Font size
WorksheetsSử Vip
Total questions: 156
Worksheet time: 56mins
Tại hội nghị Yalta (2/1945), các cường quốc đã thỏa thuận thành lập tổ chức nào sau đây nhằm duy trì hòa bình, an ninh thế giới?
A. Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương.
B. Tổ chức Warszawa.
C. Tổ chức Liên hợp quốc.
D. Tổ chức Liên minh châu Âu
Câu 8. Tổ chức Liên hợp quốc đề ra nguyên tắc “Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình” nhằm mục đích
A. duy trì hòa bình an ninh tạo nên sự ổn định trật tự hai cực.
B. tránh xung đột vũ trang gây nên chiến tranh thế giới thứ ba.
C. tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của các quốc gia
D. hạn chế xung đột vũ trang, duy trì hòa bình, an ninh thế giới.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
1. Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia
thành viên;
2. Tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc đều phải làm tròn những nghĩa vụ mà họ phải
đảm nhận theo Hiến chương này để được đảm bảo hưởng toàn bộ các quyền và ưu đãi do tư cách
thành viên mà có;
3. Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng
biện pháp hoà bình, sao cho không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý;
Trích Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc, ngày 24/10/1945
Mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc là các thành viên phải làm tròn nghĩa vụ đối với tổ chức
Đúng
Sai
Một trong những nguyên tắc của Liên hiệp quốc là các thành viên phải thực hiện nghĩa vụ theo
đúng Hiến chương.
Đúng
Sai
Hiến chương Liên hợp quốc đã ngăn chặn mọi xung đột của các thành viên tham gia tổ chức
Đúng
Sai
Liên hợp quốc đã có nguyên tắc hoạt động chặt chẽ những thế giới vẫn xẩy ra xung đột, chiến
tranh
Đúng
Sai
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Liên hợp quốc đã thành công trong việc thúc đẩy quá trình phi thực dân hóa. Hiến chương
Liên hợp quốc ngay từ đầu đã đề ra những nguyên tắc định hướng cho những nỗ lực phi thực dân
hóa, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc và thành lập Hội đồng Quản
thác để theo dõi các vùng lãnh thổ không tự quản. Năm 1960, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông
qua Tuyên bố về việc trao độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa, năm 1962 thành lập Ủy
ban đặc biệt về Phi thực dân hóa để giám sát việc thực hiện. Chính những nỗ lực phi thực dân hóa
này đã làm thay đổi Liên hợp quốc với sự gia tăng đáng kể số lượng thành viên từ 51 nước ban đầu
lên 193 nước hiện nay.
Liên hợp quốc đã đưa ra những văn kiện quan trọng nhằm thủ tiêu hệ thống thuộc địa của chủ
nghĩa thực dân trên thế giới
Đúng
Sai
Tuyên bố về trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa của Liên hợp quốc đã chấm
dứt sự tồn tại của chủ nghĩa thực dân.
Đúng
Sai
Lực lượng gìn giữ hòa bình đã giúp đỡ Liên hợp quốc thực thi nhiệm vụ bảo vệ nền hòa bình ở
các nước thuộc địa
Đúng
Sai
Tuyên bố về trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa thể hiện vai trò của Liên hợp
quốc vì sự tiến bộ của nhân loại
Đúng
Sai
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Hơn 40 năm đối đầu trong Chiến tranh Lạnh, giữa Mỹ và Liên Xô diễn ra nhiều cuộc chạy đua
vũ trang lớn, trong đó có cả vũ khí huỷ diệt hàng loạt. Đã có không ít lần hai siêu cường này định
dùng vũ khí hạt nhân để tấn công phủ đầu đối thủ như: đối đầu tại Berlin năm 1961; khủng hoảng
tên lửa Cuba năm 1962; xung đột tại Trung Đông năm 1973; cuộc diễn tập của NATO năm 1983
Xung đột giữa hai bên trong thời kì Chiến tranh lạnh dẫn đến nguy cơ chiến tranh hạt nhân có thể
nổ ra giữa hai siêu cường. Cho đến nay, công chúng vẫn chưa rõ phép màu nào đã “xuất hiện” và
“giải cứu thế giới”.
Cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba đã đưa hai siêu cường bước qua lằn ranh của xung đột hạt nhân
Đúng
Sai
Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Liên Xô – Mỹ chạy đua vũ trang, duy trì sự đối đầu quân sự, vũ
khí hiện đại đặc biệt là vũ khí hạt nhân
Đúng
Sai
Các cuộc chiến tranh cục bộ và xung đột khu vực chủ yếu gây ra thiệt hại cho Liên Xô, Mỹ
Đúng
Sai
Chiến tranh lạnh là cuộc chiến tranh không nổ súng nhưng luôn gây tình trạng căng thẳng, đặt thế
giới bên miệng hố chiến tranh.
Đúng
Sai
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“ASEAN được thành lập ngày 8/8/1967 thông qua Tuyên bố Bangkok, với 5 thành viên ban đầu
gồm Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan. ASEAN được thành lập nhằm thúc
đẩy hợp tác kinh tế, văn hóa - xã hội giữa các thành viên của Hiệp hội, đồng thời tạo điều kiện để
các nước thành viên hội nhập sâu hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới.
…Việc Campuchia gia nhập vào ngày 30/4/1999, đã hiện thực hóa ý tưởng quy tụ đủ 10 nước
Đông Nam Á dưới “mái nhà chung ASEAN”. ASEAN gồm 10 nước thành viên với sự đa dạng về
chế độ chính trị, văn hóa, ngôn ngữ, trình độ phát triển, gắn kết với nhau vì mục tiêu chung, hướng
đến người dân và lấy người dân làm trung tâm, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu
vực và trên thế giới…”
Ngày 30/4/1999 khi Campuchia gia nhập, ASEAN trở thành tổ chức “toàn Đông Nam Á” .
Đúng
Sai
Điều kiện tiên quyết nhất đưa đến sự thành lập tổ chức ASEAN năm 1967 là các quốc gia thành
viên đều có nền kinh tế phát triển
Đúng
Sai
Việc mở rộng thành viên của tổ chức ASEAN diễn ra lâu dài và đầy trở ngại
Đúng
Sai
Sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 chứng tỏ sự khác biệt về ý thức hệ không là rào
cản hợp tác kinh tế.
Đúng
Sai
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“…Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN vào năm 2025 của chúng ta sẽ là một cộng đồng
đoàn kết, dung nạp và tự cường…ASEAN sẽ luôn gắn kết, có khả năng ứng phó và vai trò thích hợp
trong xử lý các thách thức đối với hòa bình và an ninh ở khu vực, cũng như đóng vai trò trung tâm
trong việc định hình cấu trúc an ninh khu vực, đồng thời làm sâu sắc quan hệ với các đối tác bên
ngoài và cùng đóng góp vào hòa bình, an ninh và ổn định toàn cầu…Một cộng đồng vì lợi ích phát
triển quan hệ hữu nghị và cùng có lợi, làm sâu sắc quan hệ hợp tác với các bên, đối thoại, tăng
cường quan hệ với các đối tác bên ngoài khác và mở rộng tới các đối tác tiềm năng, cũng như cùng
ứng phó một cách xây dựng trước các diễn biến và các vấn đề toàn cầu thuộc quan tâm chung…”.
Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN là một trong ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN
Đúng
Sai
Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN là một cộng đồng đoàn kết, khép kín và tự cường
Đúng
Sai
Thống nhất về thể chế chính trị, làm sâu sắc quan hệ hợp tác giữa các nước thành viên là vai trò
của Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN
Đúng
Sai
Tăng cường quan hệ với các đối tác bên ngoài, cùng ứng phó trước các diễn biến và các vấn đề
toàn cầu là mục tiêu trong tương lai của Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN
Đúng
Sai
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Mục đích của
nó là làm cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách đế quốc, làm cho nước Việt Nam thành một nước
độc lập, tự do. Song, vì nó chống phát xít Nhật và bọn phong kiến phản động, tay sai của phát xít
Nhật và nó là một bộ phận của cuộc chiến đấu vĩ đại của các lực lượng dân chủ, tiến bộ thế giới
chống phát xít xâm lược, nên nó cũng có tính chất dân chủ…”.
Mục đích của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là giành độc lập, tự do cho Việt Nam
Đúng
Sai
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã lật đổ ách thống trị của đế quốc, phát xít và khôi phục lại chế
độ phong kiến
Đúng
Sai
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã góp phần vào chiến thắng phát xít của phe Đồng minh và
hoàn thành nhiệm vụ dân tộc, dân chủ.
Đúng
Sai
Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam và Cách mạng tháng Mười năm 1917 ở Nga đều là
các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đúng
Sai
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, Chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng Chúng ta càng nhân nhượng, thực
dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ...”.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời nhằm kêu gọi nhân dân Việt
Nam kháng chiến chống Mỹ
Đúng
sai
Lời kêu gọi thể hiện quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập tự do của Nhân dân Việt Nam
Đúng
Sai
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến thể hiện thiện chí hòa bình của Nhân dân Việt Nam
Đúng
Sai
Trong việc giải quyết các vấn đề xung đột hiện nay, Việt Nam cần vận dụng biện pháp giải quyết
bằng con đường hòa bình
Đúng
Sai
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược
Điện Biên Phủ đã đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đi đến thắng lợi
hoàn toàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng
vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào
giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. Thắng lợi đó được bắt
nguồn từ truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, từ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân,
chiến đấu với ý chí quyết chiến, quyết thắng vì độc lập, tự do của Tổ quốc; đánh dấu thành công
xuất sắc trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng....”.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
Đúng
Sai
Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) là dấu mốc kết thúc của cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp (1945 - 1954).
Đúng
Sai
Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) tác động mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc ở châu
Á, châu Âu và Mĩ Latinh
Đúng
Sai
Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) là nhân tố quan trọng góp phần thắng lợi trong công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước hiện nay.
Đúng
Sai
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“....Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành
chính quyền về tay nhân dân…Con đường đó lấy sức mạnh quần của chúng, dựa vào lực lượng
chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ chính quyền thống
trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1959) ra đời trong bối cảnh
cách mạng miền Nam Việt Nam đấu tranh chống Mỹ - Diệm
Đúng
Sai
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1959) đánh dấu cách mạng
miền Nam Việt Nam chuyển sang hình thức đấu tranh chính trị hòa bình.
Đúng
Sai
Quần chúng nhân dân là động lực chủ yếu đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).
Đúng
Sai
Vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Đúng
Sai
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Ngày 6/4/1972, Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ
hai ra miền Bắc với quy mô lớn hơn, tính chất ác liệt, tàn bạo hơn nhiều so với cuộc chiến tranh
phá hoại lần thứ nhất…Sau 12 ngày đêm anh dũng chiến đấu (từ ngày 18/12 đến 29/12/1972), quân
và dân Thủ đô cùng các địa phương khác của miền Bắc đã đập tan dã tâm của địch. Cuộc tập kích
đường không của Mỹ đã bị thiệt hại tới 81 máy bay, trong đó có 34 B-52. Riêng Hà Nội bắn rơi 25
B-52. Đây thực sự là một chiến công mang tầm vóc thời đại, một trận “Điện Biên Phủ trên bầu trời
Hà Nội” buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấp nhận rút quân Mỹ và quân đồng
minh của Mỹ ra khỏi miền Nam, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới ở Việt
Nam…”.
Thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” diễn ra trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc
lần thứ nhất của Mỹ
Đúng
Sai
Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam vì muốn nhanh chóng kết thúc chiến tranh
Đúng
Sai
Trong hai lần tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, Mỹ đều bị tổn thất nặng nề.
Đúng
Sai
Hiệp định Paris (1973) là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ,
cứu nước.
Đúng
Sai
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một
biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và
đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc
tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân Việt Nam (1954 - 1975) là sự kiện chỉ
mang tính dân tộc
Đúng
Sai
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam (1954 - 1975) có tác động to
lớn đến thế giới, làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới
Đúng
Sai
Thắng lợi của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) cho thấy
nhân tố con người giữ vai trò quyết định
Đúng
Sai
Một trong những bài học kinh nghiệm của Việt Nam sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
(1954 - 1975) là cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Đúng
SAI
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Khối đại đoàn kết toàn dân tuy có phạm vi rộng rãi nhưng lại được tổ chức một cách có hệ
thống để phối hợp hành động, do đó sức mạnh của đoàn kết toàn dân được tăng lên gấp bội. Cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc đã được toàn dân tiến hành một cách có tổ chức... nên dù trải qua
nhiều hi sinh, gian khổ lâu dài nhưng cuối cùng đã giành được thắng lợi”
Khối đại đoàn kết toàn dân là bao gồm toàn bộ người dân Việt Nam trong một khối thống nhất
đÚNG
Sai
Đoàn kết toàn dân chỉ tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc Việt Nam trong các cuộc kháng chiến
bảo vệ Tổ quốc.
Đúng
Sai
Khối đại đoàn kết dân tộc đóng vai trò nền tảng tạo nên sức mạnh tổng hợp, là nhân tố quyết định
thắng lợi trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc
Đúng
Sai
Khối đại đoàn kết dân tộc đóng vai trò nền tảng tạo nên sức mạnh tổng hợp, là nhân tố quyết định
thắng lợi trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc
Đúng
Sai
