Font size
WorksheetsSỬ GK 2
Total questions: 188
Worksheet time: 31hrs 20mins
Đường lối đổi mới toàn diện và đồng bộ đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành lần đầu tiên được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IV (1976).
lần thứ V (1982).
lần thứ VI (1986).
lần thứ VII (1991).
Trọng tâm của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) là tập trung vào lĩnh vực
chính trị.
kinh tế.
vǎn hoá.
tư tuởng.
Nội dung nào sau đây là đúng về đường lối đổi mới kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ năm 1986 đến nǎm 1995)?
Đổi mới kinh tế phải gắn với tăng cường kiểm soát, kế hoạch hoá.
Đổi mới kinh tế phải gắn với đổi mới chính trị và văn hoá, xã hội.
Đổi mới kinh tế phải đi sau đổi mới chính trị để tránh gây bất ổn.
Đổi mới kinh tế gắn với xây dựng cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá.
Nội dung nào sau đây là đúng về đường lối đổi mới trong hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ năm 1986 đến năm 1995)?
Coi trọng đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại.
Tập trung vào giải quyết quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc.
Coi quan hệ với Liên Xô là “hòn đá tảng” trong đối ngoại.
Chỉ phát triển quan hệ với Nga và nhóm các nước Á - Âu.
Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới về kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1996-2006 là
công nghiệp hoá, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng.
đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
bước đầu xoá bỏ cơ chế quản lí quan liêu và bao cấp.
xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp.
Đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam (1996-2006) có nội dung nào sau đây?
Bước đầu xoá bỏ cơ chế quản lí tập trung, quan liêu, bao cấp.
Ban hành hiến pháp, tăng cường quyền làm chủ của nhân dân.
Chú trọng ngoại giao phá vây, phá thế bị bao vây, bị cấm vận.
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lí kinh tế và chủ động hội nhập.
Trong giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới (1986 - 1995), Việt Nam đạt được thành tựu tiêu biểu nào sau đây về đối ngoại?
Chủ động thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô.
Thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc.
Bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Mỹ.
Chính thức trở thành thành viên của Liên hợp quốc.
Một trong những nội dung của đường lối đổi mới đất nước (từ năm 2006 đến nay) là
chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện và sâu rộng.
ngoại giao phá vây và nỗ lực bước đầu hội nhập kinh tế quốc tế.
đẩy mạnh công nghiệp hoá, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng.
đổi mới kinh tế phải đi sau đổi mới chính trị để tránh gây bất ổn.
Trong quá trình hội nhập quốc tế (từ năm 2006), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đổi mới lĩnh vực nào sau đây là then chốt, trọng tâm?
Chính trị.
An ninh.
Xã hội.
Kinh tế.
Nội dung nào sau đây phản ánh đúng đường lối đổi mới văn hoá ở Việt Nam trong những nǎm 1996-2006?
Xây dựng nền văn hoá với đặc điểm: dân tộc, khoa học, đại chúng.
Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xoá bỏ tàn dư phong kiến, lạc hậu trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng.
Học tập mô hình xây dựng văn hoá của các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong công cuộc Đổi mới đất nước từ năm 2006 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát triển nhận thức về
mô hình kinh tế tập trung và bao cấp.
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
lộ trình, kế hoạch gia nhập ASEAN.
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Trong công cuộc Đổi mới, để gây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, Việt Nam đã coi lĩnh vực nào sau đây là quốc sách hàng đầu?
An ninh.
Giáo dục.
Xã hội.
Kinh tế.
Trong công cuộc Đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986), văn hoá được coi là
nền tảng tinh thần của xã hội.
trọng tâm hàng đầu của chính sách đổi mới
nền tảng chính trị của xã hội.
lĩnh vực thứ yếu trong đổi mới đất nước.
Nhận xét nào sau đây là đúng về công cuộc Đổi mới ở Việt Nam?
Đổi mới hệ thống chính trị là trọng tâm, là ưu tiên số một.
Đổi mới nhưng không thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Đổi mới phải gắn với xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá.
Đổi mới phải gắn với chiến lược ưu tiên công nghiệp nặng.
Một trong những mục tiêu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam (1986- 1995) là
hoàn thành quá trình công nghiệp hoá đất nước.
đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao.
phải hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế.
phải đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng.
Nội dung nào sau đây là đúng về Đổi mới ở Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2006?
Đổi mới gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, thoát khỏi khủng hoảng.
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng.
Bước đầu xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp.
Đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam (từr năm 1986) không có nội dung nào sau đây?
Đổi mới hệ thống chính trị gắn với xây dựng nhà nước pháp quyền.
Chú trọng phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Đổi mới kinh tế phải đi sau đổi mới chính trị và văn hoá xã hội.
Kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lí kinh tế tập trung và quan liêu.
Ý nào sau đây không phải là nội dung đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1986-1995?
Thực hiện chuyển cơ chế tập trung, quan liêu sang cơ chế thị trường.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân.
Đổi mới gắn với đấy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ổn định tình hình kinh tế - xã hội, từng bước thoát khỏi khủng hoảng.
Ý nào sau đây không phải là nội dung đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1996-2006?
Đổi mới gắn với đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Coi giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu.
Tiếp tục phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đẩy lùi lạm phát, từng bước đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng.
Phương án nào sau đây không phải là nội dung đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn từ năm 2006 đến nay?
Kiềm chế lạm phát phi mã, từng bước thoát khỏi khủng hoảng.
Hoàn thiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng.
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức.
Đường lối đổi mới đất nước được Đảng Cộng sản Việt Nam lần đầu đề ra (từ năm 1986) xuất phát từ một trong những cơ sở nào sau đây?
Rút kinh nghiệm từ quá trình cải cách, mở cửa của các nước.
Thành công của Liên Xô trong những năm 80 của thế kỉ XX.
Sự sụp đổ của Trật tự thế giới hai cực I-an-ta và Chiến tranh lạnh kết thúc.
Sự hình thành trật tự đơn cực sau khi Trật tự thế giới hai cực I-an-ta sụp đổ.
Việt Nam bắt đầu công cuộc Đổi mới đất nước trong bối cảnh
đất nước phát triển và có vị thế cao trên trường quốc tế.
đất nước lâm vào tình trạng khó khăn và khủng hoảng.
trật tự thế giới đơn cực do Mỹ đứng đầu được thiết lập.
cuộc đối đầu giữa hai phe, hai cực đang diễn ra căng thẳng.
Nội dung nào sau đây là nguyên nhân căn bản của việc Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành đổi mới đất nước?
Đây là chu kì hoạt động thường xuyên, liên tục của sự phát triển.
Để theo kịp sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật.
Đế tiếp tục thúc đẩy những thành tựu của quá trình hiện đại hoá.
Đổi mới để đáp ứng các yêu cầu gia nhập tổ chức Liên hợp quốc.
Nội dung nào sau đây phản ánh yếu tố chủ quan quyết định Việt Nam phải tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước (từ năm 1986)?
Liên Xô và các nước Đông Âu đạt nhiều thành tựu sau cải tổ.
Xu thế quốc tế hoá đã xuất hiện và ngày càng diễn ra mạnh mẽ.
Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở Việt Nam trở nên trầm trọng.
Do sự đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.
Nội dung nào sau đây phản ánh đúng sự thay đổi trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế thời kì Đổi mới?
Từ hội nhập kinh tế quốc tế sang chủ động, tích cực hội nhập toàn diện và sâu rộng.
Từ phát triển quan hệ đa phương sang tập trung vào các đối tác chiến lược toàn diện.
Từ đa dạng hoá quan hệ đối ngoại sang tập trung phát triển quan hệ với nước lớn.
Từ tập trung vào các nước trong khu vực sang hướng giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Nội dung xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kì Đổi mới là
dựa vào đối ngoại song phương làm nền tảng.
thực hiện đối ngoại hướng vào các nước lớn.
thực hiện đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở.
tập trung vào các đối tác chiến lược toàn diện.
Đường lối đổi mới kinh tế của Việt Nam (từ năm 1986) có nội dung xuyên suốt là
đổi mới gắn với công nghiệp hoá toàn diện đất nước.
đổi mới gắn với hiện đại hoá và kinh tế tri thức.
hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và toàn diện.
đổi mới cơ chế quản lí kinh tế theo hướng hiệu quả.
Từ tháng 12-1986, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đổi mới kinh tế làm trọng tâm vì lí do nào sau đây?
Các thế lực thù địch tập trung tấn công với ý đồ làm sụp đổ nền kinh tế Việt Nam.
Nguồn gốc của tình trạng trì trệ trước Đổi mới là do cơ chế kinh tế không phù hợp.
Đổi mới kinh tế không tác động đến các vấn đề chính trị và an ninh nên cần ưu tiên.
Không thể tiến hành đổi mới chính trị nếu chưa hoàn thành xong đổi mới kinh tế.
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm không xuất phát từ lí do nào sau đây ?
Rút kinh nghiệm từ những sai lầm của Đảng Cộng sản Liên Xô khi cải tổ.
Cần đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của quần chúng nhân dân về đời sống.
Không thể đổi mới các lĩnh vực khác nếu chưa hoàn thành đổi mới kinh tế.
Kinh tế phát triển là cơ sở để tiến hành đổi mới trên những lĩnh vực khác.
Nội dung nào sau đây phản ánh không đúng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị?
Kết hợp đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm.
Đổi mới kinh tế phải đi trước mở đường cho đổi mới chính trị và các lĩnh vực khác.
Đổi mới chính trị là căn bản, quyết định đổi mới kinh tế và tất cả các lĩnh vực xã hội.
Tập trung làm tốt đổi mới kinh tế, đồng thời từng bước đổi mnới hệ thống chính trị.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
"Trong giai đoạn 1986 - 1995, những nhiệm vụ chủ yếu được tập trung theo ba chương trình kinh tế lớn, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hệ thống giá, chống lạm phát, phát triển kinh tế nhiều thành phần, mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng."
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Cánh diều, trang 60)
Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam được tiến hành trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1995.
Trong Đổi mới, Việt Nam phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thay cho bao cấp.
Đến cuối công cuộc Đổi mới, đất nước đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Phát triển, ổn định kinh tế là trọng tâm của công cuộc Đổi mới đất nước ở Việt Nam.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (2021) xác định mục tiêu tổng quát đến giữa thế kỷ XXI đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn là đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao."
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Cánh diều, trang 63)
Một trong những mục tiêu của công cuộc Đổi mới là đưa Việt Nam thành nước phát triển.
Cuối công cuộc Đổi mới, Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển, thu nhập cao.
Trong đổi mới kinh tế, Việt Nam ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp phụ trợ.
Trong đổi mới kinh tế, Việt Nam kiên định phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
"Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về xã hội chủ nghĩa, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp".
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 62)
Tư liệu khẳng định quan điểm nhất quán của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là chiến lược, hình thức, bước đi là sách lược.
Trong công cuộc Đổi mới, chỉ cần thay đổi hình thức, bước đi và biện pháp.
Trong công cuộc Đổi mới, quan niệm về chủ nghĩa xã hội có nhiều thay đổi.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Kiên quyết xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Phát triển kinh tế hàng hóa xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện Ba chương trình kinh tế lớn gồm: Lương thực - Thực phẩm, Hàng tiêu dùng và Hàng xuất khẩu. - Đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, ổn định và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế - xã hội, phấn đấu bắt đầu có tích lũy nội bộ từ nền kinh tế, từng bước đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng khủng hoảng."
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 62).
Tư liệu trên khẳng định chính sách đổi mới toàn diện, đồng bộ của Việt Nam.
Trong ba chương trình kinh tế lớn, cần ưu tiên sản xuất lương thực - thực phẩm.
Trong Đổi mới, cần thay đổi cơ cấu kinh tế và thành phần kinh tế quốc doanh.
Kinh tế Việt Nam sau đổi mới là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới chính trị, văn hóa xã hội, chú trọng nhân tố con người. Xác định khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Đổi mới chính trị phái được tiến hành tích cực và vững chắc, tiến hành đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị theo hướng vừa phát huy quyền làm chủ của người dân, vừa phát huy quyền lực của cơ quan Nhà nước.
- Chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tham gia phân công lao động quốc tế: thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phần đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 62)
Tư liệu trên khẳng định chính sách đổi mới toàn diện, đồng bộ của Việt Nam.
Trọng tâm công cuộc Đổi mới ở Việt Nam là công nghệ, giáo dục và đào tạo.
Trong Đổi mới, cần phát huy yếu tố nội lực và tranh thủ sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Đổi mới hệ thống chính trị gắn liền với thay đổi nội dung và tổ chức hệ thống.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực- thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu...
Ba chương trình mục tiêu là nội dung chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1986- 1990, phải được tập trung cao độ sức người, sức của để thực hiện ...
Đổi mới cơ chế quản lí kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị kinh tế và quần chúng lao động hăng hái phát triển sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa...”.
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập,Tập 47,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.898-899,902)
Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra chủ trương xoá bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp và xây dựng cơ chế quản lí kinh tế mới.
Thực hiện ba chương trình kinh tế là nhiệm vụ chủ yếu của toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội, được tiến hành ngay sau năm 1975.
Mục tiêu của ba chương trình kinh tế là giải quyết các vấn đề dân sinh cấp bách và bước đầu hướng đến xuất khẩu.
Các chính sách đổi mới kinh tế của Đảng nhằm xoá bỏ rào cản, tạo động lực cho toàn bộ nền kinh tế vượt qua khủng hoảng.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Tháng 6-1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội…Phát triển các quan điểm đổi mới của Đại hội VI, Đại hội VII chủ trương tiếp tục triển khai công cuộc Đổi mới nói chung và cải cách kinh tế nói riêng. Về kinh tế, Đại hội đã có kết luận quan trọng khi cho rằng sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, Đại hội xác định xây dựng cơ chế vận hành nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa “cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước” bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác. Với định hướng đó, quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế được chú trọng hơn, cùng với sự đổi mới phương thức quản lí của Nhà nước đối với các thành phần kinh tế”.
(Lê Mậu Hãn (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, Tập IV,
NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội,2013,tr.511)
Sản xuất hàng hoá là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, cần xoá bỏ trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường tự vận hành để tháo gỡ mọi khó khăn trong phát triển.
Nhận thức về kinh tế thị trường và các phương thức quản lí nó là một đổi mới bước ngoặt về tư duy của Đảng.
Cương lĩnh năm 1991 góp phần quan trọng vào hoạch định đường lối đổi mới và làm rõ nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hoá thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hoá. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài nǎng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nuớc”.
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,
Tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021,tr.115-116)
Trong đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định văn hoá là sức mạnh nội sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để có thể đưa văn hoá thành sức mạnh, cần tập trung bảo tồn, duy trì nền văn hoá truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc, tránh bổ sung các yếu tố văn hoá mới
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu, và là mục tiêu của sự phát triển văn hoá và xã hội.
Chính sách văn hoá đúng định hướng của Đảng góp phần tạo nên sự ổn định và lành mạnh hoá xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế phải từng bước đối mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội”.
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
NXB Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.54)
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đổi mới kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, là điều kiện thuận lợi để đổi mới chính trị.
Cần ưu tiên đổi mới kinh tế vì chỉ có thể đổi mới các lĩnh vực khác sau khi đã xây dựng hoàn thiện điều kiện vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm phải nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
Thực tiễn cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam có những bước đi phù hợp trong đổi mới chính trị, thận trọng nhưng không bảo thủ, trì trệ.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Đến Đại hội IX (4-2001), khái niệm kinh tế thị trường đã ra đời, khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ. Mục đích của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sử vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân... Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày cùng trở thành nền tảng vững chắc".
(Võ Văn Sen, Lịch sử kinh tế Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2017,tr.393)
Mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam thời kì quá độ là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu của quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Đặc điểm của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là có ba thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Kinh tế thị trường là phương thức để thực hiện mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Về chính trị, trong thời kì Đổi mới, Việt Nam đã đạt được thành tựu tiêu biểu nào sau đây?
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng được mô hình Nhà nước chuyên chính vô sản.
Xoá bỏ chế độ phong kiến, xây dựng chế độ mới, dân chủ.
Thay đổi phương hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Một trong những thành tựu chính trị của Việt Nam thời kì Đổi mới (từ năm 1986) là
xây dựng Nhà nước chuyên chính vô sản.
bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền.
duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.
thực hiện xong xoá đói, giảm nghèo.
Nội dung nào sau đây là đúng về thành tựu đổi mới chính trị của Việt Nam (từ nǎm 1986)?
Tăng cường chế độ chuyên chính vô sản.
Mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường thành phần kinh tế tư nhân.
Các vấn đề an sinh xã hội được cải thiện
Nội dung nào sau đây là đúng về thành tựu kinh tế Việt Nam trong thời kì Đổi mới?
Trở thành nước có thu nhập cao nhất Đông Nam Á.
Hoàn thành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trở thành một trong ba trung tâm tài chính của thế giới.
Đa phương hoá, đa dạng hoá thị trường xuất nhập khẩu.
Nội dung nào sau đây là đúng về các thành phần kinh tế ở Việt Nam thời kì Đổi mới?
Kinh tế tư nhân không được khuyến khích để phát triển.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò chủ đạo.
Các thành phần kinh tế đều phát huy được lợi thế.
Các thành phần kinh tế có vai trò, vị trí như nhau.
Một trong những thành tựu mà kinh tế Việt Nam đạt được trong thời kì Đổi mới là
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp.
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng nông nghiệp.
trở thành nước công nghiệp hiện đại có thu nhập đầu người cao.
xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá do Nhà nước quản lí hiệu quả.
Từ khi thực hiện Đổi mới, Việt Nam đạt được thành tựu kinh tế nào sau đây?
Hoàn thành quá trình công nghiệp hoá sớm so với mục tiêu.
Trở thành nước công nghiệp hiện đại có thu nhập đầu người cao.
Hình thành nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước.
Trở thành thành viên sáng lập của Tổ chức Thương mại Thế giới.
Đọc đoạn trích: “Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tǎng khoảng 17 lần, lên mức 3 512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ nǎm 2008”.
(Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,2022,tr.31)
Theo đoạn tư liệu, Việt Nam đã đạt được thành tựu nào sau đây về đổi mới kinh tế?
Gia nhập nhóm nước có thu nhập đầu người cao.
Không còn thuộc nhóm nước có thu nhập thấp.
Trở thành nền kinh tế lớn nhất trong ASEAN.
Trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong WTO.
Về văn hoá- xã hội, Việt Nam đạt được thành tựu nào sau đây trong thời kì Đổi mới?
Xoá hoàn toàn hộ nghèo.
Giảm tỉ lệ hộ nghèo.
Phổ cập giáo dục đại học.
Bước đầu xoá mù chữ.
Trong thời kì Đổi mới, Việt Nam đạt được thành tựu văn hoá - xã hội nào sau đây?
Giải quyết được vấn đề lao động và việc làm.
Xoá bỏ được tình trạng lao động thất nghiệp.
Chỉ số phát triển con người đứng đầu ASEAN.
Miễn phí mọi chi phí về y tế cho nhân dân.
Trong thời kì Đổi mới, Việt Nam thực hiện chế độ ưu đãi xã hội đối với đối tượng nào sau đây?
Người cao tuổi (từ 70 tuổi trở lên).
Người có công với Tổ quốc.
Trí thức được đào tạo ở nước ngoài.
Doanh nhân thành đạt.
Trong thời kì Đổi mới, Việt Nam đạt được thành tựu văn hoá - xã hội nào sau đây?
Giải quyết vấn đề lao động và việc làm.
Không còn tình trạng lao động thất nghiệp.
Chỉ số phát triển con người đứng đầu ASEAN.
Miễn phí mọi chi phí y tế cho toàn dân.
Trong thời kì Đổi mới, Việt Nam đạt được thành tựu giáo dục nào sau đây?
Phổ cập giáo dục trung học phổ thông.
Thực hiện giáo dục miễn phí cho toàn dân.
Triển khai phong trào Bình dân học vụ.
Phổ cập giáo dục ở cấp trung học cơ sở.
Nội dung nào sau đây phản ánh đúng về thành tựu văn hoá ở Việt Nam từ sau nǎm 1986?
Nhiều di sản văn hoá được UNESCO ghi danh.
Bước đầu công bố Đề cương văn hoá Việt Nam.
Lập xong hồ sơ cho tất cả các di sản văn hoá.
Công nhận gia đình văn hoá cho tất cả các hộ.
Nội dung nào sau đây phản ánh đúng một thành tựu hội nhập quốc tế của Việt Nam thời kì Đổi mới?
Trở thành thành viên chính thức của Liên hợp quốc.
Tham gia nhiều diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tế.
Trở thành thành viên thường trực Hội đồng Bảo an.
Giữ gìn hoà bình ở tất cả các điểm nóng trên thế giới.
Về hội nhập quốc tế, trong thời kì Đổi mới, Việt Nam đã đạt được thành tựu nào sau đây?
Tăng cường các mối quan hệ song phương và đa phương.
Thành lập liên minh quân sự với các nước Đông Dương.
Có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc.
Thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước ASEAN.
Nội dung nào sau đây không phải ý nghĩa của thành tựu kinh tế của Việt Nam thời kì Đổi mới?
Tạo điều kiện thuận lợi để hội nhập quốc tế toàn diện.
Đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Cải thiện đời sống và thu nhập của các tầng lớp nhân dân.
Đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á.
Những thành tựu đổi mới chính trị ở Việt Nam sau nǎm 1986 có ý nghĩa nào sau đây?
Thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Mở ra cơ hội để gia nhập Liên hợp quốc.
Là cơ sở tiên quyết để đổi mới kinh tế.
Là điều kiện đầu tiên để đổi mới văn hoá.
Thành tựu đổi mới văn hoá - giáo dục ở Việt Nam (từ năm 1986) có ý nghĩa nào sau đây?
Đưa Việt Nam trở thành nước đầu tiên trong khu vực phổ cập trung học phổ thông.
Bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống và tạo ra các giá trị văn hoá mới tiến bộ.
Sáng tạo ra các giá trị văn hoá mới, triệt tiêu hoàn toàn các tàn dư của văn hoá cũ.
Nâng cao chất lượng giáo dục, trở thành quốc gia có nền giáo dục tốt nhất châu Á.
Nhận xét nào sau đây ghi nhận Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị?
Đổi mới toàn diện trong đó trọng tâm và đi đầu là đổi mới chính trị.
Đổi mới chính trị đi trước tạo điều kiện pháp lí cho đối mới kinh tế.
Hoàn thành xây dựng nhà nước pháp quyền phù hợp với kinh tế thị trường.
Xây dựrng nền kinh tế thị trường phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn những thành tựu đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) đã chứng tỏ
đường lối đối mới của Đảng là nhân tố quyết định thành công.
đổi mới chính trị luôn đi trước mở đường cho đối mới kinh tế.
các yếu tố bên ngoài quyết định thành công của công cuộc Đổi mới.
đổi mới văn hoá-giáo dục cần được ưu tiên hơn các lĩnh vực khác.
Thực tiễn công cuộc Đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) cho thấy
đổi mới chỉ thành công khi lấy đổi mới chính trị làm trọng tâm.
đổi mới chính trị luôn đi trước mở đường cho đổi mới kinh tế.
đổi mới phải hướng đến phục vụ sự phát triển của con người.
phải áp dụng triệt để các mô hình cải cách, mở cửa của phương Tây.
Nội dung nào sau đây phản ánh không đúng ý nghĩa của công cuộc Đổi mới đất nuớc ở Việt Nam?
Giải phóng sức sản xuất, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân.
Từng buớc đưa Việt Nam ra khỏi nhóm quốc gia có thu nhập trung bình.
Ổn định chính trị - xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tạo điều kiện nội lực để đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện.
Thành tựu của Việt Nam trong công cuộc Đổi mới đất nước (từ năm 1986) đã ghi nhận
sự kết hợp giữa ý Đảng và lòng dân trong mọi hoàn cảnh.
nguồn vốn ngoại lực có vai trò quyết định đến thành công.
sự đúng đắn của chính sách tư nhân hoá toàn bộ nền kinh tế.
sự ủng hộ tuyệt đối của dư luận quốc tế có vai trò quan trọng.
Thực tiễn công cuộc Đổi mới kinh tế ở Việt Nam (từ năm 1986) để lại bài học kinh nghiệm nào sau đây?
Cần hạn chế tiêu cực của kinh tế thị trường vì đó là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản.
Cần tiến hành tư nhân hoá, tự do hoá toàn bộ nền kinh tế để giải phóng sức sản xuất.
Cần đổi mới toàn bộ các ngành kinh tế với tốc độ nhanh nhất để thúc dây san xuất.
Cần phải xây dựng nền kinh tế thị trường với mục tiêu phục vụ lợi ích của nhân dân.
Nội dung nào sau đây phản ánh không đúng một bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn công cuộc Đổi mới kinh tế ở Việt Nam từ năm 1986?
Kiên định và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đổi mới toàn diện, đồng bộ nhưng phải có lộ trình, bước đi phù hợp.
Kết hợp đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, trong đó chính trị là quyết định.
Kết hợp yếu tố nội lực và yếu tố ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại.
Công cuộc Đổi mới đất nước ở Việt Nam (từ năm 1986) không có sự kết hợp giữa
kế thừa và phát triển.
đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế.
đa nguyên và đa đảng.
Nội dung nào sau đây phản ánh đúng một bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn công cuộc Đổi mới kinh tế ở Việt Nam từ năm 1986?
Luôn quán triệt quan điểm lấy “dân làm gốc”.
Luôn lấy đổi mới chính trị làm trọng tâm.
Phải giảm tối đa can thiệp của nhà nước vào thị trường.
Từng bước thực hiện chính sách đa nguyên về chính trị.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Khi tiến hành cải tổ - cải cách nhằm khắc phục những khuyết tật sai lầm, những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô và nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác lại liên tiếp phạm thêm sai lầm nghiêm trọng nhiều mặt, làm cho khủng hoảng càng thêm trầm trọng, rối loạn tới mức không còn kiểm soát được tình hình, đưa tới sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước này... Từ những đổ vỡ ấy, nhiều bài học kinh nghiệm đau xót được rút ra cho các nước xã hội chủ nghĩa ngày nay đang tiến hành công cuộc cải cách-đổi mới nhằm xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa đúng với bản chất nhân văn vì giải phóng và hạnh phúc con người, phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống văn hoá của mỗi quốc gia dân tộc".
(Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại 1917-1995,
NXB Giáo dục,Hà Nội,2006,tr.466)
Sự thất bại trong công cuộc cải cách, cải tổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu để lại bài học kinh nghiệm nào sau đây:
Đổi mới toàn diện nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước.
Yếu tố quyết định của đổi mới là động lực và những nguồn lực từ bên ngoài.
Lấy đổi mới kinh tế là trọng tâm, tránh đổi mới chính trị vì dễ gây mất kiểm soát.
Đổi mới phải kết hợp thực hiện đa nguyên về kinh tế với đa nguyên về chính trị.
Thực tiễn công cuộc Đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986) cho thấy tầm quan trọng của
đổi mới chính trị làm yếu tố tiên quyết để đổi mới các lĩnh vực khác.
đổi mới tư duy làm cơ sở cho xây dựng đường lối, cơ chế, chính sách.
đổi mới văn hoá là cơ sở đầu tiên cho đổi mới kinh tế, chính trị, xã hội.
đổi mới tư duy đối ngoại vì ngoại lực là yếu tố quyết định để hội nhập.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
"Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do Nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Cánh diều, trang 66)
Tư liệu đề cập đến bản chất xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang hướng đến.
Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường có định hướng phù hợp.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước pháp quyền, quyền lực thuộc về đảng.
Các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, lấy dân tộc Kinh làm trung tâm.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Cánh diều, trang 67).
Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hướng tới phát triển, hiện đại, hội nhập và đồng bộ.
Định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa là nâng cao vai trò quản lý kinh tế của đảng.
Trong phát triển kinh tế XHCN, cần tuân theo mọi quy luật của kinh tế thị trường.
Mục tiêu phát triển kinh tế là đảm bảo dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng...
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân của Việt Nam tính đến năm 2022 là 73%, cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới, trong đó người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí; tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 62 tuổi (năm 1990) lên 73,7 tuổi (năm 2020), thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam sau 35 năm đổi mới tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD/người/năm (năm 2020)."
(SGK Lịch sử 12, bộ Cánh diều, trang 69).
Tư liệu đề cập đến một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đạt tiến bộ lớn nhất về phát triển con người.
Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng nhanh, đứng vị trí 17 thế giới.
Chỉ số chăm sóc sức khỏe toàn dân của Việt Nam ở mức hơn trung bình thế giới.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Năm 2020, tỉ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 của Việt Nam đạt 99% (đứng thứ hai trong ASEAN); tỉ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08% (đứng ở tốp đầu trong ASEAN). Năm 2019, lần đầu tiên Việt Nam có 4 cơ sở giáo dục đại học được vào top 1000 trường đại học tốt nhất thế giới. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam năm 2019 xếp vị trí 42/129 quốc gia/nền kinh tế, đứng đầu trong nhóm 26 quốc gia thu nhập trung bình thấp và đứng thứ ba trong ASEAN."
(SGK Lịch sử 12, bộ Cánh diều, trang 70).
Tính đến năm 2020, Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, trung học.
Tỉ lệ học sinh đi học đúng tuổi của Việt Nam đứng thứ hai trong tổ chức ASEAN.
Giáo dục đại học ở Việt Nam đã lọt top 4 trong các cơ sở đại học tốt nhất thế giới.
Thành tựu trong đổi mới giáo dục đã đưa Việt Nam vào nhóm các nước phát triển.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức" (Điều 2. Hiến pháp năm 2013). “Đảng lãnh đạo Nhà nước, những hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật (Điều 4, Hiến pháp năm 2013).
(SGK Lịch sử 12, bộ Chân trời sáng tạo, trang 69)
Nhà nước Pháp quyền ở Việt Nam đảm bảo mọi quyền lực thuộc về Nhân dân
Nhà nước do Đảng tổ chức, thành lập và lãnh đạo theo Hiến pháp, Pháp luật.
Nền tảng của quyền lực nhà nước là liên minh công, nông và đội ngũ trí thức.
Cơ quan biểu trưng cho quyền lực của Nhân dân là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
"- Hội nhập quốc tế được thực hiện thiết thực và hiệu quả song phương cũng như đa phương, cả trong khu vực và phạm vi toàn cầu. Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trưởng toàn cầu.
- Ngoại giao song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó, tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 190/200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó, thiết lập được 30 đối tác chiến lược (năm 2022).
- Việt Nam tham gia nhiều tổ chức, diễn đàn khu vực, là thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm cao trong các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc."
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Chân trời sáng tạo, trang 74).
Trong đổi mới đất nước, Việt Nam tiến hành hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.
Cấp độ ngoại giao song phương cao nhất của Việt Nam là cấp đối tác chiến lược.
Việt Nam đã nhiều lần được bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc.
Hội nhập quốc tế sâu rộng tạo ra thời cơ và cả thách thức cho phát triển đất nước.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Tính đến năm 2022, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia, cử 33 Cơ quan Tùy viên Quốc phòng thường trú tại các nước và Liên hợp quốc. Mặt khác, 52 quốc gia đã đặt Cơ quan Tùy viên Quốc phòng, Tùy viên Quân sự tại Việt Nam.
Trên bình diện đa phương, Việt Nam chủ động tham gia và đề xuất sáng kiến tại các diễn đàn hợp tác quốc phòng đa phương trong khu vực và trên thế giới. Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình và hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, Việt Nam cũng đạt được nhiều kết quả quan trọng."
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 70).
Tư liệu nói về thành tựu trong hoạt động đối ngoại quốc phòng của Việt Nam.
Việt Nam tham gia sáng lập và triển khai hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế.
Đến năm 2022, Việt Nam đã ký kết hơn 100 hiệp ước quốc phòng với các nước.
Hoạt động đối ngoại quốc phòng góp phần quan trọng bảo vệ hòa bình khu vực.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Nhìn lại 35 nǎm thực hiện công cuộc Đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lí luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,
Tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.103-104)
Ngay khi tiến hành Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thiện lí luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cương lĩnh chính trị đầu tiên trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặt cơ sở cho đổi mới đất nước.
Thành tựu của công cuộc Đổi mới đã chứng minh đường lối đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn và ngày càng được hoàn thiện.
Một trong những ý nghĩa quan trọng về thành tựu của Đổi mới ở Việt Nam là không ngừng nâng cao vị thế và sức mạnh tổng hợp của quốc gia.
Đọc đoạn tư liệu sau dây:
“Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3 512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85 % GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tǎng nhanh, đăng kí đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020”.
(Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,2022, tr.31)
Đến năm 2020, Việt Nam trở thành nền kinh tế lớn nhất khu vực Đông Nam Á.
Nhờ đổi mới kinh tế thành công, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình và xuất khẩu lương thực - thực phẩm đứng hàng đầu thế giới.
Trong thời kì Đổi mới, tỉ trọng công nghiệp tăng nhanh, nhờ đó, Việt Nam đã hoàn thành quá trình công nghiệp hoá đất nước.
Từ khi Đổi mới đất nước, Việt Nam đã trở thành điểm đến tiềm năng của các nhà đầu tư nước ngoài do ổn định về chính trị, nguồn nhân lực dồi dào với giá lao động rẻ.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Trên chặng đường thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỉ, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, nhất là đối với các mục tiêu về giảm nghèo, bình đẳng giới và giáo dục... Việt Nam đã về đích sớm đối với Mục tiêu 1 về xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói từ năm 2002; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2010 và tiến tới những mục tiêu cao hơn về phổ cập giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông. Việt Nam cũng đã cơ bản hoàn thành mục tiêu về bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ; thành công trong việc kiểm soát sốt rét, một số dịch bệnh nguy hiểm, bước đầu ngăn chặn được sự lây lan HIV và đang trước ngưỡng hoàn thành Mục tiêu giảm tử vong ở trẻ em”.
(Nguyễn Thế Phương, “Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỉ”,
Tạp chí Cộng sản, ngày 8-9-2015)
Trong thời kì Đổi mới, Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phổ cập cấp trung học phổ thông trên toàn quốc từ năm 2010.
Trong 10 năm đầu Đổi mới đất nước, Việt Nam đã xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực, thiếu đói và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Việc hoàn thành một số mục tiêu Thiên niên kỉ đã góp phần nâng cao vị thế, ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Quá trình Đổi mới ở Việt Nam cho thấy có thể hoàn thành các mục tiêu Thiên niên kỉ ngay cả trong điều kiện nguồn lực hạn chế, nếu có sự cam kết mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị- xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.
Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đối mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo phù hợp thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lí luận về công cuộc Đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”.
(ĐCSVN, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 65,NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr.177)
Công cuộc Đổi mới đất nước đã đưra Việt Nam thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và hoàn thiện nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn.
Phát huy nội lực, đồng thời coi trọng huy động các nguồn ngoại lực, đã tạo ra sức mạnh tống hợp để phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Các thành tựu trong quá trình Đổi mới đất nước là một trong những cơ sở để Đảng nhận thức rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Một trong những địa điểm diễn ra các hoạt động đối ngoại của Phan Bội Châu là
Nhật.
Anh.
Đức.
Ấn Độ.
Một trong những địa điểm diễn ra các hoạt động đối ngoại của Phan Châu Trinh là
Pháp.
Ấn Độ.
Liên Xô.
Ba Lan.
Năm 1908, Phan Bội Châu đã tham gia thành lập tổ chức nào sau đây?
Hội liên hiệp thuộc địa.
Mặt trận Việt Miên-Lào.
Điền Quế Việt liên minh.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Năm 1911, Phan Bội Châu đã trở về
Việt Nam.
Liên Xô.
Trung Quốc.
Thái Lan.
Một trong những địa điểm mà Nguyễn Ái Quốc thực hiện các hoạt động đối ngoại từ năm 1911 đến năm 1920 là
Trung Quốc
Liên Xô.
Thái Lan.
Pháp.
Một trong những tổ chức được Nguyễn Ái Quốc thành lập khi ở nước ngoài giai đoạn từ năm 1911-1930 là
Hội liên hiệp thuộc địa.
Điền Quế Việt liên minh.
Mặt trận Việt - Miên - Lào.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Trong giai đoạn từ năm 1923 đến năm 1927 Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện các hoạt động đối ngoại ở đâu?
Ấn Độ.
Liên Xô.
Thái Lan.
Tây Âu.
Một trong những hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn 1930-1945 là
quyên góp giúp đỡ Nhân dân TG.
thành lập MTTQ các cấp.
đưa bộ đội tình nguyện đi chiến đấu.
gửi đơn xin gia nhập Hội quốc liên.
Một trong những tổ chức được Đảng Cộng sản Đông Dương tích cực củng cố quan hệ trong giai đoạn 1930 - 1945 là
Hội liên hiệp thuộc địa.
Hội đồng tương trợ kinh tế.
Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Tổ chức phòng thủ Vác-sa-va.
Đầu thế kỷ XX, nhân vật tiên phong tìm đến trào lưu dân chủ tư sản để cứu nước là.
Phan Bội Châu.
Nguyễn Ái Quốc.
Nguyễn Đức Cảnh.
Ngô Bội Phu.
Phong trào nào sau đây được Phan Bội Châu tổ chức trong giai đoạn 1905 đến 1917?
Tây học.
Cải cách.
Bạo động.
Đông Du.
Một trong những tổ chức mà Nguyễn Ái Quốc đã gia nhập trong quá trình tìm đường cứu nước (1911-1941) là
Đảng xã hội Pháp.
Đảng Cộng sản Đức.
Đảng Bảo thủ Anh.
Đảng Dân chủ Mỹ.
Người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam là
Nguyễn Ái Quốc.
Phan Bội Châu.
Nguyễn Đức Cảnh.
Ngô Bội Phu.
Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc có hoạt động đối ngoại nào sau đây?
Sang Liên Xô dự lễ tang Lênin, nghiên cứu chủ nghĩa Mác.
Tham dự Đại hội Tua, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Ba.
Gửi bản yêu sách của Nhân dân An Nam đến hội nghị Véc-xai.
Tham gia đoàn cố vấn cao cấp của Liên Xô đến Trung Quốc.
Ngày 9/3/1945, diễn ra sự kiện
Nhật tiến hành đảo chính Pháp.
Thời cơ của khởi nghĩa đã đế
Giành chính quyền ở Hà Nội.
Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị.
Mục đích thực hiện các hoạt động đối ngoại của Phan Bội Châu là
thiết lập chế độ quân chủ chuyên chế.
giành độc lập cho dân tộc Việt Nam.
cải cách kinh tế xã hội ở Việt Nam.
nhằm liên kết với cách mạng các nước.
Từ năm 1905 đến năm 1917, các tổ chức mà Phan Bội Châu thành lập có mục đích nào sau đây?
Vận động cải cách và duy tân.
Để cải cách kinh tế, chính trị.
Chống lại Pháp giành độc lập.
Nhằm lật độ chế độ phong kiến.
Mục đích thực hiện các hoạt động đối ngoại của Phan Chu Trinh là
vận động cải cách và duy tân.
tiến hành khởi nghĩa vũ trang.
tập hợp lực lượng cách mạng.
xin viện trợ các nước châu Âu.
Một trong những nội dung là mục đích của Nguyễn Tất Thành khi quyết định sang Pháp năm 1911
nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin tìm đường cứu nước.
tạo mối liên kết giữa cách mạng Việt Nam và thế giới
tìm hiểu về nước Pháp, sau đó trở về giúp đồng bào
thành lập các tổ chức cách mạng, chuẩn bị khởi nghĩa.
Vì sao năm 1924, Nguyễn Ái Quốc quyết định trở về Quảng Châu, Trung Quốc?
Có nhiều người Việt Nam yêu nước.
Chính quyền Tưởng ở đây rất mạnh.
Do sự chỉ đạo của QTCS
Thành lập ĐCS
Những hoạt động đối ngoại của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 1911 đến 1927 có ý nghĩa như thế nào đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Sự đồng ý của Quốc tế cộng sản.
Chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức.
Thống nhất các tổ chức cộng sản.
. Chuẩn bị đợi thời cơ khởi nghĩa.
Sự kiện nào sau đây đánh dấu Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước, giải phóng cho dân tộc Việt Nam
Bộ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế ba (1920).
Gửi bản yêu sách của Nhân dân An Nam (1919).
Đọc được bản Luận cương của Lênin (1920).
Tham gia hợp nhất các tổ chức cộng sản (1930).
Những hoạt động đối ngoại của Hồ Chí Minh trong giai đoạn (1942-1945) có tác dụng như thế nào đối với cách mạng Việt Nam?
Tranh thủ sự ủng hộ đối với cách mạng Việt Nam.
Tập hợp nông dân đứng dưới ngọn cờ của Đảng
Thúc đẩy sự phát triển của phong trào công nhân.
Xu thế cách mạng vô sản đã thẳng thể hoàn toàn.
Những cuộc tiếp xúc giữa đại diện của Mặt trận Việt Minh với Mỹ từ sau ngày 9-3-1945 có tác dụng đối với cách mạng Việt Nam là
Mỹ đã cung cấp một phần hậu cần.
nhận được sự công nhận từ bên ngoài.
đã chuẩn bị xây dựng khu giải phóng.
chính phủ tay sai Nhật hoang mang.
Một trong những nội dung thể hiện sự khác biệt về đối tượng của các hoạt động đối ngoại giữa Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc là
Nguyễn Ái Quốc đi sang phương Tây.
Phan Bội Châu trông cậy vào Nhật Bản.
không có sự ảo tưởng vào thực dân Pháp.
khuynh hướng cứu nước dân chủ tư sản.
Một trong những điểm giống nhau về kết quả trong các hoạt động đối ngoại của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là
đã thúc đẩy phong trào công nhân.
Pháp cho thực hiện nhiều cải cách.
đã nhận ra được bản chất kẻ thủ
chưa giành lại độc lập cho dân tộc.
Một trong những điểm tương đồng trong các hoạt động đối ngoại của Nguyễn Ái Quốc và Phan Bội Châu là ở
kết quả.
mục tiêu.
hướng đi.
nhận thức.
Một trong những điểm khác trong các hoạt động đối ngoại của Nguyễn Ái Quốc và Phan Châu Trinh là
kết quả.
đối tượng.
mục đích.
mục tiêu.
Nguyễn Tất Thành nhận định về con đường cứu nước của Phan Bội Châu là "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau” là đúng hay sai? Vì sao?
Đúng, vì bản chất của các nước để quốc là đi xâm lược thuộc địa.
Sai, vì Nhật Bản đã có sự giúp đỡ rất nhiều cho Phan Bội Châu
Sai, Nhật Bản đã giúp đỡ Việt Nam giành lại độc lập năm 1945.
Đúng, vì năm 1939 Nhật đã tiến hành xâm lược Việt Nam.
“Thất bại của cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là do chưa nhận ra được bản chất của các nước đế quốc, thực dân". Nhận định này đúng hay sai, vì sao?
Đúng, vì Pháp - Nhật đã câu kết với nhau chống lại cách mạng Việt Nam.
Đúng, vì năm 1945 Nhật đã gây nạn đói khiến hai triệu đồng bào ta chết.
Sai, vì hai Cụ Phan chưa chuẩn bị được lực lượng, tiềm lực kinh tế yếu.
Sai, vì khuynh hướng cứu nước dân chủ tư sản không nhận được ủng hộ.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
"Tháng 7-1925, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, một đoàn thể có tính chất quốc tế bao gồm người Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, In-đô-nê-xi-a, Miến Điện, Tuyên ngôn của Hội khẳng định con đường duy nhất để xoá bỏ sự áp bức chỉ có thể là liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới, áp dụng những phương pháp cách mạng để lật đổ đế quốc thực dân"
(SGK-KNTT LỊCH SỬ 12,tr75)
Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông khi đang hoạt động ở Trung Quốc.
Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông là tổ chức đầu tiên Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập.
Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông là một tổ chức quốc tế lớn tập hợp tất cả các dân tộc châu Á.
Với Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, Nguyễn Ái Quốc gắn cách mạng Việt Nam với thế giới.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Thông qua mặt trận Việt Minh, hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương hiện rõ chủ trương đứng về phía lực lượng Đồng minh trong cuộc chiến chống quân phiệt Nhật Bản, đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế cho cách mạng Việt Nam. Đại diện của Mặt trận Việt Minh tiếp xúc với đại diện của Trung Hoa Dân quốc, bàn về kế hoạch phối hợp chống quân phiệt Nhật Bản, cử đại biểu tham gia Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội - một tổ chức của người Việt Nam hoạt động ở phía nam Trung Quốc. Đối với phái bộ Mỹ ở phía nam Trung Quốc, đại diện của Mặt trận Việt Minh chủ động bắt liên lạc để thiết lập quan hệ và hợp tác chống quân phiệt Nhật Bản. Cuối tháng 4 - 1945, sự hợp tác giữa Việt Minh và Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) tại châu Á được xác lập.”
(SGK-KNTT LỊCH SỬ 12,tr76)
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Minh đứng về phe Đồng minh chống phát xít.
Việt Minh đã chủ động liên lạc với Mỹ, Trung Quốc và để hợp tác chống phát xít Nhật.
Từ giai đoạn này, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ đã chính thức được xác lập.
Việt Mình đóng vai trò quyết định trong việc tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Đảng Cộng sản Đông Dương cũng tích cực củng cố quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc, thành lập Tiểu ban vận động Hoa Kiều, giúp đỡ người Hoa tổ chức hội cứu quốc. Nhằm mở rộng quan hệ với lực lượng chống quân phiệt Nhật Bản ở Đông Nam Á, Đảng Cộng sản Đông Dương liên lạc với phong trào dân tộc chống quân phiệt Nhật Bản ở một số nước như: Miến Điện, Mã Lai, Phi-líp-pin, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a."
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 75)
Tư liệu trên nói về quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đông Dương và phong trào chống Nhật ở châu Á.
Mặt trận Việt Minh đã tổ chức các hội người Hoa cứu quốc nhằm giúp đỡ Trung Quốc chống Nhật.
Hoạt động trên đã góp phần quan trọng tập hợp lực lượng chống quân phiệt Nhật Bản ở Đông Nam Á.
Đảng Cộng sản Đông Dương đã trở thành lực lượng lãnh đạo phong trào đầu tranh chống Nhật ở châu Á.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Ngày 13/8/1942, Hồ Chí Minh sang Trung Quốc để liên hệ với các lực lượng Đồng minh. Cuối năm 1944, Hồ Chí Minh đi Côn Minh (Trung Quốc) gặp tướng Sê-nôn - Tư lệnh không quân Mỹ đặt cơ sở phối hợp giữa Việt Minh với các lực lượng Đồng minh để kháng Nhật.
" (Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Chân trời sáng tạo, trang 80)
Tư liệu nói về hoạt động đối ngoại của lãnh tụ Hồ Chí Minh giai đoạn tiền khởi nghĩa.
Với hoạt động của Hồ Chí Minh, Việt Minh đã đứng về phe Đồng minh chống phát xít.
Sau sự kiện trên, Mỹ và Việt Minh đã có sự hợp tác trong chống quân phiệt Nhật Bản.
Sự kiện trên đã đặt cơ sở cho quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam sau chiến tranh.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Tại Nhật Bản, Phan Bội Châu kết thân với một số nhà yêu nước, ủng hộ Việt Nam như Ô-ku-mu-ra Ca-si-qua-ba-ra Bun-ta-rô, bác sĩ A-xa-ba Xa-ki-ta-rô.... Những nhà yêu nước Nhật Bản đã giúp đỡ tận tình cho Phan Bội Châu và các học sinh Việt Nam tham gia phong trào Đông Du đang học trong các trường ở Nhật Bản cả về vật chất lẫn tinh thần."
(SGK-CTST Lịch sử 12, tr78).
Tư liệu trên nói về phong trào Đông Du của Phan Bội Châu đầu thế kỷ XX.
Phong trào Đông Du đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều người Nhật tiến bộ.
Phong trào Đông Du đã bước đầu đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam – Nhật.
Từ phong trào Đông Du, Nhật đã hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam giải phóng dân tộc.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Năm 1908, phong trào Đông Du tan rã. Trong hoàn cảnh khó khăn, Phan Bội Châu thay mặt những thành viên còn lại trên đất Nhật viết thư thỉnh cầu giúp đỡ đến bác sĩ A-sa- ba Sa-ki-taro, người từng cứu giúp một lưu học sinh người Việt. Ngay khi nhận được thư, bác sĩ Sa-ki-ta-ro đã gửi tặng 1,700 yên Nhật - một số tiền lớn lúc đó. Năm 1918, Phan Bội Châu trở lại Nhật, tìm thám Sa-ki-ta-ro, nhưng ông đã qua đời trước đó. Để tưởng nhớ ân nhân. Phan Bội Châu với sự quyên góp, giúp đỡ của người dân thôn A-sa-ba đã lập bia đá tạ ơn trước mộ bác sĩ Sa-ki-ta-ro trong khuôn viên chùa Thường Lâm."
(SGK-CD LỊCH SỬ 12, tr74)
Tư liệu trên nói về hoạt động trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu.
Phong trào Đông Du nhằm đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật học nghề Y.
Phong trào Đông Du đã nhận được sự ủng hộ giúp đỡ của nhiều người Nhật.
Phong trào Đông Du đã bước đầu đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam - Nhật.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Sang Nhật Bản rồi về nước, gửi thư đề nghị Toàn quyền Đông Dương cải cách chế độ cai trị, mở mang kinh tế, giáo dục đối với Nhân dân Việt Nam.
Hoạt động tại Pháp, tiếp xúc với các lực lượng cấp tiến ở Pháp, gửi kiến nghị lên Chính phủ Pháp: lên án chính sách cai trị của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, viết báo, diễn thuyết để thức tỉnh dư luận Pháp về tình hình Việt Nam, nhằm tranh thủ sự giúp đỡ cho cách mạng Việt Nam." (Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Cánh diều, trang 74).
Tư liệu trên nói về những hoạt động của nhà yêu nước Phan Châu Trinh đầu thế kỷ XX.
Phan Châu Trinh đấu tranh nhằm thay đổi chế độ cai trị, tiến tới nền độc lập ở Việt Nam.
Hoạt động trên đã góp phần đặt nền móng cho mối quan hệ đối ngoại Việt Nam và Pháp.
Chính phủ Pháp đã đáp ứng các yêu cầu của Phan Châu Trinh và cải cách chế độ cai trị.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Từ năm 1930, hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ tháng 10 - 1930 là Đảng Cộng sản Đông Dương) nhằm xác lập củng cố quan hệ với các đảng cộng sản và phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới, phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Nhân dân Việt Nam.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945), Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh liên lạc với phong trào chống quân phiệt Nhật ở các nước Đông Nam Á như Miến Điện, Mã Lai, Phi-líp-pin, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a,... đứng về phe dân chủ chống phát xít xâm lược. Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua Mặt trận Việt Minh chú trọng triển khai các hoạt động đối ngoại nhằm thiết lập quan hệ với các nước Đồng minh chống phát xít, trước hết là Trung Quốc và Mỹ. (SGK-CTST LỊCH SỬ 12,tr80,81)
Tư liệu trên nói về quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đông Dương và phong trào chống Nhật ở châu Á.
Mặt trận Việt Minh đã tổ chức các phong trào chống Nhật nhằm giúp đỡ các nước ở Đông Nam Á.
Hoạt động trên đã góp phần quan trọng tập hợp lực lượng chống quân phiệt Nhật ở Đông Nam Á.
Đảng Cộng sản Đông Dương đã thiết lập được quan hệ đối ngoại với các nước Đồng minh là Mỹ và Trung Quốc.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công (1945), nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước khó khăn nào sau đây?
Chưa được quốc gia nào công nhận độc lập.
Chỉ được Lào và Cam-pu-chia công nhận độc lập.
Chỉ được Liên Xô và Trung Quốc công nhận độc lập.
Các nước TBCN không công nhận độc lập.
Một trong những hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay sau CMT8 là
gửi yêu cầu ngừng bắn đến nước Pháp.
gửi công hàm đến Liên hợp quốc.
yêu cầu nước Pháp trao trả độc lập.
thành lập Liên minh Việt - Miên - Lào.
Một trong những nội dung các công hàm của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tới một số quốc gia ngay sau Cách mạng tháng Tám là
yêu cầu phía Trung Hoa Dân quốc rút khỏi Việt Nam.
khẳng định tính hợp pháp của nhà nước Việt Nam.
yêu cầu thực dân Pháp và thực dân Anh trao trả độc lập.
khẳng định tinh thần đoàn kết của ba nước Đông Dương.
Trước ngày 6-3-1946, nước Việt Nam DCCH thực hiện chính sách đối ngoại nào sau đây?
Hoà Pháp để đuổi Tưởng.
Hoà Trung Hoa Dân quốc để đánh Pháp.
Hoà hoãn với cả Pháp và Tưởng.
Hoà hoãn với Anh để đánh đuổi Nhật.
Tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí văn bản ngoại giao nào sau đây với Pháp?
Hiệp định Sơ bộ.
Hiệp ước Nhâm Tuất.
Tạm ước Việt - Pháp.
Hiệp định Giơ-ne-vơ.
Trong năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đạt được thành tựu ngoại giao nào sau đây?
Thiết lập được quan hệ ngoại giao với Liên Xô và Trung Quốc.
Bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Trung Hoa Dân quốc.
Thiết lập được quan hệ ngoại giao với tất cả các nước dân chủ.
Buộc Pháp phải công nhận Việt Nam là quốc gia độc lập và tự do.
Trong những năm 1947 - 1949, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có hoạt động nào sau đây để tranh thủ sự ủng hộ quốc tế?
A. Thành lập liên minh với Lào và Cam-pu-chia.
B. Mở cơ quan đại diện ở một số nước châu Á.
C. Thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc.
D. Thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô.
Để tăng cường tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương, trong thời kì 1945 - 1954, tổ chức nào sau đây được thành lập?
A. Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương.
B. Mặt trận Dân chủ Đông Dương.
C. Liên minh Việt - Miên - Lào.
D. Liên minh dân tộc dân chủ Đông Dương.
Ngay sau năm 1954, Việt Nam đã tiến hành hoạt động ngoại giao nào sau đây để thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước?
Gửi công hàm đến Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác.
Nâng đấu tranh ngoại giao thành một mặt trận chống Mỹ.
Thành lập Liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương.
Gửi công hàm đến chính quyền Sài Gòn và các bên liên quan.
Thời kì 1954 - 1975, nhân dân ba nước Đông Dương có hoạt động nào sau đây để tăng cường tinh thần đoàn kết chống kẻ thù chung?
Tổ chức Hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương.
Kỉ niệm thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương hằng năm.
Đồng loạt gửi công hàm lên Liên hợp quốc đòi độc lập.
Thành lập mặt trận dân tộc thống nhất Đông Dương.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), sự kiện chính trị nào sau đây đã biểu thị quyết tâm của ba nước Đông Dương trong đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung?
Hội nghị cấp cao ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia họp.
Thành lập Liên minh Việt - Miên - Lào.
Thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Dương.
Phối hợp thành lập mặt trận dân tộc thống nhất chung.
Trong cuộc KCC Mỹ, cứu nước, cục diện "vừa đánh, vừa đàm" được mở ra từ thời điểm nào sau đây?
1965.
1968.
1973.
1975.
Theo bản Hiệp định Pa-ri được kí ngày 27-1-1973, Mỹ đã phải công nhận
các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia độc lập thuộc Liên hiệp Pháp.
quyền tham gia các tổ chức quốc tế của Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia tự do và dân chủ.
Một trong những chính sách đối ngoại của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) là
củng cố, phát triển quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa.
củng cố, phát triển quan hệ với các nước tư bản chủ nghĩa.
bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc và Ấn Độ.
hợp tác toàn diện với Nhật Bản, Hàn Quốc và Pháp.
Sau năm 1973, hoạt động ngoại giao của Việt Nam DCCH đạt được thành công nào sau đây?
Bước đầu thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa.
Thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước tư bản chủ nghĩa.
Tổ chức được Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương.
Bình thường hoá quan hệ ngoại giao với các nước ASEAN.
Trong cuộc KCC Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), ngoại giao Việt Nam đã đạt được thành tựu nào sau đây?
Thành lập được liên minh chiến đấu với các nước Đông Nam Á.
Được Trung Quốc, Liên Xô công nhận và đặt quan hệ ngoại giao.
Trở thành thành viên chính thức của tổ chức Liên hợp quốc.
Hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến.
Ngay sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết (1954), nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không gặp khó khăn nào sau đây trong các hoạt động ngoại giao?
Mỹ thực hiện âm mưu chia cắt Việt Nam lâu dài.
Chiến tranh lạnh ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế.
Chỉ có Liên Xô và Trung Quốc là những nước công nhận độc lập.
Có sự hoà hoãn và thoả hiệp giữa các nước lớn.
Nước Việt Nam DCCH kí Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) với Pháp nhằm mục tiêu nào sau đây?
Kéo dài thời gian hoà bình để chuẩn bị kháng chiến.
Tăng cường hợp tác toàn diện với Pháp về kinh tế.
Hợp tác với Pháp để chống Trung Hoa Dân quốc.
Nâng cao vị thế trong Liên bang Đông Dương.
Các hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong cuộc kháng chiến chống Pháp những năm 1945 - 1946 không hướng đến mục tiêu nào sau đây?
Bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng.
Tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế với cuộc kháng chiến.
Tránh đối đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù.
Trở thành một thành viên của tổ chức ASEAN.
Nội dung nào phản ánh đúng ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Pa-ri năm 1973 về Việt Nam?
Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.
Mở ra cục diện "vừa đánh, vừa đàm" trong cuộc kháng chiến.
Mở ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Khẳng định sự thất bại hoàn toàn của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Bối cảnh kí kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương (1954), Hiệp định Pa-ri về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1973) có điểm tương đồng nào sau đây?
Có sự hoà hoãn giữa các nước lớn.
Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ.
Liên Xô và Trung Quốc đang có bất đồng.
Ngoại giao đã trở thành một mặt trận.
Nhiệm vụ căn bản, quan trọng nhất của ngoại giao Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) là
tăng cường thu hút viện trợ và đầu tư nước ngoài.
phục vụ sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước.
đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại.
nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Nội dung nào sau đây không phải là hạn chế trong điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương?
Thời gian để quân đội nước ngoài rút khỏi Việt Nam quá dài.
Vấn đề thống nhất của Việt Nam chưa thể thực hiện được ngay.
Đất nước đang tạm thời bị chia cắt thành hai miền Bắc - Nam.
Quyền dân tộc cơ bản mới được công nhận ở phía Bắc vĩ tuyến 17.
Nội dung nào sau đây phản ánh đúng điểm tương đồng của đấu tranh ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mỹ (1954 - 1975) ở Việt Nam?
Đấu tranh ngoại giao luôn đi trước mở đường cho đấu tranh quân sự.
Mặt trận ngoại giao được hình thành ngay từ đầu cuộc kháng chiến.
Đấu tranh ngoại giao có mối quan hệ chặt chẽ với đấu tranh chính trị.
Hoạt động ngoại giao chịu sự chi phối hoàn toàn của hoạt động quân sự.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:“Với cương vị Chủ tịch Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố “chính sách ngoại giao của Chính phủ lâm thời”... Nhiệm vụ của ngoại giao nước ta làm rõ trước toàn thế giới ba điều khẳng định:
1. Việt Nam là một nước tự do độc lập.
2. Nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ nền tự do độc lập ấy, bất cứ ai xâm phạm đến nền tự do độc lập ấy đều bị nhân dân Việt Nam chống lại.
3. Nhân dân Việt Nam đoàn kết với nhân dân các nước, phấn đấu duy trì hoà bình ổn định giữa các nước trong khu vực và thế giới, tôn trọng công lí và luật pháp quốc tế”.
(Bộ Ngoại giao, Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh,
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.34 – 35)
Một trong những nhiệm vụ của ngoại giao Việt Nam sau năm 1945 là khẳng định Việt Nam là một quốc gia tự do, thuộc khối Liên hiệp Pháp.
Cụm từ “nhân dân Việt Nam đoàn kết với nhân dân các nước” trong đoạn tư liệu (ý số 3) được hiểu là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa.
Ngoại giao là một phương thức để thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc Việt Nam.
Cụm từ “ba điều khẳng định” trong đoạn tư liệu là chỉ những chính sách nhất thời, ngắn hạn của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:“Ngày 11-3-1951, các đại diện Mặt trận Khơ-me Ít-sa-rắc, Mặt trận Lào Ít-xa-la và Mặt trận Liên Việt của Việt Nam đã họp hội nghị thành lập Mặt trận Đoàn kết Liên minh Việt – Miên – Lào. Hội nghị xác định:
1. Ba dân tộc Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia đều có kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Cuộc kháng chiến của ba dân tộc là một bộ phận khăng khít của phong trào hoà bình, dân chủ thế giới. Nhiệm vụ của cách mạng tại ba nước Đông Dương là đánh đuổi bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho ba nước hoàn toàn độc lập, xây dựng ba quốc gia mới, làm cho nhân dân ba nước được tự do, sung sướng và tiến bộ.
2. Thành lập liên minh nhân dân Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, định ra một chương trình hành động chung của liên minh ba nước.
3. Thành lập Uỷ ban liên minh gồm các ông: Phạm Văn Đông, Hoàng Quốc Việt, Sơn Ngọc Minh, Tu-xa-mút, Xu-pha-nu-vông, Nu-hắc.
4. Công bố một tuyên ngôn nói rõ ý nghĩa và mục đích thành lập Liên minh nhân dân ba nước, gây một phong trào ủng hộ Liên minh đó trong nhân dân ba nước”.
(Nguyễn Đình Bản (Chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000,
NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr.129 – 130)
Liên minh Việt – Miên – Lào được thành lập vào năm đầu tiên của cuộc KCC TD Pháp.
Một trong những cơ sở để thiết lập liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương là các nước có chung kẻ thù.
Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Đông Dương góp phần làm thất bại âm mưu thủ đoạn “chia để trị” của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.
Sự ra đời của Liên minh Việt – Miên – Lào chứng tỏ lần đầu tiên trong lịch sử nhân dân ba nước Đông Dương đã đoàn kết trong chiến đấu.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:“Nhìn tổng quát, trong suốt cuộc chiến tranh, ngoại giao đóng vai trò một mặt trận đấu tranh tầm cỡ chiến lược với ba chức năng lớn:
– Phối hợp và hỗ trợ chiến trường, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đảm bảo cho ta càng đánh càng mạnh, làm cho địch suy yếu và thất bại.
– Tăng cường hậu phương quốc tế của ta, gắn Việt Nam với thế giới, tạo cho ta sức mạnh tổng hợp, làm suy yếu hậu phương quốc tế của Mỹ, làm cho Mỹ vấp nhiều khó khăn trên thế giới và ngay trong nước Mỹ.
– Giải quyết vấn đề thắng thua, ta thẳng, địch thua, kết thúc chiến tranh. Ta thẳng đến đâu buộc Mỹ thua đến đâu, giành thắng lợi từng bước thế nào, đẩy Mỹ ra khỏi miền Nam thế nào?”.
(Nguyễn Khắc Huỳnh, Ngoại giao Việt Nam: Góc nhìn và suy ngẫm,
NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.94 – 95)
Một trong những nhiệm vụ của ngoại giao Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là tăng cường sức mạnh của hậu phương.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đấu tranh ngoại giao giữ vai trò là một mặt trận, kết hợp với mặt trận quân sự giành thắng lợi từng bước.
Sự tích cực, chủ động của hoạt động ngoại giao đã góp phần vào hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ dân tộc Việt Nam chống Mỹ.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đấu tranh ngoại giao đảm nhiệm ba nhiệm vụ và hoàn toàn phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:“Nhân dân Việt Nam chúng tôi yêu chuộng hoà bình, một nền hoà bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hi sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình...Ngài [Ních-xơn] bày tỏ lòng mong muốn hành động cho một nền hoà bình công bằng. Muốn vậy, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đó là cách đúng đắn để giải quyết vấn đề Việt Nam...”.
(Hồ Chí Minh, “Thư trả lời Tổng thống Mỹ Ri-sớt Ních-xơn
ngày 25-8-1969”, trích trong: Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 15,
NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.602 – 603)
Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hoà bình, dân chủ nhưng không bao giờ nhân nhượng đối phương trong quá trình đàm phán.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách đúng đắn nhất để giải quyết vấn đề Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Một trong những mục tiêu của đối ngoại Việt Nam thời kì chống Mỹ, cứu nước là buộc các nước tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam.
Trong đấu tranh ngoại giao với Mỹ, Việt Nam luôn kết hợp giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ và ngọn cờ dân tộc chính nghĩa.
Một trong những quốc gia mà Việt Nam rất coi trọng quan hệ và hợp tác chặt chẽ trong giai đoạn 1975 - 1985 là:
Hàn Quốc.
Nhật Bản.
Liên Xô.
Trung Quốc.
Năm 1978, Việt Nam gia nhập tổ chức nào sau đây?
SEV.
EU.
ASEAN
NATO.
Một trong những hoạt động đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc trong giai đoạn 1975-1985 là:
đàm phán giải quyết vấn đề xung đột biên giới.
hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề của ASEAN.
đàm phán về việc khai thác chung nguồn khi đốt.
thương lượng để Trung Quốc tăng cường viện trợ.
Từ năm 1975 - 1985, các hoạt động đối ngoại của Việt Nam chú trọng phát triển quan hệ hữu nghị với quốc gia nào sau đây?
Malaysia.
Brunây.
Thái Lan.
Lào.
Từ năm 1975 - 1985, các hoạt động đối ngoại của Việt Nam tập trung chống lại
âm mưu chia cắt Đông Dương.
cuộc tấn công của Trung Quốc.
cuộc bao vây cấm vận của Mỹ.
âm mưu chia rẽ tổ chức ASEAN.
Trong giai đoạn 1975 đến 1985 Việt Nam đã tham gia
Phong trào không liên kết.
Cộng đồng văn hóa ASEAN.
Hiệp hội các quốc gia độc lập.
Cộng đồng kinh tế ASEAN.
Nội dung định hướng chung cho hoạt động động đối ngoại là "Hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị...”. Được Đại hội lần thứ mấy của Đảng đề ra?
IV.
VI.
VII
XI
Một trong những quốc gia Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao từ sau 1986 đến nay là
Lào.
Nga.
Ấn Độ.
Mỹ.
Một trong những quốc gia Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao từ sau năm 1986 đến nay là
Triều Tiên.
Liên Xô.
Mông Cổ.
Trung Quốc.
Sự kiện nào sau đây đánh dấu quan hệ giữa Việt Nam với các nước trên thế giới được cải thiện, mở rộng?
Miền Nam được giải phóng.
Bắt đầu công cuộc đổi mới.
Gia nhập vào Liên hợp quốc.
Tham gia cộng đồng ASEAN.
Một trong những tổ chức Việt Nam đã gia nhập từ sau năm 1986 đến nay là
SEV.
NATO.
ASEAN.
SEATO.
Đến năm 2022, Việt Nam đã là thành viên của bao nhiêu tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế?
63.
62.
60.
59.
Một trong các hội nghị quốc tế quan trọng mà Việt Nam đã tổ chức thành công là
APEC.
COP28.
ICEC.
OPEC.
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã ký các hiệp ước về biên giới trên đất liền - với quốc gia nào sau đây?
Trung Quốc.
Hàn Quốc.
Liên Xô.
Triều Tiên.
Một trong những những hoạt động hỗ trợ nhân đạo của Việt Nam được thực hiện ở
Cuba.
Anh.
Đức.
Mỹ.
Sự kiện nào sau đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn mới từ năm 1975 đến nay?
Miền Nam được giải phóng.
Bắt đầu công cuộc đổi mới.
Gia nhập vào Liên hợp quốc
Tham gia cộng đồng ASEAN.
Một trong những nguyên nhân Việt Nam luôn coi trọng mối quan hệ và hợp tác với Liên Xô là
viện trợ kinh tế, quân sự, ủng hộ về chính trị.
đồng ý đứng dưới cái ô hạt nhân của Liên Xô.
cần liên kết với Liên Xô để chống Trung Quốc.
dựa vào ưu thế của Liên Xô để đánh Khơ-me đỏ.
Một trong những nguyên nhân để Việt Nam phát triển quan hệ hữu nghị đoàn kết với Lào là
truyền thống lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược.
đường biên giới trên biển và trên bộ dài gần 3.000km.
có kẻ thù chung và cùng chống lại âm mưu bá quyền.
sự hợp tác trên sông Mê-kông để bảo vệ nông nghiệp.
Trở ngại lớn nhất trong việc Việt Nam hội nhập với Đông Nam Á trong giai đoạn từ năm 1975-1991 là
quân đội quá lớn mạnh.
vấn đề của Cam-pu-chia.
Trung Quốc ngăn cản.
Việt Nam còn lạc hậu.
Tính đến tháng 3-2024, Việt Nam có mối quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện" với bao nhiêu quốc gia?
5
6
7
8
Một trong những quốc gia có mối quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện" với Việt Nam tỉnh đến tháng 3-2024 là
Mỹ.
Đức
Anh.
Cuba.
Một trong những thành tựu to lớn của các hoạt động đối ngoại đem lại cho Việt Nam từ năm 1986 đến nay là
sự ủng hộ, những viện trợ quân sự to lớn đến từ Nga.
vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao.
đã có hơn mười nước là đối tác chiến lược toàn diện.
đang ứng cử ghế ủy viên thường trực Hội đồng bảo an.
Một trong các cơ hội khi Việt Nam tham gia vào các tổ chức quốc tế, khu vực là
tiếp cận được nguồn vốn đầu tư từ các nước lớn.
có thể tham gia vào các khối liên minh quân sự.
tiếp cận được nguồn lao động giá rẻ ở châu Âu.
liên minh với Mỹ giải quyết vấn đề biển Đông.
Một trong những thách thức khi Việt Nam tham gia các tổ chức quốc tế, khu vực là
nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc.
gây mâu thuẫn sâu sắc hơn trên biển Đông.
nguồn lao động giá rẻ châu Âu cạnh tranh.
bị ép tham gia các khối liên minh quân sự.
Để thực hiện thành công phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước". Các hoạt động đối ngoại cần tuân thủ nguyên tắc nào sau đây?
Liên kết với các nước Đông Âu cũ.
Cân bằng mối quan hệ giữa hai cực.
Không vi phạm chủ quyền dân tộc.
Không đổi môi trường lấy kinh tế.
Một trong những nội dung thể hiện sự khác nhau giữa các hoạt động đối ngoại từ năm 1945 - 1975 và từ năm 1986 đến nay là
mục tiêu đấu tranh là giải phóng dân tộc.
nguyên tắc thực hiện hoạt động đối ngoại.
các chuyến thăm cấp cao đến Trung Quốc.
đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng.
Một trong những nội dung thể hiện sự giống nhau giữa các hoạt động đối ngoại từ năm 1945 - 1975 và từ năm 1986 đến nay la
mục tiêu đầu tranh giải phóng dân tộc.
kết hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự.
phục vụ lợi ích cho dân tộc Việt Nam.
liên kết chặt chẽ với các nước Đông Âu.
Một trong những thuận lợi của các hoạt động đối ngoại từ năm 1986 đến nay so với các giai đoạn trước đó là
vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao,
kẻ thủ trực tiếp của chúng ta đã trở nên suy yếu.
đã khai thông được tuyến biên giới Việt - Trung.
mâu thuẫn giữa các nước lớn đã được xóa bỏ.
Nhận xét nào sau đây về vai trò của các hoạt động đối ngoại từ năm 1986 đến nay là đúng?
Tạo ra ưu thế cho các tranh chấp quân sự trên biển Đông.
Tất cả các nước nâng tầm quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Đã đưa Việt Nam trở thành cường quốc số một châu Á.
Tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập, phát triển kinh tế.
Bài học kinh nghiệm xuyên suốt đã dẫn đến tất cả những thắng lợi trong quá trình thực hiện các hoạt động đối ngoại từ năm 1945 đến nay là
kiên trì sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng.
tăng cường củng cố sức mạnh quân sự.
thực hiện đoàn kết chặt chẽ với Liên Xô.
tham gia vào các khối liên minh quân sự.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Kiên trì chính sách hữu nghị và láng giềng tốt với nhân dân Trung Quốc, chúng ta chủ trương khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau và giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng con đường thương lượng.
"(SGK-CTST LỊCH SỬ 12,tr86)
Từ sau năm 1945, quan hệ Việt Nam và Trung Quốc là hữu nghị, hợp tác toàn diện.
Tranh chấp chủ quyền Việt Nam và Trung Quốc đều giải quyết bằng thương lượng.
Từ sau năm 1991, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Việt Nam chủ trương duy trì quan hệ hòa bình, tôn trọng lẫn nhau với Trung Quốc.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Tiếp tục mở rộng, làm sâu sắc hơn quan hệ và tạo thế đan xen lợi ích kinh tế với các đối tác. Với các đối tác quan trọng, nhất là các nước lăng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện phải chủ động, tích cực tạo lập, hoàn thiện các khuôn khổ hợp tác, gắn kết chặt chẽ quan hệ chính trị, đối ngoại với hợp tác kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, giáo dục và khoa học - công nghệ."(SGK-CTST LỊCH SỬ 12,tr89)
Tư liệu trên khẳng định chính sách đối ngoại của Việt Nam với các đối tác.
Hợp tác về kinh tế, quốc phòng, an ninh là trụ cột của đối ngoại Việt Nam.
Hoạt động đối ngoại của Việt Nam đã đảm bảo tính toàn diện và chặt chẽ.
Với các làng giếng, Việt Nam nâng tầm thành đối tác chiến lược toàn diện.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Nền ngoại giao Việt Nam hiện đại mang hồn dân tộc, rất kiên định về nguyên tắc, những ứng xử tinh tế và linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với các mặt trận quân sự, chính trị và các ngành khác, kết hợp thế và lực góp phần xoay chuyển tình thế từ yếu thành mạnh, gần lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, dân tộc với quốc tế, dân tộc với thời đại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp", (Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Chân trời sáng tạo, trang 90)
Tư liệu khẳng định ngoại giao Việt Nam cứng rắn về nguyên tắc mềm dẻo về.
Điểm cốt yếu của ngoại giao Việt Nam là coi trọng lợi ích dân tộc, đó là cái "dĩ bất biến".
Ngoại giao Việt Nam có tính độc lập hoàn toàn với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự.
Sức mạnh tổng hợp của ngoại giao Việt Nam là kết hợp của sức mạnh dân tộc và thời đại.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Từ năm 1975, đặc biệt là sau khi ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác (1978) Việt Nam coi hợp tác toàn diện với Liên Xô là "Hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại". Liên Xô cũng đẩy mạnh hợp tác giúp đỡ Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Hơn 100.000 lao động Việt Nam đã sang Liên Xô làm việc. Viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam trong giai đoạn 1981- 1985 có giá trị khoảng 4.5 tỷ USD." (SGK-CD LỊCH SỬ 12,tr80)
Tư liệu trên khẳng định sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô cho Việt Nam trong kháng chiến.
Với Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, Việt Nam đã tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế.
Từ sau năm 1975, Liên Xô là nước duy nhất hỗ trợ, viện trợ, giúp đỡ Việt Nam tái thiết.
Viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam sau năm 1975 đã góp phần quan trọng xây dựng đất nước.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Tăng cường đoàn kết với Lào và Cam-pu-chia, thực hiện hợp giúp đỡ lẫn nhau, làm cho ba nước Đông Dương trở thành lực vững chắc của cách mạng và hòa bình ở Đông Nam Á. Củng cố và tăng cường hợp tác giữa nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa anh em..." (SGK-CD Lịch sử 12, tr 81).
Mối quan hệ Việt Nam, Lào, Campuchia là mối quan hệ của ba nước xã hội chủ nghĩa.
Chính sách đối ngoại của Việt Nam với 2 nước Đông Dương là bình đẳng, giúp đỡ nhau.
Liên bang Đông Dương đã trở thành lực lượng vững chắc của cách mạng ở Đông Nam Á.
Sau năm 1991, Việt Nam coi trọng củng cố, tăng cường hợp tác với hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Ngày 20/5/1988, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VI) ban hành Nghị quyết số 13/NQ-TW “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ chiến lược đối ngoại của Việt Nam là “thêm bạn bớt thủ”, mở rộng và đa dạng hóa quan hệ hợp tác quốc tế với mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình thúc đẩy hội nhập quốc tế, phá thế thế bao vây cấm vận, thu hút sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với công cuộc đổi mới của đất nước. Nghị quyết 13 NQ-TW đánh dấu bước ngoặt về tư duy đối ngoại của Việt Nam, là cơ sở để Việt Nam phát triển chính sách đối ngoại trong giai đoạn tiếp theo". (SGK-CD LỊCH SỬ 12,tr81)
Nghị quyết số 13/NQ-TW đã đề ra đường lối “đổi mới đất nước về kinh tế, chính trị.
Tư duy đối ngoại của Việt Nam ở Nghị quyết 13 là thêm bạn bớt thủ, hợp tác, hội nhập.
Nghị quyết 13 đã đặt cơ sở cho quan hệ đối ngoại của Việt Nam sau Chiến tranh lạnh
Ngay sau Nghị quyết 13, Việt Nam đã thoát khỏi thể bị bao vây, cấm vận để phát triển.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng hoạt động đối ngoại nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, giải quyết tranh chấp, bất đồng trong vấn đề biên giới thông qua đàm phán, thương lượng.
Hoạt động đối ngoại trong những năm gần đây còn gần với các lĩnh vực như giao lưu văn hóa, hỗ trợ nhân đạo, cứu hộ thảm họa thiên tai, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu....
Hoạt động đối ngoại nhân dân tiếp tục có bước phát triển mới, gắn liền với vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam. (Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Cảnh điều, trang 82),
Đầu thế kỷ XXI, Việt Nam triển khai các hoạt động đối ngoại ngày càng đa dạng.
Trong các tranh chấp chủ quyền, Việt Nam chủ trương sử dụng biện pháp hòa bình.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan lãnh đạo công tác đối ngoại của Việt Nam.
Việt Nam tham gia tích cực vào các hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Việt Nam phối hợp với các nước xã hội chủ nghĩa trên diễn đàn quốc tế và đẩy mạnh hợp tác toàn diện, nhất là lĩnh vực kinh tế. Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hợp tác chặt chẽ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Nhiều hiệp ước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật đã được ký kết. Năm 1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV). Đối với Trung Quốc, Việt Nam tiến hành đàm phán để giải quyết các xung đột về biên giới, lãnh thổ, lãnh hải, kiên quyết bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia.
"(SGK-KNTT LỊCH SỬ 12 ,tr83)
Tư liệu trên nói về quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa.
Sau năm 1975, Việt Nam có quan hệ hòa bình, hợp tác với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa
Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam kiên định nguyên tắc về lợi ích quốc gia dân tộc.
Năm 1978, Việt Nam đã xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô, Trung Quốc.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Phá thế bao vây cấm vận, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng bị bao vây, cô lập, tranh thủ mọi điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động đối ngoại của Việt Nam được triển khai trên nhiều lĩnh vực, trong đó trọng tâm là giải quyết vấn đề Campuchia. Sau khi Hiệp định Pa-ri về Campuchia được ký kết (10 - 1991), Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991), với Mỹ (1995), gia nhập ASEAN (1995),...
" (Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 84).
Tư liệu trên nói về những hoạt động đối ngoại của Việt Nam giai đoạn sau năm 1975.
“Vấn đề Campuchia" là việc Việt Nam đưa quân sang giúp đỡ nhân dân Campuchia.
Trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là giải quyết vấn đề Campuchia.
Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc giúp giải quyết mọi tranh chấp chủ quyền.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Việt Nam trở thành thành viên có trách nhiệm của nhiều tổ chức quốc tế (ASEAN, WTO, Việt Nam ký hiệp định tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN AFTA), ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Khu vực (RCEP).... và nhiều hiệp định quan trọng khác. Việt Nam tích cực triển khai hoạt động đối ngoại tại các tổ chức, diễn đàn, hội nghị đa phương với đối tác trọng tâm có tầm ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực, ưu tiên là kinh tế, quốc phòng - an ninh.
"(SGK-KNTT tr85)
Việt Nam là thành viên sáng lập của nhiều tổ chức quốc tế như ASEAN, WTO.
Các hiệp định trên đã khẳng định vai trò, vị trí của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Trọng tâm đối ngoại của Việt Nam hiện nay là hợp tác kinh tế, an ninh - quốc phòng.
Việt Nam chỉ triển khai quan hệ đối ngoại với các đối tác có tầm ảnh hưởng nhất.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Nhằm hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, nâng cao vị thế đất nước, Việt Nam cam kết tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, thúc đấy gắn kết cộng đồng thông qua giao lưu văn hóa. Việt Nam tham gia đàm phán quốc tế về biến đổi khí hậu, ký kết Nghị định thư Ki-ô-tô, cam kết giảm lượng phát thải khí nhà kính. Việt Nam tích cực thúc đẩy giao lưu văn hóa với các quốc gia khác thông qua các lễ hội văn hóa, chương trình ngoại giao văn hóa và trao đổi giáo dục."(SGK-KNTT LỊCH SỬ 12,tr86)
Tư liệu trên nói về một số lĩnh vực trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam hiện nay.
Nghị định thư Ki-ô-tô là cam kết chống biến đổi khí hậu mà Việt Nam có tham gia.
Việt Nam chủ động trao đổi văn hóa, giáo dục với các nước trong và ngoài khu vực.
Việt Nam coi trọng việc giao lưu văn hóa để gắn kết các cộng đồng khu vực, thế giới.
