Font size
WorksheetsQuiz về Công Nghệ Cao và Năng Lượng
Total questions: 10
Worksheet time: 7mins
Câu 1: Cho thông tin sau: Khu công nghệ cao là nơi tập trung, liên kết hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao.
Hiện nay nước ta có 6 khu công nghệ cao đang hoạt động.
Ý nghĩa của các khu công nghệ cao là xây dựng, nghiên cứu, phát triển công nghệ cao, thu hút đầu tư nước ngoài.
Nhằm đáp ứng nhu cầu của các khu công nghệ cao, giải pháp quan trọng là hoàn thiện chính sách, tăng cường nhân lực có trình độ.
Sự khác biệt trọng việc hình thành của khu công nghệ cao so với khu công nghiệp là do Chính phủ quyết định thành lập.
Câu 2: Cho bảng số liệu SẢN LƯỢNG CÔNG NGHIỆP NĂNG LƯỢNG NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2010 - 2022 Năm 2010 2015 2018 2022 Dầu khí (triệu tấn) 15,0 18,7 14,0 10,8 Than (triệu tấn) 44,8 41,6 42,3 49,8 Điện (tỉ kwh) 91,7 157,9 209,2 258,7 (Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam, Tổng cục Thống kê)
Sản lượng công nghiệp năng lượng của nước ta tăng liên tục trong giai đoạn 2010 - 2022.
Sản lượng dầu khí giảm liên tục, sản lượng than có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với điện.
Sản lượng điện tăng nhanh trong giai đoạn 2010 - 2022 do nhu cầu ngày càng tăng.
Để thể hiện tốc độ tăng trưởng một số ngành công nghiệp năng lượng của nước ta, biểu đồ đường là thích hợp nhất.
Cho bảng số liệu: MỘT SỐ SẢN PHẨM CHỦ YẾU CỦA CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT SẢN PHẨM ĐIỆN TỬ, MÁY VI TÍNH GIAI ĐOẠN 2010 - 2021 Sản phẩm 2010 2015 2020 2021 Điện thoại di động (triệu cái) 37,5 235,6 201,6 183,3 Ti vi lắp ráp (triệu cái) 2,8 5,5 13,6 20,6 (Nguồn: Niêm giám thống kê Việt Nam năm 2016, 2022)
Điện thoại di động và ti vi lắp ráp đều tăng từ 2010 - 2021.
Điện thoại di động có số lượng lớn hơn ti vi lắp ráp do nhu cầu sử dụng tăng.
Điện thoại di động tăng nhanh hơn ti vi lắp rắp.
Ti vi lắp ráp có số lượng nhỏ hơn nhưng nhanh hơn điện thoại di động
Trong nội bộ nhóm ngành có sự phát triển theo hướng tiếp cận công nghệ tiên tiến, hiện đại với sự chuyển dịch từ các ngành và công nghệ sản xuất sử dụng nhiều lao động sang các ngành công nghiệp công nghệ cao.
Các ngành công nghiệp nước ta đang chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Việc phát triển các ngành theo hướng tiếp cận công nghệ tiên tiến nhằm tận dụng thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0.
Thuận lợi chủ yếu của nước ta trong việc phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao là chính sách của nhà nước mở cửa, hội nhập.
Khó khăn trong việc chuyển dịch cơ cấu công nghiệp là lực lượng lao động còn thiếu trình độ, gây khó khăn cho phát triển các ngành công nghệ cao.
Trang trại ở nước ta được bắt đầu phát triển gắn liền với nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Đến năm 2021, cả nước có 23 771 trang trại. Cùng với xu hướng chuyển dịch của ngành nông nghiệp, số lượng và cơ cấu trang trại theo lĩnh vực hoạt động cũng có sự thay đổi.
Hiện nay, ở nước ta có nhiều loại trang trại khác nhau, chiếm tỉ lệ cao nhất là các trang trại chăn nuôi.
Phát triển các trang trại góp phần tận dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và có hiệu quả kinh tế cao.
Các trang trại mang lại ý nghĩa lớn cho các vùng nông thôn là giải quyết phần lớn việc làm cho lao động.
Đẩy mạnh phát triển mô hình trang trại góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng và điều kiện sống ở nông thôn.
Vùng chuyên canh hay vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm là vùng tập trung phát triển một hoặc vài loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái nông nghiệp (đất, khí hậu,.. điều kiện kinh tế - xã hội nhằm tạo ra khối lượng hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến, đáp ứng nhu cầu của thị trường, mang lại hiệu quả cao.
Ở nước ta đã hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm qui mô lớn.
Vùng chuyên canh chè được xây dựng ở khu vực các tỉnh Trung du và miền núi Bắc Bộ do điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có một mùa đông lạnh.
Phát triển các vùng chuyên canh làm hạn chế chất lượng nông sản, tạo nguồn hàng hóa lớn để xuất khẩu.
Các vùng chuyên canh mang lại ý nghĩa xã hội quan trọng là giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, nâng cao tay nghề cho người lao động.
Cho bảng số liệu: SẢN LƯỢNG GỖ KHAI THÁC MỘT SỐ VÙNG CỦA NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2018 - 2021 (đơn vị: nghìn m3) Năm 2018 2019 2020 2021 Trung du và miền núi Bắc Bộ 4087,8 4315,1 4419,3 4847,9 Đồng bằng sông Cửu Long 800,5 801,8 805,9 797,3
Giai đoạn 2018-2020, sản lượng gỗ khai thác ở Đồng bằng sông Cửu Long tăng liên tục.
Sản lượng gỗ khai thác ở TD MNPB luôn lớn nhất.
Tốc độ tăng trưởng sản lượng gỗ khai thác ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2021 là 156,8%
Năm 2021, Sản lượng gỗ khai thác ở Đồng bằng sông Cửu Long lớn gấp 5 lần TDMNPB.
Tổng : 5,2 -> 6,72 ->8,82
Khai thác : 2,47-> 3,17 ->3,94
Nuôi trồng : 2,37-> 3,55 ->4,88
Tỉ trọng thủy sản khai thác và nuôi trồng đều giảm.
Tốc độ tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản năm 2021 so với năm 2010 là 169,6%.
Tỉ trọng sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng là do được phát triển theo hình thức trang trại công nghệ cao, nuôi hữu cơ và người dân có nhiều kinh nghiệm.
Sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng tăng.
Khoa học - công nghệ được ứng dụng trong nhiều khâu sản xuất: lai tạo giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; kĩ thuật tiên tiến được sử dụng trong canh tác, thu hoạch, chế biến và bảo quản sản phẩm, .. tạo ra các sản phẩm an toàn, có giá trị cao.
Năng suất các sản phẩm nông nghiệp của nước ta hiện nay nâng cao do áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất.
Đồng bằng sông Hồng có năng suất lúa và các sản phẩm nông nghiệp khác cao do trình độ thâm canh cao.
Ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp góp phần tạo ra sản phẩm an toàn, có giá trị cao.
Công nghiệp chế biến gắn với nông nghiệp là giải pháp bắt buộc để nâng cao hiệu quả nông nghiệp ở tất cả các vùng.
Giá trị sản xuất và tỉ trọng chăn nuôi trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp ngày càng tăng. Năm 2021, giá trị sản xuất của ngành chiếm 34,7% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.
Tỉ trọng ngành chăn nuôi của nước ta đang có xu hướng giảm trong cơ cấu nông nghiệp.
Việc đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp là mục đích phát triển trong thời gian tới ở nước ta.
Tỉ trọng chăn nuôi còn nhỏ hơn so với trồng trọt chủ yếu do cơ sở thức ăn chưa đảm bảo, sản xuất chưa ổn định.
Trong thời gian gần đây chăn nuôi đạt được nhiều thành tựu nhưng cũng có nhiều khó khăn, lớn nhất là tình hình dịch bệnh phức tạp.
