Worksheetsđịa cái lmm
Total questions: 15
Worksheet time: 11mins
Ố LƯỢNG TRÂU CỦA VÙNG TRUNG DU MIỀN NÚI BẮC BỘ VÀ CẢ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2018 – 2021 (Đơn vị: Nghìn con)
Năm2018201920202021Trung du và miền núi phía Bắc1391,21332,41293,91245,3Cả nước2486,92388,82332,82262,9
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2022)
Vùng nuôi nhiều trâu vì phù hợp với điều kiện khí hậu.
Đàn trâu có xu hướng tăng liên tục.
Giải pháp chủ yếu phát triển nuôi trâu theo hướng sản xuất hàng hóa là phát triển vùng chăn nuôi tập trung, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong chăn nuôi.
Đàn trâu của vùng chiếm tỉ lệ cao trong cả nước.
Các khu công nghiệp đã có những đóng góp tích cực vào thành tựu tăng trưởng và phát triển của Việt Nam, thông qua việc thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; khơi dậy và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, bổ sung nguồn vốn quan trọng trong tổng vốn đầu tư xã hội; gia tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần mở rộng thị trường quốc tế, thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu; đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách và tạo việc làm
ác khu công nghiệp được xây dựng ở những khu vực có vị trí thuận lợi nhằm thu hút lao động, thuận lợi tiêu thụ hàng hóa.
Vai trò quan trọng về mặt xã hội của các khu công nghiệp đối với nước ta là giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Ý nghĩa của việc phát triển các khu công nghiệp là đẩy nhanh đô thị hóa, phân bố lại dân cư.
Việc hình thành các khu công nghiệp ở nước ta với mục đích chủ yếu là thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
ao tốc Bắc - Nam có vai trò rất quan trọng, là trục xương sống, hành lang kinh tế - vận tải huyết mạch của đất nước. Để tạo ra động lực đột phá, phát huy được tiềm năng, lợi thế các địa phương trên hành lang này, tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông đã được quy hoạch với tổng chiều dài 2.063 km từ Cửa khẩu Hữu Nghị - Lạng Sơn đến Cà Mau đi qua 32 tỉnh, thành phố.
chi phí logistics tăng
góp phần phát triển kinh tế xã hội phần lãnh thổ phía Tây đất nước phát triển.
góp phần mở ra không gian phát triển mới, thu hút đầu tư.
tạo công ăn, việc làm, góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dâ
Thương mại có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là khâu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Thương mại bao gồm nhiều hoạt động phức tạp và diễn ra trong phạm vi lãnh thổ rộng lớn, được chia thành thương mại nội địa ( còn gọi là nội thương ) và thương mại quốc tế ( ngoại thương ).
Thị trường trong nước của Việt Nam lớn chủ yếu do dân số đông, nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ lớn.
Cùng với xu thế hội nhập, ngành ngoại thương ngày càng phát triển mạnh mẽ, giá trị sản xuất tăng.
Hoạt động nội thương ở nước ta xuất hiện từ lâu đời nhưng phát triển mạnh từ sau đổi mới.
Thị trường quốc tế của nước ta được mở rộng chủ yếu do nhu cầu của thế giới với các mặt hàng của nước ta tăng.
Hoạt động nội thương có vai trò thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ, thống nhất thị trường trong nước, thúc đẩy sự phân công lao động giữa các vùng,...
Tổng mức bản lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của nước ta tăng nhanh và liên tục qua các năm do chất lượng cuộc sống tăng, sản xuất phát triển.
Sau Đổi mới, nước ta đã hình thành được thị trường thống nhất, hàng hóa đa dạng, phong phú.
Những chuyển biến tích cực của ngành nội thương chủ yếu do chính sách Nhà nước, phát triển sản xuất, nâng chất lượng sống.
hị trường trong nước phân bố khá đồng đều chủ yếu do việc đẩy mạnh các vùng sản xuất hàng hóa, từ đó thúc đẩy trao đổi hàng hóa.
ơ cấu nguồn điện ở nước ta gồm: thuỷ điện, nhiệt điện (than, khí, dầu), điện mặt trời, điện gió và nguồn khác. Các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, thông minh được ứng dụng hiệu quả trong sản xuất, vận hành, quản lí hệ thống lưới điện,..
Nhiều công nghệ hiện đại đã được áp dụng trong việc phát triển nguồn năng lượng mới, đa dạng nguồn cung, đáp ứng nhu cầu, đảm bảo an ninh năng lượng.
Mạng lưới điện của nước ta ngày càng hoàn thiện hơn với việc phát triển hệ thống trạm điện và lưới điện.
cơ cấu nguồn điện nước ta đa dạng với cả nguồn năng lượng hóa thạch và nguồn năng lượng tái tạo.
rong cơ cấu giá trị sản xuất điện, thủy điện là ngành lâu đời và vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất.
Mạng lưới đường thủy nội địa nước ta phát triển và phân bố chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, một số tuyến ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên.
Vận tải đường thủy nội địa gặp khó khăn chủ yếu là chế độ nước theo mùa và hiện tượng sa bồi dòng chảy, luồng lạch.
Do có điều kiện thuận lợi về hệ thống sông, địa hình, khí hậu nên vận tải đường sông dày đặc khắp cả nước.
Ở miền núi, việc phát triển vận tải đường sông không thuận lợi chủ yếu do địa hình dốc, dòng chảy hẹp, lượng nước ít.
Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, nhiều hệ thống sông lớn thuận lợi để phát triển giao thông đường thủy.
Ngoại thương bao gồm hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu, được phát triển mạnh ở nước ta trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Cơ cấu hàng xuất, nhập khẩu của nước ta đang chuyển dịch theo chiều sâu: tăng tỉ trọng xuất khẩu các mặt hàng chế biến sâu, có hàm lượng khoa học và giá trị gia tăng cao; tăng tỉ trọng nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại từ các nước có nền kinh tế phát triển.
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của nước ta là EU.
hoạt động xuất khẩu thúc đẩy sự phân công lao động theo lãnh thổ.
cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu ít có sự chuyển dịch.
Giá trị nhập khẩu nước ta tăng liên tục.
Sau năm 1975, Khu kỹ nghệ Biên Hòa được đổi tên thành Khu công nghiệp Biên Hòa 1. Là khu công nghiệp đầu tiên của cả nước, nơi đây được xem là “cái nôi” về phát triển công nghiệp với nhiều doanh nghiệp tên tuổi lâu đời trong lĩnh vực công nghiệp của cả nước.
Hình thức khu công nghiệp hiện nay đã được xây dựng ở khắp các vùng kinh tế của nước ta.
Đông Nam Bộ dẫn đầu cả nước về số lượng các khu công nghiệp chủ yếu do nền kinh tế phát triển năng động, đi đầu trong quá trình công nghiệp hóa.
Các hình thức phát triển khu công nghiệp có sự thay đổi đáp ứng nhu cầu hội nhập của nền kinh tế đất nước.
Ở các vùng núi, việc hình thành các khu công nghiệp mang lại ý nghĩa quan trọng về kinh tế, tăng trưởng kinh tế cao, tạo hàng xuất khẩu lớn.
Hoạt động du lịch nước ta phát triển nhanh từ thập niên 90 của thế kỉ XX đến nay. Du lịch trở thành một nhu cầu trong đời sống văn hóa - xã hội của người dân. Tài nguyên du lịch phong phú là cơ sở tạo nên các sản phẩm du lịch khác nhau giữa các vùng. Số lượt khách và doanh thu du lịch không ngừng tăng; nhiều loại hình du lịch mới ra đời gắn với tăng trưởng xanh.
Xu hướng phát triển du lịch thông minh diễn ra ở nhiều vùng kinh tế của nước ta hiện nay
Các loại hình du lịch sinh thái chỉ tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng.
Hoạt động du lịch ở nước ta hình thành từ năm 1990.
Doanh thu du lịch của nước ta tăng chủ yếu do tài nguyên du lịch tự nhiên rất đa dạng.
Các khu công nghiệp được hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc Đổi mới, mở cửa nền kinh tế của nước ta. Đến năm 2021, cả nước đâ có 397 khu công nghiệp, trong đó 291 khu đang hoạt động; các khu công nghiệp đã thu hút được 8 257 dự án đi vào hoạt động.
Phát triển mạnh các khu công nghiệp có ý nghĩa lớn trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sản xuất hàng xuất khẩu.
Hầu hết các khu công nghiệp của nước ta được xây dựng ở vùng nông thôn và miền núi với mục đích chủ yếu là giải quyết việc làm cho lao động.
Ý nghĩa chủ yếu của các khu công nghệ cao là xây dựng các ngành công nghệ cao, làm động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Số lượng khu công nghiệp nước ta đang tăng lên, tập trung nhiều ở những vùng kinh tế phát triển.
Ngành công nghiệp sản xuất điện ở nước ta được hình thành và bắt đầu phát triển từ lâu, hiện nay có sự tăng trưởng nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu điện năng cho đất nước. Sản lượng điện nước ta tăng mạnh, đến năm 2021 đạt 244,9 tỉ kWh
Mục đích của việc đưa công nghiệp điện đi trước một bước trong phát triển công nghiệp nhằm đảm bảo nguồn năng lượng cho công nghiệp hóa.
Sản lượng điện của nước ta liên tục tăng và đứng đầu trong khu vực Đông Nam Á.
Nhà máy điện đầu tiên ở nước ta là nhà máy điện Sông Cấm do pháp xây dựng năm 1892.
Nguyên nhân chủ yếu khiến sản lượng điện nước ta tăng nhanh là do điều kiện sản xuất thuận lợi, nhu cầu tăng
Các nhà máy thuỷ điện nước ta phân bố gắn liền với những vùng có tiềm năng thuỷ điện lớn như: Hoà Bình (công suất 1 920 MW), Sơn La (2 400 MW), Lai Châu (1200 MW) (ở Trung du và miền núi Bắc Bộ); Ialy (720 MW), Sê San 3 (260 MW), Sê San 4 (360 MW), Đồng Nai 4 (340 MW) (ở Tây Nguyên)...
Trước thời kì đổi mới, thủy điện là nguồn cung cấp điện chủ yếu cho nền kinh tế và đời sống nhân dân.
Nhiều nhà máy thủy điện được xây dựng khắp các vùng ở nước ta chủ yếu do nước ta có tiềm năng lớn.
Ở Tây Nguyên có thể xây dựng nhiều nhà máy thủy điện trên cùng một dòng sông do địa hình cao nguyên lượn sóng ở độ cao lớn.
Nhà máy thủy điện Hòa Bình được xây dựng trên sông Hồng là nhà máy thủy điện đầu tiên ở nước ta.
Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng có diện tích lãnh thổ lớn ở nước ta. Vùng có địa hình đa dạng, phức tạp, gồm các dãy núi cao, điển hình là dãy Hoàng Liên Sơn. Đất fe-ra-lit đỏ vàng chiếm 2/3 diện tích của vùng. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh, phân hóa rõ rệt theo độ cao địa hình. Điều này đã tạo nên thế mạnh để phát triển các ngành kinh tế khác nhau như: trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc lớn…
Vùng có thế mạnh để phát triển cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới.
Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn ở nước ta.
cây chè phát triển mạnh trong vùng chủ yếu do lãnh thổ rộng, diện tích đất fe-ra-lit lớn.
Sự phân hóa địa hình, đất, khí hậu là cơ sở để đa dạng hóa cơ cấu cây công nghiệp.
Trung du miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên là 2 vùng nằm ở địa hình miền núi, có đặc điểm dân số khác nhau. Năm 2021, dân số vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên lần lượt là khoảng 12,9 triệu người và trên 6 triệu người, mật độ dân số trung bình lần lượt là là 136 và 111 người/km2, tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên lần lượt là 1,05% và 1,25%, tỉ trọng nhóm tuổi 15-64 tuổi trong tổng số dân lần lượt là 65,1% và 66,1%.
Số người trong độ tuổi lao động của Tây Nguyên nhiều hơn Trung du và miền núi Bắc Bộ.
Trung du và miền núi Bắc Bộ có mật độ dân số cao hơn là do có diện tích rộng nhất nước.
Số người trong độ tuổi lao động ở Trung du miền núi Bắc Bộ là khoảng 8,4 triệu người.
Số dân của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ cao hơn Tây Nguyên.
