hứng và là tác giả các sách của cả hai Giao Ước” (DV, số 16), và, một cách chính xác hơn: “Để soạn tác các cuốn sách thánh thiêng, Thiên Chúa đã chọn những con người được Người cậy nhờ trong việc sử dụng trọn vẹn các khả năng và phương tiện của họ, để, trong khi chính Người hành động trong họ và bởi họ, họ viết bằng bản văn, như các tác giả thực sự, tất cả những gì phù hợp với ý muốn của Người, và chỉ những điều này mà thôi » (DV, 11).
b)
Dei Verbum tuyên bố rằng Chúa Giê su là “Đấng linh hứng và là tác giả các sách của cả hai Giao Ước” (DV, số 16), và, một cách chính xác hơn: “Để soạn tác các cuốn sách thánh thiêng, Thiên Chúa đã chọn những con người được Người cậy nhờ trong việc sử dụng trọn vẹn các khả năng và phương tiện của họ, để, trong khi chính Người hành động trong họ và bởi họ, họ viết bằng bản văn, như các tác giả thực sự, tất cả những gì phù hợp với ý muốn của Người, và chỉ những điều này mà thôi » (DV, 11).
c)
Dei Verbum tuyên bố rằng các tông đồ là “Đấng linh hứng và là tác giả các sách của cả hai Giao Ước” (DV, số 16), và, một cách chính xác hơn: “Để soạn tác các cuốn sách thánh thiêng, Thiên Chúa đã chọn những con người được Người cậy nhờ trong việc sử dụng trọn vẹn các khả năng và phương tiện của họ, để, trong khi chính Người hành động trong họ và bởi họ, họ viết bằng bản văn, như các tác giả thực sự, tất cả những gì phù hợp với ý muốn của Người, và chỉ những điều này mà thôi » (DV, 11).
d)
Toà Thánh tuyên bố rằng Thiên Chúa là “Đấng linh hứng và là tác giả các sách của cả hai Giao Ước” (DV, số 16), và, một cách chính xác hơn: “Để soạn tác các cuốn sách thánh thiêng, Thiên Chúa đã chọn những con người được Người cậy nhờ trong việc sử dụng trọn vẹn các khả năng và phương tiện của họ, để, trong khi chính Người hành động trong họ và bởi họ, họ viết bằng bản văn, như các tác giả thực sự, tất cả những gì phù hợp với ý muốn của Người, và chỉ những điều này mà thôi » (DV, 11).
18.
Trong Thánh Kinh, ơn linh hứng được thể hiện dưới ba hình thức
a)
Linh hứng để hành động, Thần Khí tác động trên các “chủ chăn” để họ dẫn dắt dân Chúa ( Môsê, Giosuê, các Thủ lãnh, các Vua).
b)
Linh hứng để dân Chúa biết tôn sợ Thiên Chúa
c)
Linh hứng để nói, hay là linh hứng giảng thuyết : nơi các ngôn sứ, các Tông đồ
d)
Linh hứng để viết : Chúa cũng đã ra lệnh cho một số người phải viết
e)
Linh hứng để dân Chúa biết việc họ làm
19.
Nêu tổng quát các phương thức lưu truyền mặc khải
a)
Sứ vụ loan bào Tin Mừng được thực hiện cách trung thành, hoặc bằng việc các Tông đồ dùng lời giảng dạy, gương lành và các định chế để truyền lại những điều các ngài đã lãnh nhận từ lời dạy dỗ, từ gương sống và các hành động của Chúa Kitô, hay đã biết được nhờ sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần
b)
Hoặc bởi việc chính các Tông đồ và những người cùng hoạt động tông đồ với các ngài đã viết lại sứ điệp cứu độ dưới sự linh hứng của cùng một Chúa Thánh Thần
c)
Hoặc bởi việc chính các môn đệ và những người cùng hoạt động tông đồ với các ngài đã viết lại sứ điệp cứu độ dưới sự linh hứng của cùng một Chúa Thánh Thần
d)
Hoặc bởi việc chính các người cùng hoạt động tông đồ với các Chúa Cha đã viết lại sứ điệp cứu độ dưới sự linh hứng của cùng một Chúa Thánh Thần
20.
Thánh Truyền (DV8)
a)
Để Giáo lý được gìn giữ toàn vẹn và sống động mãi trong Giáo Hội, các Tông đồ đã để lại những người kế vị là các Giám mục và trao cho họ “quyền giáo huấn của các ngài” (Magisterium).
b)
Để truyền thống của Hội Thánh được gìn giữ toàn vẹn và sống động mãi trong Giáo Hội, các Tông đồ đã để lại những người kế vị là các Giám mục và trao cho họ “quyền giáo huấn của các ngài” (Magisterium).
c)
Để Tin Mừng được gìn giữ toàn vẹn và sống động mãi trong Giáo Hội, các Tông đồ đã để lại những người kế vị là các Giám mục và trao cho họ “quyền giáo huấn của các ngài” (Magisterium).
d)
Thánh Truyền do các tông đồ truyền lại được tiếp nối trong Giáo Hội dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần
e)
Thánh Truyền mang giữ Lời Thiên Chúa, đã được Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần ký thác cho các Tông đồ, sau đó truyền đạt nguyên vẹn lại cho những người kế vị, để những người này, nhờ Thánh Thần chân lý soi sáng, trung thành gìn giữ, trình bày và phổ biến Lời ấy bằng việc rao giảng
21.
Lưu Truyền Qua Thánh Kinh (DV7)
a)
Thánh Kinh là lời nói của Thiên Chúa, xét như Lời đã được ghi chép dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần (Dv, 9).
b)
Những lời giảng dạy của các Tông đồ được đặc biệt ghi lại trong các sách do Thánh Thần linh hứng, phải được bảo tồn và liên tục lưu truyền cho đến tận thế
c)
Những lời truyền phép của các Tông đồ được đặc biệt ghi lại trong các sách do Thánh Thần linh hứng, phải được bảo tồn và liên tục lưu truyền cho đến tận thế
d)
Những lời giảng dạy của Chúa Cha và các tông đồ được đặc biệt ghi lại trong các sách do Thánh Thần linh hứng, phải được bảo tồn và liên tục lưu truyền cho đến tận thế
22.
Ai là tác giả của Thánh Kinh? Hãy phân biệt tác giả chính và tác giả phụ
a)
Thánh Công đồng Vaticanô tái khẳng định những gì thông điệp Divino afflante Spiritu và Providentissimus Deus: “Trong việc biên soạn các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn những con người và nhờ họ dùng tại năng và công sức, để khi chính Ngài hành động trong con người và qua con người, họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn, và chỉ những điều đó mà thội” (DV 11).
Thiên Chúa là tác giả nguyên nhân/tác giả chính.
Các soạn giả là các tác giả dụng cụ/tác giả phụ.
b)
Thánh Công đồng Trento tái khẳng định những gì thông điệp Divino afflante Spiritu và Providentissimus Deus: “Trong việc biên soạn các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn những con người và nhờ họ dùng tại năng và công sức, để khi chính Ngài hành động trong con người và qua con người, họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn, và chỉ những điều đó mà thội” (DV 11).
Thiên Chúa là tác giả nguyên nhân/tác giả chính.
Các soạn giả là các tác giả dụng cụ/tác giả phụ.
c)
Thánh Công đồng Nieaea tái khẳng định những gì thông điệp Divino afflante Spiritu và Providentissimus Deus: “Trong việc biên soạn các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn những con người và nhờ họ dùng tại năng và công sức, để khi chính Ngài hành động trong con người và qua con người, họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn, và chỉ những điều đó mà thội” (DV 11).
Thiên Chúa là tác giả nguyên nhân/tác giả chính.
Các soạn giả là các tác giả dụng cụ/tác giả phụ.
d)
Thánh Công đồng Contastantinople tái khẳng định những gì thông điệp Divino afflante Spiritu và Providentissimus Deus: “Trong việc biên soạn các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn những con người và nhờ họ dùng tại năng và công sức, để khi chính Ngài hành động trong con người và qua con người, họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn, và chỉ những điều đó mà thội” (DV 11).
Thiên Chúa là tác giả nguyên nhân/tác giả chính.
Các soạn giả là các tác giả dụng cụ/tác giả phụ.
23.
Nêu tóm tắt những tác động của Ơn linh hứng trên các soạn giả thánh (thánh sử).
a)
Vậy, Thiên Chúa làm cho con người suy nghĩ và quyết định viết ra những gì Người để ý. Do đó linh hứng là một đặc sủng nhằm soi sáng và thúc đẩy con người, nhờ đó con người suy nghĩ những chân lý Thiên Chúa muốn dùng Thánh Kinh ban cho Hội Thánh, đồng thời ý chí con người được thúc đẩy ghi lại thành bút tích các chân lý ấy và chỉ những chân lý ấy mà thôi.
b)
Vậy, Thiên Chúa làm cho con người suy nghĩ và quyết định viết ra những gì Người muốn thông tri cho người ta. Do đó linh hứng là một ân sủng nhằm soi sáng và thúc đẩy con người, nhờ đó con người suy nghĩ những chân lý Thiên Chúa muốn dùng Thánh Kinh ban cho Hội Thánh, đồng thời ý chí con người được thúc đẩy ghi lại thành bút tích các chân lý ấy và chỉ những chân lý ấy mà thôi.
c)
Vậy, Thiên Chúa làm cho con người suy nghĩ và quyết định viết ra những gì Người để ý và muốn thông tri cho người ta. Do đó linh hứng là một ơn nhằm soi sáng và thúc đẩy con người, nhờ đó con người suy nghĩ những chân lý Thiên Chúa muốn dùng Thánh Kinh ban cho Hội Thánh, đồng thời ý chí con người được thúc đẩy ghi lại thành bút tích các chân lý ấy và chỉ những chân lý ấy mà thôi.
d)
Vậy, Thiên Chúa làm cho con người suy nghĩ và quyết định viết ra những gì Người để ý và muốn thông tri cho người ta. Do đó linh hứng là một đặc sủng nhằm soi sáng và thúc đẩy con người, nhờ đó con người suy nghĩ những chân lý Thiên Chúa muốn dùng Thánh Kinh ban cho Hội Thánh, đồng thời ý chí con người được thúc đẩy ghi lại thành bút tích các chân lý ấy và chỉ những chân lý ấy mà thôi.
24.
Linh hứng tác động trong lý trí của thánh ký, bạn hãy chọn những câu trả lời đúng
a)
Đức Thánh Cha Pi-ô XII nói trong Divino afflante Spiritu như sau: “Khởi đi từ việc tìm hiểu sâu xa nguyên tắc chủ trương thánh ký là dụng cụ của Thánh Thần khi viết Sách Thánh, nhưng là dụng cụ sống và có lý trí, các nhà Thần học Công giáo nhận định đúng đắn rằng vị thánh ký, dưới tác động của Thiên Chúa, sử dụng các cơ quan và tài năng riêng của mình một cách khả dĩ làm cho nhưng ai đọc sách ông đã sáng tác do công lao của mình, có thể dễ dàng nhận ra được tính cách riêng tư của ông, cũng như những đường nét cá nhân và cả tính tình của ông nữa.”
b)
Thánh Tôma nói như sau: “Trong Thánh Kinh, những điều thuộc về Thiên Chúa được trình bày theo cách thức người đời quen dùng”
c)
Trong khi trí khôn được Thiên Chúa linh hứng để phê phán trên lý thuyết và trong thực hành, thì các ý tưởng phải viết hiện diện trong trí óc của thánh ký. Để sách thật sự được viết ra thì ý chí của thánh ký phải quyết định. Nhưng quyết định này phải tuỳ thuộc vào Thiên Chúa, nếu không là nguyên nhân chính được. Vì thế, trong khi đưa ra quyết định, ý chí của thánh ký, như là dụng cụ, phải tuỳ thuộc ý muốn của Thiên Chúa quyết định viết sách. Trong việc này Thiên Chúa tác động bên trong ý muốn của thánh ký, nhờ đó thánh ký mới có quyết định: như thế mới nói được rằng sách xuất phát từ Thiên Chúa
25.
Ảnh hưởng của ơn linh hứng đối với các tài năng thực hành
a)
Các tài năng thực hành của thánh ký cũng tham gia làm ra sách: về sinh lý có thần kinh hệ. Thiên Chúa là nguyên nhân chính thì các tài năng này cũng cần được Thiên Chúa tác động
b)
Các tài năng thực hành của thánh ký cũng tham gia làm ra sách: về tâm lý có tưởng tượng, trí nhớ. Thiên Chúa là nguyên nhân chính thì các tài năng này cũng cần được Thiên Chúa tác động
c)
Các tài năng thực hành của thánh ký cũng tham gia làm ra sách: về tâm lý có tưởng tượng, trí nhớ, về sinh lý có thần kinh hệ. Thiên Chúa là nguyên nhân chính thì các tài năng này cũng cần được Thiên Chúa tác động
d)
Các tài năng thực hành của thánh ký không tham gia làm ra sách: về tâm lý có tưởng tượng, trí nhớ, về sinh lý có thần kinh hệ. Thiên Chúa là nguyên nhân chính thì các tài năng này cũng cần được Thiên Chúa tác động
26.
Kể tên các nghĩa của Thánh Kinh và tóm tắt khái niệm các nghĩa của Thánh Kinh
a)
Nghĩa văn tự: là nghĩa đã được các tác giả loài người được linh hứng diễn tả trực tiếp ra. Vì là kết quả của ơn linh hứng, nghĩa này cũng là nghĩa Thiên Chúa, tác giả chính muốn nói
b)
Nghĩa thiêng liêng: Hiểu theo đức tin Kitô giáo, là nghĩa được các bản văn Thánh Kinh diễn tả, khi người ta đọc các bản văn đó dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần, trong bối cảnh mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô và đời sống mới phát xuất từ mầu nhiệm đó. Bối cảnh này có thật. Tân Ước nhìn nhận các lời Sách Thánh được hoàn tất trong bối cảnh đó. Như thế việc đọc lại Sách Thánh dưới ánh sáng của bối cảnh mới này, tức là bối cảnh của đời sống trong Thánh Thần, là điều bình thường
c)
“Nghĩa sung mãn” được định nghĩa là một ý nghĩa sâu xa hơn của bản văn, do Thiên Chúa muốn, nhưng không được tác giả loài người diễn tả rõ ràng. Người ta khám phá ra nghĩa này trong một bản văn Thánh Kinh khi nghiên cứu bản văn này dưới ánh sáng của những bản văn Thánh Kinh khác đã sử dụng bản văn ấy hoạc dựa vào mối liên hệ vảu nó với việc phát triển nội tại của mặc khải
d)
Nghĩa văn tự: là nghĩa đã được các tác giả loài người trực tiếp viết ra. Vì là kết quả của ơn linh hứng, nghĩa này cũng là nghĩa Thiên Chúa, tác giả chính muốn nói
27.
Thánh Kinh có sai lầm không
a)
Công đồng Vaticanô II khẳng định “Vì tất cả những gì các tác giả được linh hứng, cũng gọi là thánh sử, đã viết ra, phải được xem là những điều được xác quyết bởi Chúa Thánh Thần, nên phải tuyên nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm về chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại để cứu độ chúng ta.” (DV 11).
b)
Công đồng Ephesus khẳng định “Vì tất cả những gì các tác giả được linh hứng, cũng gọi là thánh sử, đã viết ra, phải được xem là những điều được xác quyết bởi Chúa Thánh Thần, nên phải tuyên nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm về chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại để cứu độ chúng ta.” (DV 11).
c)
Công đồng Lateran II khẳng định “Vì tất cả những gì các tác giả được linh hứng, cũng gọi là thánh sử, đã viết ra, phải được xem là những điều được xác quyết bởi Chúa Thánh Thần, nên phải tuyên nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm về chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại để cứu độ chúng ta.” (DV 11).
d)
Công đồng Florence khẳng định “Vì tất cả những gì các tác giả được linh hứng, cũng gọi là thánh sử, đã viết ra, phải được xem là những điều được xác quyết bởi Chúa Thánh Thần, nên phải tuyên nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm về chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại để cứu độ chúng ta.” (DV 11).
28.
Thông điệp Providentissimus Deus lập lại một lời thánh Giêrônimô quả quyết rằng : nếu có một câu Kinh Thánh xem chừng mâu thuẫn với chân lý (khách quan) thì chỉ có thể có ba cách cắt nghĩa
a)
một là do việc sai sót khi lưu truyền bản văn
b)
hai là dịch sai
c)
ba là người cắt nghĩa giải thích sai
29.
Thông điệp Providentissimus Hãy kể tên những lối hay phương pháp phổ biến của nghành chú giải Thánh Kinh
a)
Phương pháp phê bình – lịch sử. Cách giải thích bảo thủ
b)
Các phương pháp mới để phân tích văn chương
1.Phân tích tu từ học
2.Phân tích thuật truyện
3.Phân tích ký hiệu
c)
Những lối tiếp cận đặt căn bản trênTruyền thống
1.Lối tiếp cận thư qui
2.Lối tiếp cận dựa vào những truyền thống giải thích của Do-thái
3.Lối tiếp cận nhờ lịch sự hiệu quả của bản văn
d)
Những lối tiếp cận nhờ các khoa học nhân văn
1.Lối tiếp cận theo xã hội học
2.Lối tiếp cận tâm lý và phân tâm
e)
Những lối tiếp cận theo bối cảnh
1.Lối tiếp cận theo thần học giải phóng
2.Lối tiếp cận đề cao quyền phụ nữ
30.
Đâu là những nguyên tắc căn bản cho nhà chú giải công giáo khi giải thích Thánh Kinh
a)
nội dung và sự duy nhất của toàn thể Thánh Kinh
b)
dựa trên Truyền Thống sống động của toàn thể Giáo Hội
c)
sự suy loại đức tin
d)
sự phán quyết của Giáo Hội
e)
Sự xác nhận của các thánh tông đồ
31.
Đọc và giải thích Thánh Kinh theo lối Thư qui nghĩa là gì
a)
Lối tiếp cận “thư qui”, ra đời ở Hoa Kỳ được chừng hai mươi năm nay, có ý đưa nhiệm vụ thần học trong việc giải thích đến kết quả mỹ mãn hơn, khởi đi từ khung cảnh minh bạch của đức tin : Kinh Thánh xét như toàn thể
b)
Sách Thánh được linh hứng chính là Sách Thánh như Hội Thánh đã nhận làm qui luật cho đức tin của mình
c)
Một cuốn sách chỉ gọi là Kinh Thánh căn cứ vào toàn thể Thư Qui
32.
CÁCH GIẢI THÍCH BẢO THỦ (FONDAMENTALISTE) là gì ?
a)
Cách giải thích bảo thủ khởi đi từ nguyên tắc cho rằng Kinh Thánh vì là Lời Thiên Chúa, đã được linh hứng và không vướng sai lầm, nên phải được đọc và giải thích sát chữ trong mọi chi tiết. Nhưng “giải thích sát chữ” ở đây hiểu là một cách giải thích sơ đẳng, cứ chữ, nghĩa là loại bỏ bất kỳ cố gắng nào nhằm hiểu Kinh Thánh mà có để ý đến nguồn gốc lịch sử và sự phát triển của Kinh Thánh. Như thế, lối giải thích này đi ngược lại việc sử dụng phương pháp phê bình- lịch sử, cũng như bất kỳ phương pháp khoa học nào nhằm giải thích Kinh Thánh
b)
Cách giải thích bảo thủ khởi đi từ nguyên tắc cho rằng Kinh Thánh không vướng sai lầm, nên phải được đọc và giải thích sát chữ trong mọi chi tiết. Nhưng “giải thích sát chữ” ở đây hiểu là một cách giải thích sơ đẳng, cứ chữ, nghĩa là loại bỏ bất kỳ cố gắng nào nhằm hiểu Kinh Thánh mà có để ý đến nguồn gốc lịch sử và sự phát triển của Kinh Thánh. Như thế, lối giải thích này đi ngược lại việc sử dụng phương pháp phê bình- lịch sử, cũng như bất kỳ phương pháp khoa học nào nhằm giải thích Kinh Thánh
c)
Cách giải thích bảo thủ khởi đi từ nguyên tắc cho rằng Kinh Thánh vì là Lời Thiên Chúa, đã được linh hứng và không vướng sai lầm, nên phải được đọc và giải thích sát chữ. Nhưng “giải thích sát chữ” ở đây hiểu là một cách giải thích sơ đẳng, cứ chữ, nghĩa là loại bỏ bất kỳ cố gắng nào nhằm hiểu Kinh Thánh mà có để ý đến nguồn gốc lịch sử và sự phát triển của Kinh Thánh. Như thế, lối giải thích này đi ngược lại việc sử dụng phương pháp phê bình- lịch sử, cũng như bất kỳ phương pháp khoa học nào nhằm giải thích Kinh Thánh
d)
Cách giải thích bảo thủ khởi đi từ nguyên tắc cho rằng Kinh Thánh vì là Lời Thiên Chúa, đã được linh hứng và không vướng sai lầm, nên phải được đọc và giải thích sát chữ trong mọi chi tiết. Nhưng “giải thích sát chữ” ở đây hiểu là một cách giải thích sơ đẳng, cứ chữ, nghĩa là loại bỏ bất kỳ cố gắng nào nhằm hiểu Kinh Thánh mà có để ý đến nguồn gốc lịch sử và sự phát triển của Kinh Thánh. Như thế, lối giải thích này đi ngược lại việc sử dụng phương pháp phê bình- lịch sử, cũng như bất kỳ phương pháp khoa học nào nhằm giải thích Lời Chúa
33.
Sola scriptura: Scriptura sui ipsius interpres nghĩa là gì ?
a)
Sách Thánh tự giải thích cho chính nó. Lời Chúa chứa đựng trong Thánh Kinh, vô chú giải và vô Truyền Thống. Luterô loại bỏ tất cả những trung gian có tính con người giữa Thánh Kinh và người đọc. Thánh Thần hoạt động ở trong Thánh Kính chứ không phải ở ngoài Thánh Kinh. Điều này dẫn đến sự phân tách giữa Thánh Kinh và Truyền Thống, Huấn Quyền
b)
Các lời kinh phụng vụ tự giải thích cho chính nó. Lời Chúa chứa đựng trong Thánh Kinh, vô chú giải và vô Truyền Thống. Luterô loại bỏ tất cả những trung gian có tính con người giữa Thánh Kinh và người đọc. Thánh Thần hoạt động ở trong Thánh Kính chứ không phải ở ngoài Thánh Kinh. Điều này dẫn đến sự phân tách giữa Thánh Kinh và Truyền Thống, Huấn Quyền
c)
Sách Thánh tự giải thích cho chính nó. Lời Chúa chứa đựng trong Thánh Kinh, vô chú giải và vô Truyền Thống. Martin luther kingloại bỏ tất cả những trung gian có tính con người giữa Thánh Kinh và người đọc. Thánh Thần hoạt động ở trong Thánh Kính chứ không phải ở ngoài Thánh Kinh. Điều này dẫn đến sự phân tách giữa Thánh Kinh và Truyền Thống, Huấn Quyền
d)
Sách Thánh tự giải thích cho chính nó. Lời Chúa chứa đựng trong Thánh Kinh, vô chú giải và vô Truyền Thống. Luterô loại bỏ tất cả những trung gian có tính con người giữa Thánh Kinh và người đọc. Thánh Thần hoạt động ở trong Thánh Kính chứ không phải ở ngoài Thánh Kinh.
34.
Tính thống nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước ?
a)
Ngay từ thời các tông đồ ( x. 1Cr 10,6.11; Dt 10,1; 1Pr 3,21) và trong suốt truyền thống của mình, Hội Thánh đã soi sáng tính thống nhất của ý định Thiên Chúa trong cả hai Giao ước, nhờ khoa tiên trưng. Khoa này nhận ra, trong các công trình của Thiên Chúa dưới thời Cựu ước, những "hình ảnh báo trước" điều Thiên Chúa sẽ hoàn thành trong thời viên mãn, nơi Ngôi Lời nhập thể . (GLHTCG 128)
b)
Ngay từ thời ông Mô sê ( x. 1Cr 10,6.11; Dt 10,1; 1Pr 3,21) và trong suốt truyền thống của mình, Hội Thánh đã soi sáng tính thống nhất của ý định Thiên Chúa trong cả hai Giao ước, nhờ khoa tiên trưng. Khoa này nhận ra, trong các công trình của Thiên Chúa dưới thời Cựu ước, những "hình ảnh báo trước" điều Thiên Chúa sẽ hoàn thành trong thời viên mãn, nơi Ngôi Lời nhập thể . (GLHTCG 128)
c)
Ngay từ thời các Giô suê ( x. 1Cr 10,6.11; Dt 10,1; 1Pr 3,21) và trong suốt truyền thống của mình, Hội Thánh đã soi sáng tính thống nhất của ý định Thiên Chúa trong cả hai Giao ước, nhờ khoa tiên trưng. Khoa này nhận ra, trong các công trình của Thiên Chúa dưới thời Cựu ước, những "hình ảnh báo trước" điều Thiên Chúa sẽ hoàn thành trong thời viên mãn, nơi Ngôi Lời nhập thể . (GLHTCG 128)
d)
Ngay từ thời các ngôn sứ ( x. 1Cr 10,6.11; Dt 10,1; 1Pr 3,21) và trong suốt truyền thống của mình, Hội Thánh đã soi sáng tính thống nhất của ý định Thiên Chúa trong cả hai Giao ước, nhờ khoa tiên trưng. Khoa này nhận ra, trong các công trình của Thiên Chúa dưới thời Cựu ước, những "hình ảnh báo trước" điều Thiên Chúa sẽ hoàn thành trong thời viên mãn, nơi Ngôi Lời nhập thể . (GLHTCG 128)
35.
Đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Ki-tô chết và sống lại
a)
Vậy các ki-tô hữu phải đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Ki-tô chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước. Nhưng không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá trị mặc khải riêng, mà chính Chúa Giê-su đã tái khẳng định. (GLHTCG 129)
b)
Vậy mọi người phải đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Ki-tô chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước. Nhưng không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá trị mặc khải riêng, mà chính Chúa Giê-su đã tái khẳng định. (GLHTCG 129)
c)
Vậy mọi người phải đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Ki-tô chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước. Nhưng không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá trị mặc khải riêng, mà chính Chúa Giê-su đã tái khẳng định. (GLHTCG 129)
d)
Vậy người Công giáo trên thế giới phải đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Ki-tô chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước. Nhưng không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá trị mặc khải riêng, mà chính Chúa Giê-su đã tái khẳng định. (GLHTCG 129)
36.
"Novum in Vetere latet et in Novo Vetus patet" là gì ?
a)
Tân Ước trong Cựu Ước, Cựu Ước tỏ lộ trong Tân Ước
b)
Tân Ước ẩn tàng trong Cựu Ước, Cựu Ước tỏ lộ trong Tân Ước
c)
Tân Ước nấp trong Cựu Ước, Cựu Ước tỏ lộ trong Tân Ước
d)
Tân Ước ẩn tàng trong Cựu Ước, Cựu Ước trong Tân Ước
37.
THÁNH KINH TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI
a)
Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh : nhất là trong phụng vụ thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô mà trao ban cho các tín hữu. (Dei Verbum, n.21)
b)
Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như tôn kính chính Thánh Thể Chúa: Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô mà trao ban cho các tín hữu. (Dei Verbum, n.21)
c)
Giáo Hội luôn nhìn nhận Thánh Kinh như tôn kính chính Thánh Thể Chúa: nhất là trong phụng vụ thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô mà trao ban cho các tín hữu. (Dei Verbum, n.21)
d)
Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như tôn kính chính Thánh Thể Chúa: nhất là trong phụng vụ thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô mà trao ban cho các tín hữu. (Dei Verbum, n.21)
38.
THÁNH KINH TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI (tiếp)
a)
Giáo Hội đã và vẫn luôn luôn coi Thánh Kinh cùng với Thánh Truyền như là quy luật tối cao cho đức tin của mình, bởi vì Thánh Kinh, được Thiên Chúa linh ứng và được ghi chép một lần cho mãi mãi, truyền đạt Lời của chính Thiên Chúa cách bất di bất dịch và làm vang dội tiếng Chúa Thánh Thần trong lời của các Ngôn sứ và các Tông đồ. Vì vậy, toàn thể công việc rao giảng trong Giáo Hội cũng như chính đạo Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn. (DV 21)
b)
Bởi vì Thánh Kinh, được Thiên Chúa linh ứng và được ghi chép một lần cho mãi mãi, truyền đạt Lời của chính Thiên Chúa cách bất di bất dịch và làm vang dội tiếng Chúa Thánh Thần trong lời của các Ngôn sứ và các Tông đồ. Vì vậy, toàn thể công việc rao giảng trong Giáo Hội cũng như chính đạo Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn. (DV 21)
c)
Giáo Hội đã và vẫn luôn luôn coi Thánh Kinh cùng với Thánh Truyền như là quy luật tối cao cho đức tin của mình, bởi vì Thánh Kinh, được Thiên Chúa linh ứng và được ghi chép một lần cho mãi mãi, truyền đạt Lời của chính Thiên Chúa cách bất di bất dịch và làm vang dội tiếng Chúa Thánh Thần trong lời của các Ngôn sứ và các Tông đồ.
d)
Giáo Hội đã coi Thánh Kinh cùng với Thánh Truyền như là quy luật tối cao cho đức tin của mình, bởi vì Thánh Kinh, được Thiên Chúa linh ứng và được ghi chép một lần cho mãi mãi, truyền đạt Lời của chính Thiên Chúa cách bất di bất dịch và làm vang dội tiếng Chúa Thánh Thần trong lời của các Ngôn sứ và các Tông đồ. Vì vậy, toàn thể công việc rao giảng trong Giáo Hội cũng như chính đạo Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn. (DV 21)
39.
4 Bước Cầu Nguyện của Lectio Divina
a)
4 Bước Cầu Nguyện của Lectio Divina:
1.Lectio (Đọc)
2.Meditatio (Suy Niệm)
3.Oratio (Cầu Nguyện)
4.Contemplatio (Chiêm Niệm)
b)
4 Bước Cầu Nguyện của Lectio Divina:
1.Lectio (Đọc)
2.Oratio (Cầu Nguyện)
3.Contemplatio (Chiêm Niệm)
4.Meditatio (Suy Niệm)
c)
4 Bước Cầu Nguyện của Lectio Divina:
1.Lectio (Đọc)
2.Meditatio (Suy Niệm)
3.Contemplatio (Chiêm Niệm)
4.Oratio (Cầu Nguyện)
d)
4 Bước Cầu Nguyện của Lectio Divina:
1.Lectio (Đọc)
2.Contemplatio (Chiêm Niệm)
3.Meditatio (Suy Niệm)
4.Oratio (Cầu Nguyện)
100 %
