WorksheetsGDQP part 2
Total questions: 42
Worksheet time: 29mins
Đâu là dấu hiệu thứ nhất về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường?
Là hành vi thực tế của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới dạng hành động và
không hành động gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội về lĩnh vực môi
trường được Nhà nước xác lập và bảo vệ.
Là hành vi phi thực tế của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới dạng hành động
và không hành động gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội về lĩnh vực môi
trường được Nhà nước xác lập và bảo vệ.
Là hành vi thực tế của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới dạng hành động gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội về lĩnh vực môi trường được Nhà nước
xác lập và bảo vệ.
Là hành vi phi thực tế của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới dạng hành động
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội về lĩnh vực môi trường được Nhà
nước xác lập và bảo vệ.
Theo dấu hiệu thứ nhất về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là gì?
Vi phạm pháp luật về môi trường phải là kết quả của ý thức của con người, được thể hiện ra thế
giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thể.
Vi phạm pháp luật về môi trường phải là kết quả của nhận thức và ý chí của con người, được thể
hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thể.
Vi phạm pháp luật về môi trường phải là kết quả của ý thức và trách nhiệm của con người, được
thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thể.
Vi phạm pháp luật về môi trường phải là kết quả của ý thức và hành động của con người, được
thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thể.
Đâu là dấu hiệu thứ hai về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là gì?
Là hành vi trái pháp luật.
Là hành vi trái khuôn phép.
Là hành vi trái quy định.
Là hành vi phá hoại
Đâu là dấu hiệu thứ ba về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là gì?
Vi phạm pháp luật về môi trường phải do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện.
Vi phạm pháp luật về môi trường phải do cá nhân có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện.
Vi phạm pháp luật về môi trường phải do người dân có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện.
Vi phạm pháp luật về môi trường phải do tội phạm có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện
Khi nào thì một người được coi là có năng lực trách nhiệm pháp lí?
Khi họ đạt đến độ tuổi do pháp luật quy định đồng thời có khả năng nhận thức và điều khiển hành
vi của mình.
Khi họ đã lập gia đình đồng thời có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình
Khi họ đạt 20 tuổi đồng thời có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.
Khi họ đạt đến độ tuổi do pháp luật quy định.
Đâu là dấu hiệu thứ tư về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là gì?
Vi phạm pháp luật về môi trường luôn chứa đựng lỗi của chủ thể.
Vi phạm pháp luật về môi trường phải do cá nhân có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện.
Vi phạm pháp luật về môi trường luôn chứa đựng lỗi của khách thể
Vi phạm pháp luật về môi trường phải do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện.
Theo các bạn, hành vi lỗi của chủ thể trong vi phạm pháp luật là gì?
Là trạng thái tâm lí phản ánh thái độ tiêu cực của một người đối với hành vi trái pháp luật của họ
và hậu quả hành vi đó.
Là trạng thái tâm lí phản ánh thái độ tích cực của một người đối với hành vi trái pháp luật của họ
và hậu quả hành vi đó.
Là trạng thái tâm lí bất ổn của một người đối với hành vi trái pháp luật của họ và hậu quả hành vi
đó.
Là trạng thái tâm lí phẫn nộ của một người đối với hành vi trái pháp luật của họ và hậu quả hành
vi đó
Khi nào thì một người bị coi là có lỗi khi thực hiện một hành vi trái pháp luật về môi
trường?
Đó là sự tự lựa chọn, quyết định và thực hiện của chính chủ thể trong khi có đủ điều kiện để lựa
chọn, quyết định và thực hiện một xử sự khác phù hợp với các quy định của pháp luật.
Đó là sự tự lựa chọn, quyết định và thực hiện của chính khách thể trong khi có đủ điều kiện để lựa
chọn, quyết định và thực hiện một xử sự khác phù hợp với các quy định của pháp luật.
Đó là sự bắt buộc của chính chủ thể trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn, quyết định và thực hiện
một xử sự khác phù hợp với các quy định của pháp luật.
Là trạng thái tâm lí bị kiểm soát của một người đối với hành vi trái pháp luật của họ.
Có bao nhiêu dấu hiệu vi phạm pháp luật về lĩnh vực bảo vệ môi trường?
4
5
6
7
Các yếu tố để cấu thành vi phạm pháp luật về môi trường?
Mặt chủ quan, khách quan, chủ thể và khách thể vi phạm pháp luật về môi trường.
Mặt chủ quan, pháp nhân, chủ thể và khách thể vi phạm pháp luật về môi trường.
Mặt chủ quan, khách quan, cá thể và khách thể vi phạm pháp luật về môi trường.
Mặt chủ quan, pháp nhân, cá thể và khách thể vi phạm pháp luật về môi trường.
Phần lớn các tội phạm về môi trường thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức nào?
Hình thức lỗi cố ý
Hình thức lỗi vô ý
Nhận thức kém về môi trường
Ý thức kém về môi trường
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về môi trường gồm những nội dung gì?
Là toàn bộ diễn biến tâm lí của chủ thể khi vi phạm pháp luật bao gồm lỗi, động cơ, mục đích
Là toàn bộ diễn biến tâm lí của khách thể khi vi phạm pháp luật bao gồm lỗi, động cơ, mục đích
Là toàn bộ những hành động vi phạm của chủ thể khi vi phạm pháp luật
Là toàn bộ những hành động vi phạm và ý thức kém về môi trường
Chủ thể của vi phạm pháp luật về môi trường là những ai?
Cá nhân hay tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lí
Cá nhân hay công ty có năng lực trách nhiệm pháp lí
Cá nhân hay nhóm người có năng lực trách nhiệm pháp lí
Cá nhân hay tập thể có năng lực trách nhiệm pháp lí
Động lực nào thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về môi trường?
Động cơ vi phạm
Ham muốn vi phạm
Dã tâm vi phạm
Mục đích vi phạm
Theo các bạn thì vi phạm pháp luật về môi trường có các nguyên nhân nào?
Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân của chủ thể và nguyên nhân chủ quan.
Nguyên nhân khách thể và nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân từ khách thể vi phạm và nguyên nhân chủ quan.
Đâu là nguyên nhân, điều kiện khách quan của vi phạm pháp luật về môi trường?
Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhiều chính sách ưu đãi để phát triển kinh tế mà
không quan tâm đến bảo vệ môi trường
Áp lực tăng trưởng kinh tế, các cá nhân, tổ chức mới chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt, chưa
chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường.
Công tác quản lý nhà nước về môi trường còn hạn chế. Hệ thống văn bản pháp luật về môi trường
hiện nay đang trong giai đoạn bổ sung.
Áp lực tăng trưởng kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt, chưa
chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường
Đâu là nguyên nhân khách quan của vi phạm pháp luật về môi trường?
Sự phát triển “quá nhanh” và “nóng” của kinh tế - xã hội không tính đến yếu tố bảo vệ môi trường
Áp lực tăng trưởng kinh tế, các cá nhân, tổ chức mới chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt, chưa
chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường.
Công tác quản lý nhà nước về môi trường còn hạn chế. Hệ thống văn bản pháp luật về môi trường
hiện nay đang trong giai đoạn bổ sung.
Áp lực tăng trưởng kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt, chưa
chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường
Đâu là nguyên nhân, điều kiện chủ quan của vi phạm phápluật về môi trường?
Nhận thức của một số bộ phận các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường chưa cao, ý
thức bảo vệ môi trường của các cơ quan, doanh nghiệp và công dân còn kém, chưa tự giác, vấn đề
bảo vệ môi trường chưa được quan tâm chú trọng đúng mức.
Nhận thức của một số bộ phận các cơ quan quản lý nhà nước chỉ chú trọng phát triển kinh tế chưa
coi trọng công tác bảo vệ môi trường; chưa thực hiện các biện pháp thu hút đầu tư, các cam kết bảo
vệ môi trường, đầu tư hệ thống hạ tầng đảm bảo cho công tác xử lý chất thải, rác thải.
Các cơ quan chức năng phát huy vai trò, trách nhiệm trong phòng, chống vi phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường.
Chính quyền các cấp, các ngành phải thực hiện các biện pháp thu hút đầu tư, cấp phép dự án chưa
quan tâm chỉ đạo thực hiện các cam kết bảo vệ môi trường, đầu tư hệ thống hạ tầng đảm bảo cho
công tác xử lý chất thải, rác thải.
Đâu là nguyên nhân thuộc về phía đối tượng vi phạm pháp luật về môi trường?
Ý thức coi thường pháp luật, có lối sống thiếu kỷ cương.
Chấp hành nghiêm pháp luật và tuân thủ các quy tắc, chuẩn mực xã hội
Ý thức sai lệch về cách thỏa mãn nhu cầu cá nhân là yếu tố chủ quan dẫn đến các hành vi vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường của các đối tượng.
Ý thức bảo vệ môi trường kém, chưa tuân thủ các quy tắc, chuẩn mực xã hội.
Phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường là gì?
Là hoạt động các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân bằng việc sử dụng tống hợp
các biện pháp, phương tiện nhằm ngăn chặn, hạn chế tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường; phát hiện, loại trừ các nguyên nhân, điều kiện của vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;
khi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường xảy ra thì hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tác hại,
kịp thời phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Là hoạt động ngăn chặn, hạn chế tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; phát hiện, loại
trừ các nguyên nhân, điều kiện của vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Là hoạt động phát hiện, loại trừ các nguyên nhân, điều kiện của vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường; khi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường xảy ra thì hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả
tác hại, kịp thời phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Là hoạt động hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tác hại, kịp thời phát hiện, điều tra, xử lý các
hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Hãy chỉ ra đâu là đặc điểm của phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường?
Chủ thể tham gia phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường rất đa dạng.
Lực lượng công an là chủ thể tham gia phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Lực lượng cảnh sát môi trường là chủ thể tham gia phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường.
Các doanh nghiệp là đối tượng trong phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Hãy chỉ ra đâu là nội dung của phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường?
Xây dựng các kế hoạch, biện pháp, các giải pháp chủ động hạn chế các nguyên nhân, khắc phục
các điều kiện của vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các chủ
thể tham gia trên cơ sở chức năng, quyền hạn được phân công.
Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các chủ
thể tham gia trên cơ sở chức năng, quyền hạn được phân công
Lực lượng cảnh sát môi trường là chủ thể tham gia phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường.
Trong phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, đâu là biện pháp phòng,
chống chung?
Biện pháp tổ chức – hành chính; kinh tế; khoa học – công nghệ; Biện pháp tuyên truyền, giáo dục;
Biện pháp pháp luật.
Biện pháp tuyên truyền; khoa học – công nghệ; nhắc nhở các cá nhân tổ chức chấp hành pháp luật.
Biện pháp pháp ngăn ngừa các hành vi, vi phạm luật khoa học và công nghệ môi trường.
Biện pháp tuyên truyền qua internet để người dân không vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Tham gia phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường gồm những chủ thể
nào?
Đảng lãnh đạo Nhà nước, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân
tham gia vào phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thông qua việc hoạch định các
chủ trương, chính sách, ban hành các văn bản hướng dẫn, nghị quyết, chỉ thị.
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; Bộ Tư pháp; Bộ Tài chính; các tổ chức xã hội, đoàn thể
quần chúng và công dân.
Hộ gia đình và công dân; các cơ quan bảo vệ pháp luật (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, hội cụ
chiến binh, hội phụ nữ, khu phố ….).
Chính phủ và Ủy bân nhân dân các cấp; Bộ Tài nguyên môi trường; Bộ Xây dựng; Bộ Y tế; Bộ
Thông tin truyền thông; các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng và công dân.
Sinh viên có trách nhiệm như thế nào trong tham gia phòng chống vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường?
Nắm vững các quy định của pháp luật phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Xây
dựng ý thức trách nhiệm trong các hoạt động bảo vệ môi trường như sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả
các nguồn tài nguyên (nước, năng lượng,.);
Tham gia các phong trào về bảo vệ môi trường, hạn chế sử dụng các phương tiện giao thông cá
nhân để bảo vệ môi trường không khí;
Ý thức thức trách nhiệm với môi trường như sống thân thiện với môi trường xung quanh; tích cực
trồng cây xanh; tham gia thu gom rác thải tại nơi sinh sống và học tập.
Xây dựng ý thức trách nhiệm trong các hoạt động bảo vệ môi trường như sử dụng tiết kiệm, có
hiệu quả các nguồn tài nguyên.
Nhà trường có trách nhiệm như thế nào trong tham gia phòng chống vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường?
Phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức các buổi tuyên truyền, tọa đàm trao đổi, các cuộc
thi tìm hiểu về bảo vệ môi trường và phòng, chống vi phạm pháp luật khác về môi trường.
Tham gia các phong trào về bảo vệ môi trường, hạn chế sử dụng các phương tiện giao thông cá
nhân để bảo vệ môi trường không khí;
Xây dựng ý thức thức trách nhiệm với môi trường như sống thân thiện với môi trường xung quanh;
tích cực trồng cây xanh; tham gia thu gom rác thải tại nơi sinh sống và học tập.
Xây dựng ý thức trách nhiệm trong các hoạt động bảo vệ môi trường như sử dụng tiết kiệm, có
hiệu quả các nguồn tài nguyên.
Hành vi nào dưới đây không phải là hành vi vi phạm hành chính về môi trường?
Hành vi hủy hoại rừng
Hành vi vi phạm về bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên
Hành vi cản trở hoạt động quản lý nhà nước
Hành vi vi phạm các quy định về khắc phục sự cố môi trường
Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong nhà
trường là trách nhiệm của?
Nhà trường và sinh viên.
Sinh viên.
Nhà trường.
Không phải trách nhiệm của Nhà trường và sinh viên.
Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm an toàn giao thông:
Chủ thể; Khách thể; Mặt khách quan, mặt chủ quan của các tội phạm.
Mặt khách quan, mặt chủ quan của các tội phạm xâm phạm an toàn giao thông
Chủ thể của các tội phạm xâm phạm an toàn giao thông.
Chủ thể; Mặt khách quan của các tội phạm xâm phạm an toàn giao thông.
Bị xử phạt vi phạm vì vượt đèn đỏ khi tham gia giao thông thuộc loại vi phạm nào dưới
đây?
Vi phạm hành chính
Vi phạm hình sự
Vi phạm dân sự
Vi phạm an toàn giao thông.
Theo các bạn vai trò của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông là gì?
Là cơ sở, công cụ pháp lý quan trọng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo đảm trật
tự, an toàn giao thông.
Là cơ sở, công cụ pháp lý quan trọng để thực hiện chức năng xử phạt về bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông.
Là cơ sở, công cụ pháp lý quan trọng để thực hiện chức năng tố tụng về bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông.
Là cơ sở, công cụ pháp lý quan trọng để thực hiện chức năng kiểm soát về bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông
Vai trò của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông nhằm mục đích thể hiện điều
gì?
Là ý chí của Nhà nước để chỉ đạo và tổ chức thực hiện bảo đảm trật tự, an toàn giao thông
Là ý chí của Chính phủ để chỉ đạo và tổ chức thực hiện bảo đảm trật tự, an toàn giao thông
Là cơ sở, công cụ pháp lý quan trọng để thực hiện chức năng tố tụng về bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông.
Là cơ sở, công cụ pháp lý quan trọng để thực hiện chức năng kiểm soát về bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông.
Hãy chỉ ra một số nội dung cơ bản của pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông?
Các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội; Trung ương, địa phương; các bộ, ngành ban hành
có liên quan đến bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
Các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội; Nhà nước, các bộ, ngành ban hành có liên quan
đến bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
Các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội; Chính phủ, địa phương; các bộ, ngành ban hành có
liên quan đến bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
Các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước; Chính phủ, địa phương; các bộ, ngành ban hành
có liên quan đến bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
Hãy trình bày khái niệm vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông?
Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực
bảo đảm trật tự, an toàn giao thông được Nhà nước xác lập và bảo vệ.
Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách
cố ý xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao
thông được Nhà nước xác lập và bảo vệ
Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật, do người không có năng lực trách nhiệm pháp lý
thực hiện một cách cố ý xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo đảm
trật tự, an toàn giao thông được Nhà nước xác lập và bảo vệ.
Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người không có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo đảm trật
tự, an toàn giao thông được Nhà nước xác lập và bảo vệ.
Có mấy loại vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông?
Tội phạm về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo đảm trật
tự, an toàn giao thông.
Tội phạm về đảm trật tự, an toàn giao thông; vi phạm hình sự trong lĩnh vực đảm trật tự, an toàn
giao thông
Tội phạm về đảm trật tự, an toàn giao thông; pháp nhân vi phạm trong lĩnh vực đảm trật tự, an
toàn giao thông
Tội phạm về đảm trật tự, an toàn giao thông; cá nhân vi phạm trong lĩnh vực đảm trật tự, an toàn
giao thông.
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải có điều kiện nào sau đây?
Có sức khỏe, đủ tuổi, có giấy phép lái xe theo qui định của Luật giao thông đường bộ, bảo đảm
điều khiển xe an toàn
Đủ tuổi theo qui định của pháp luật
Đã học lái xe.
Có giấy chứng minh nhân dân/ căn cước công dân.
Có mấy dấu hiệu vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông?
4
5
6
7
Đâu là dấu hiệu thứ nhất về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông?
Là hành vi thực tế của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới dạng hành động và
không hành động gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội về lĩnh vực bảo
đảm trật tự, an toàn giao thông được Nhà nước bảo vệ.
Là hành vi phi thực tế của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới dạng hành động
và không hành động gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội về lĩnh vực bảo
đảm trật tự, an toàn giao thông được Nhà nước bảo vệ.
Là hành vi thực tế của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới dạng hành động gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội về lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao
thông được Nhà nước bảo vệ.
Là hành vi phi thực tế của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới dạng hành động
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội về lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông được Nhà nước xác lập và bảo vệ.
Theo dấu hiệu thứ nhất về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông?
Vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông phải là kết quả của ý thức của con người,
được thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thể.
Vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông phải là kết quả của nhận thức và ý chí
của con người, được thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thể.
Vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông phải là kết quả của ý thức và trách nhiệm
của con người, được thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thể
Vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông phải là kết quả của ý thức và hành
động của con người, được thể hiện ra thế giới khách quan bằng hành vi thực tế cụ thể.
Đâu là dấu hiệu thứ hai về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông?
Là hành vi trái pháp luật
Là hành vi trái chống phá.
Là hành vi trái quy định.
Là hành vi phá hoại
Cơ sở pháp lí để xác định tính trái pháp luật trong một hành vi cụ thể về vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông?
Là sự quy định trước của pháp luật
Là sự quy định trước của Nghị định
Là hành vi trái quy định.
Là hành vi phá hoại
Đâu là dấu hiệu thứ ba về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn
giao thông?
Vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông phải do chủ thể có năng lực trách nhiệm
pháp lí thực hiện.
Vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông phải do cá nhân có năng lực trách nhiệm
pháp lí thực hiện.
Vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông phải do người dân có năng lực trách
nhiệm pháp lí thực hiện.
Vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông phải do tội phạm có năng lực trách nhiệm
pháp lí thực hiện.
