Font size
WorksheetsCấp cứu ngừng hô hấp – hồi sức tim phổi (trích bài tập)
Total questions: 58
Worksheet time: 29mins
Cấp cứu ngừng hô hấp ở người lớn, tần số thổi ngạt là:
10 – 12 lần/phút
12 – 14 lần/phút
14 – 16 lần/phút
16 – 18 lần/phút
Phương pháp hiệu quả nhất để kiểm tra hơi thở là:
Dùng gương soi áp vào miệng, mũi của nạn nhân
Dùng một sợi tóc đặt trước mũi nạn nhân
Áp má cấp cứu viên vào mũi, miệng nạn nhân
Áp má cấp cứu viên vào mũi, miệng nạn nhân đồng thời quan sát các cử động của vùng ngực
Khi thổi ngạt cho nạn nhân ngừng hô hấp, để nạn nhân thuận lợi trong trao đổi khí, người cấp cứu viên nên chú ý:
Thổi mạnh và sâu
Thổi nhanh và mạnh
Thổi nhanh liên tục
Thổi nhẹ và nhanh
Khi ép tim, lực ép của cấp cứu viên tác động vào lồng ngực của nạn nhân phát sinh từ:
Lực ép của cánh tay
Lực ép của cánh tay và cẳng tay
Trọng lực của nửa trên cơ thể cấp cứu viên
Trọng lực của cả cánh tay và bàn tay cấp cứu viên
Khi thổi ngạt cho nạn nhân ngừng hô hấp, nạn nhân có thể tự thở trở lại là do:
Được cung cấp khí oxy
Được cung cấp khí carbonic
Được cung cấp dưỡng khí
Được cung cấp dưỡng khí và kích thích hệ hô hấp
Để cấp cứu hiệu quả cho nạn nhân ngừng hô hấp và ngừng tuần hoàn phối hợp, trong mỗi lần dừng lại kiểm tra tình trạng, người cấp cứu viên nên:
Phối hợp đồng thời kiểm tra hô hấp và tuần hoàn
Kiểm tra hô hấp và tuần hoàn riêng rẽ
Chỉ cần kiểm tra kỹ tuần hoàn
Chỉ cần kiểm tra kỹ hô hấp
Tình trạng ngừng tuần hoàn có thể hiểu là:
Ngừng tim
Tụt, kẹt huyết áp
Không còn huyết áp
Ngừng huyết động
Trong trường hợp cấp cứu nạn nhân ngừng hô hấp tuần hoàn do bị điện giật, sau khi hỗ trợ thành công hô hấp và tuần hoàn, trước khi chuyển nạn nhân vào cơ sở y tế người cấp cứu viên cần phải:
Kiểm tra tổn thương lồng ngực do ép tim
Kiểm tra chấn thương cơ xương khớp
Kiểm tra và xử trí tổn thương bỏng (nếu có)
Kiểm tra tri giác trước khi chuyển nạn nhân
Nguyên tắc của ép tim ngoài lồng ngực:
Ép tim ngoài lồng ngực là thủ thuật dùng áp lực mạnh, liên tục và nhịp nhàng ép lên 1/3 dưới xương ức
Tim được ép giữa xương ức phía trước và xương sống phía sau
Kích thích để tim đập lại khi tim ngừng đập
A và B
Mục đích của cấp cứu ngừng tuần hoàn hô hấp:
Để ngăn chặn sự thiếu oxy não
Để duy trì sự thông khí và tuần hoàn một cách đầy đủ
Hồi sức tim phổi là điều trị cấp cứu trong bất cứ tình huống nào khi não không nhận đủ oxy
A và B
Phương pháp thổi ngạt được áp dụng trong trường hợp nào sau đây:
Khi bệnh nhân ngừng thở
Khi bệnh nhân ngừng tim
Khi bệnh nhân bất tỉnh
Khi bệnh nhân bất tỉnh, ngừng thở nhưng còn mạch
Kết hợp ép tim và thổi ngạt phương pháp một người thì tỷ lệ là:
5 lần ép tim 1 lần thổi ngạt
15 lần ép tim 2 lần thổi ngạt
15 lần ép tim 1 lần thổi ngạt
30 lần ép tim 2 lần thổi ngạt
Thứ tự các bước cấp cứu bệnh nhân ngừng hô hấp tuần hoàn theo các bước C-A-B nào sau đây là đúng:
Khai thông đường thở, thổi ngạt, ép tim
Ép tim, thổi ngạt, khai thông đường thở
Ép tim, khai thông đường thở, thổi ngạt
Khai thông đường thở, ép tim, thổi ngạt
Mục tiêu quan trọng nhất và đầu tiên của hồi sức tim phổi là ngăn được tổn thương không phục hồi do thiếu oxy tại:
Não
Tim
Thận
Phổi
Xác định nạn nhân ngừng tuần hoàn bằng cách:
Áp tai vào ngực nghe tim
Kiểm tra động mạch cảnh
Kiểm tra động mạch bẹn
Cả A, B và C
Kết hợp ép tim và thổi ngạt cho trẻ em thì tỷ lệ là:
5 lần ép tim 1 lần thổi ngạt
5 lần ép tim 2 lần thổi ngạt
15 lần ép tim 1 lần thổi ngạt
15 lần ép tim 2 lần thổi ngạt
Kết hợp ép tim và thổi ngạt cho trẻ sơ sinh thì tỷ lệ là:
3 lần ép tim 1 lần thổi ngạt
5 lần ép tim 1 lần thổi ngạt
5 lần ép tim 2 lần thổi ngạt
15 lần ép tim 2 lần thổi ngạt
Khi tiến hành kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực với trẻ từ 1–8 tuổi, cấp cứu viên phải:
Đặt gốc của 2 bàn tay chồng lên nhau vào đúng vị trí đã xác định để ép
Đặt hai ngón tay tại vị trí ép tim, có thể đặt tay kia ở sau lưng trẻ và nâng lên để giữ thẳng cổ, giúp thông đường thở rồi tiến hành ép tim
Đặt gốc bàn tay ở phần dưới xương ức trẻ, nâng các ngón tay để không đè lên xương sườn rồi ép
Cả A, B và C
Khi tiến hành kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực với trẻ sơ sinh, cấp cứu viên phải:
Đặt gốc của 2 bàn tay chồng lên nhau vào đúng vị trí đã xác định để ép
Đặt hai ngón tay tại vị trí ép tim, có thể đặt tay kia ở sau lưng trẻ và nâng lên để giữ thẳng cổ, giúp thông đường thở rồi tiến hành ép tim
Đặt gốc bàn tay ở phần dưới xương ức trẻ, nâng các ngón tay để không đè lên xương sườn rồi ép
Cả A, B và C
Các nguyên nhân gây ngừng thở, ngừng tim do tai nạn, NGOẠI TRỪ:
Đuối nước
Bị vùi lấp do lũ quét
Đốt lò sưởi bằng than đá đóng kín cửa
Điện giật
Các nguyên nhân gây ngừng thở, ngừng tim do tổn thương não, thần kinh, NGOẠI TRỪ:
Tai biến mạch máu não
Điện giật
Tắc mạch vành
Dùng quá nhiều thuốc ức chế trung tâm hô hấp
Dấu hiệu ngừng thở, ngừng tim:
Lồng ngực, thành bụng bất động
Tim ngừng đập
Hai đồng tử giãn, không đáp ứng với ánh sáng
Cả A, B và C
Khi nào ngừng cấp cứu ngừng thở, ngừng tim:
Cảm thấy kiệt sức
Sau khoảng 30–60 phút cấp cứu mà tim nạn nhân vẫn không đập lại
Gồm A và nạn nhân tỉnh lại, nhân viên y tế tới
Gồm A, B và C
Làm thông đường hô hấp bằng cách:
Đặt cổ nạn nhân ngửa tối đa
Lau sạch đất cát quanh mũi, miệng
Mở miệng: móc sạch đờm rãi, dị vật
Cả A, B và C
Các trường hợp ngừng tim đột ngột, NGOẠI TRỪ:
Điện giật
Đuối nước
Sốc phản vệ
Ung thư giai đoạn cuối
Nguyên nhân gây ngừng tuần hoàn do tim, NGOẠI TRỪ:
Thiếu máu cơ tim
Tắc mạch vành cấp
Kích thích trực tiếp vào tim
Dị vật, tắc đường thở
Khai thông đường thở trong cấp cứu ngừng tuần hoàn hô hấp, NGOẠI TRỪ:
Bệnh nhân được đặt nằm ngửa trên nền cứng
Đầu và cổ ở tư thế ưỡn tối đa, mặt quay về một bên.
Dùng tay móc sạch đờm dãi và dị vật nếu như có thể lấy được
Với các dị vật ở sâu và khó lấy, nên cố lấy dị vật ra để tránh tắc hoàn toàn đường thở
Vị trí ép tim ngoài lồng ngực ở người lớn:
1/2 trên xương ức
1/3 giữa xương ức
1/3 dưới xương ức
1/2 dưới xương ức
Số người phụ cần thiết để cố định tạm thời cho người bị gãy xương cẳng chân là:
1
2
3
4
Số dây buộc cần thiết trong cố định tạm thời gãy xương cẳng tay kín bằng nẹp gỗ là:
2
3
4
5
Tư thế tốt nhất để giữ nạn nhân trong trường hợp cố định gãy xương đòn bằng băng số 8 là:
Nạn nhân ngồi, người phụ giữ 2 bàn tay ra sau, ưỡn ngực
Nạn nhân ngồi, người phụ giữ 2 cánh tay ra sau, ưỡn ngực
Nạn nhân nằm, người phụ giữ 2 khuỷu tay ra sau, ưỡn ngực
Nạn nhân nằm, người phụ giữ 2 cẳng tay ra sau, ưỡn ngực
Số lượng dây buộc cần thiết để cố định xương đòn bằng nẹp chữ T là:
2 dây buộc: 2 bên vai
3 dây buộc: 2 bên vai, thắt lưng
4 dây buộc: 2 bên vai, ngang ngực, thắt lưng
5 dây buộc: 2 bên vai, ngang ngực, thắt lưng, ngang hông
Việc làm đầu tiên của người cấp cứu viên khi sơ cứu nạn nhân bị gãy xương đùi kín là:
Kéo liên tục theo trục của chi bằng một lực không đổi
Bất động tạm thời
Phòng chống sốc
Động viên, an ủi nạn nhân
Phương pháp tốt nhất để cố định xương sườn là:
Treo cánh tay bên phía có xương sườn bị gãy
Băng ép cánh tay và cẳng tay bên phía có xương sườn bị gãy
Dùng băng dính to bản băng cả hai bên ngực
Dùng băng dính to bản băng nửa ngực bên bị gãy từ xương ức đến cột sống
Triệu chứng có giá trị nhất trong chẩn đoán gãy xương là:
Đau ở chỗ chấn thương
Chi gãy biến dạng
Có phản ứng nhẹ khi khám
Sưng hoặc phù nề
Trong trường hợp gãy xương ở cẳng chân, biểu hiện sưng, đau nhiều và căng tức vùng bắp cẳng chân thường liên quan tới:
Tổn thương tổ chức xung quanh xương
Phù nề
Ứ đọng tuần hoàn tĩnh mạch
Hội chứng khoang
Trong các dấu hiệu và triệu chứng đặc hiệu của gãy xương, dấu hiệu tiếng lạo xạo trong xương là do:
Có dị vật bên trong ổ gãy
Ổ gãy có nhiều mảnh vụn của xương
Hai đầu xương gãy cọ sát vào nhau
Hai đầu xương gãy tiếp tục gãy vụn
Trong các nguyên tắc khi cố định gãy xương, người phụ giúp luôn kéo chi gãy với một lực không đổi nhằm mục đích:
Chống phù nề
Chống biến dạng chi gãy
Chống lại lực kéo của các cơ xung quanh ổ gãy
Chống sốc
Trong các dấu hiệu và triệu chứng đặc hiệu của gãy xương, dấu hiệu chi gãy bị ngắn đi thường là do:
Mất đoạn xương gãy
Chi gãy bị lệch trục
Xương gãy bị lún
Xương gãy bị lún hoặc bị xếp chồng lên nhau
Trong sơ cứu nạn nhân gãy xương sườn có mảng sườn di động, người cấp cứu viên đặt một miếng vải hoặc một miếng gạc hoặc một cuộn băng vào vị trí mảng sườn di động trước khi băng ép lại để nhằm mục đích:
Ngăn sự di động đảo chiều của mảng sườn gãy
Cầm máu
Cố định tránh di lệch
Tránh gây tổn thương màng phổi
Khi tham gia cấp cứu cho một vụ tai nạn có nhiều nạn nhân với các tổn thương sau: nạn nhân A gãy xương cánh tay, nạn nhân B bị vết thương phần mềm nhỏ chảy máu ở vai trái, nạn nhân C bị đứt động mạch quay ở cổ tay trái và nạn nhân D bị gãy xương đùi. Thứ tự ưu tiên sơ cứu lần lượt là:
Nạn nhân C – A – D – B
Nạn nhân C – D – A – B
Nạn nhân D – A – C – B
Nạn nhân D – C – A – B
Tư thế cơ năng của chi trên có góc độ là:
45°
60°
90°
180°
Tư thế cơ năng của chi dưới có góc độ là:
60°
90°
120°
180°
Nạn nhân bị gãy xương cột sống khi vận chuyển tốt nhất cho nạn nhân nằm:
Cáng đệm mút
Cáng bạt
Cáng ván cứng
Cáng lò xo
Kích thước nẹp gỗ dùng trong cố định gãy xương chi trên là:
Dài 25 – 30cm, rộng 5 – 6cm, dày 0,3cm
Dài 25 – 30cm, rộng 5 – 6cm, dày 0,5cm
Dài 40 – 50cm, rộng 5 – 6cm, dày 0,3cm
Dài 40 – 50cm, rộng 5 – 6cm, dày 0,5cm
Kích thước nẹp gỗ dùng trong cố định gãy xương chi dưới là:
Dài 80 – 130cm, rộng 8 – 10cm, dày 0,5cm
Dài 80 – 130cm, rộng 8 – 10cm, dày 0,8cm
Dài 130 – 150cm, rộng 8 – 10cm, dày 0,8cm
Dài 130 – 150cm, rộng 8 – 10cm, dày 10cm
Nguyên tắc khi bất động gãy xương kín:
Bất động xương gãy theo tư thế cơ năng
Cố định nhẹ nhàng, cẩn thận, phải có người phụ kéo nắn chi liên tục cho tới khi cố định xong
Gãy hở, gãy nội khớp: phải bất động theo tư thế gãy không kéo nắn, kết hợp xử trí vết thương phần mềm
Cả A, B và C
Cố định tạm thời gãy xương cho nạn nhân ngay tại nơi xảy ra tai nạn nhằm mục đích:
Làm cho nạn nhân đỡ đau phòng ngừa sốc
Giảm bớt nguy cơ làm tổn thương thêm mạch máu, thần kinh
Trong trường hợp gãy hở giúp phòng ngừa nhiễm khuẩn vết thương
Cả A, B và C
Nguyên nhân gây gãy xương trực tiếp:
Cây đổ vào xương
Bánh xe máy đè vào xương
Ngã chống tay gây gãy xương lồi cầu cánh tay
A và B
Loại gãy xương thường hay gặp ở trẻ em:
Gãy cành tươi
Gãy xoắn
Gãy nát
Gãy phình vỏ xương
Dấu hiệu chắc chắn của gãy xương:
Biến dạng: chiều dài xương của vùng gãy ngắn hơn so với chiều dài tuyệt đối của xương bên lành hoặc xương bị lệch trục
Cử động bất thường: vùng xương gãy sẽ có những cử động sai hoặc không thể cử động
Tiếng lạo xạo: được cảm nhận từ các ngón tay của người khám khi ấn vào vùng xương gãy; tuy cho phép khẳng định gãy xương nhưng thực tế không nên tìm vì gây đau và có thể làm tổn thương phần mềm xung quanh
Chỉ cần có 1 trong 3 dấu hiệu trên là có thể chẩn đoán được gãy xương
Nguyên tắc cố định gãy xương, NGOẠI TRỪ:
Nẹp dùng để cố định xương gãy phải đủ dài để bất động chắc khớp trên và khớp dưới chỗ gãy
Không nên cởi quần áo nạn nhân; khi cần bộc lộ vết thương thì cắt quần áo theo đường chỉ (nếu cần cởi thì cởi bên lành trước)
Đặt nẹp trực tiếp sát vào da nạn nhân, khít sao cho không có hở khoảng
Sau khi cố định xong: với chi trên dùng băng tam giác treo chi lên cổ, chi dưới buộc 2 chi vào nhau
Nguyên tắc cố định gãy xương hở, NGOẠI TRỪ:
Bất động xương gãy (chi) theo tư thế cơ năng
Cố định nhẹ nhàng, cẩn thận
Phải bất động theo tư thế gãy, không kéo nắn, kết hợp xử trí vết thương phần mềm (nếu có)
Cả B và C
Sơ cứu nạn nhân gãy xương đùi:
Gãy xương đùi luôn luôn gây sốc do đau và chảy máu
Nếu không có nẹp thì cột nạn nhân vào ván cứng
Phải bất động tốt trước khi sơ cứu các vết thương khác
Đặt nẹp ngoài từ hõm nách đến quá gót, nẹp trong từ bẹn đến quá gót; luôn cố định 9 dây
Phương pháp bất động trong gãy xương sườn tốt nhất là:
Treo tay
Dùng băng tam giác cố định khung sườn
Dùng băng thun cố định khung sườn
Dùng băng dính to bản, băng từ cột sống qua nơi gãy đến xương ức
Triệu chứng cơ năng trong gãy xương:
Đau, giảm hoặc mất vận động xương gãy
Biến dạng, gập góc, lệch trục
Điểm đau chói
Cử động bất thường
Dùng nẹp để bất động trong sơ cứu gãy kín xương cánh tay, NGOẠI TRỪ:
Nạn nhân phải nằm để chống choáng
Cẳng tay gấp vuông góc với cánh tay
Đặt 2 nẹp ở 2 mặt trước sau cánh tay
Lót bông vào 2 đầu nẹp sát với đầu xương
Nẹp để cố định trong sơ cứu gãy xương:
Nẹp cao su: nẹp làm bằng cao su 2 lớp có van để bơm hơi
Nẹp gỗ: dùng thanh gỗ bào nhẵn
Nẹp tuỳ thực tế: tre, gỗ, vật liệu có sẵn
Cả A, B và C
