NEW
Font size
WorksheetsChương 3 Phần 2
Total questions: 36
Worksheet time: 18mins
Tại khoản 1, Điều 15, Giáo dục hòa nhập, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
A. Giáo dục hòa nhập là phương pháp giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của người học; đảm bảo quyền học tập bình đẳng, chất lượng giáo dục, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử;
B. Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của người học; bảo đảm quyền học tập bình đẳng, chất lượng giáo dục, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử;
C. Giáo dục hòa nhập là hình thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng của người học; bảo đảm quyền học tập bình đẳng, hiệu quả giáo dục, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử;
D. Giáo dục hòa nhập là nội dung giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của người học; bảo đảm quyền học tập công bằng, chất lượng giáo dục, phù hợp với nguyện vọng, đặc điểm và năng lực của người học; tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử;
Tại khoản 2, Điều 15, Giáo dục hòa nhập, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Bộ Giáo dục và Đào tạo có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan;
Nhà nước có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan;
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hỏa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan;
Chính phủ có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan
Tại khoản 1, Điều 16, Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn thể nhân dân;
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của mọi công dân;
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của mọi tầng lớp nhân dân;
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân;
Tại khoản 2, Điều 16, Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:Tại khoản 2, Điều 16, Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư quanNhà nước giữ vai trò lãnh đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao
Nhà nước giữ vai trò chỉ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao
Nhà nước giữ vai trò tổ chức trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích xây dựng các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao
Câu 47. Tại khoản 3, Điều 17, Đầu tư cho giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ chốt trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chính trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Câu 48. Tại khoản 1, Điều 18, Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục;
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục;
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục;
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục
Tại khoản 2, Điều 18, Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Cán bộ quản lý giáo dục có trách nhiệm học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và thực hiện các chuẩn, quy chuẩn theo quy định của pháp luật;
Cán bộ quản lý giáo dục có nghĩa vụ học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và thực hiện các chuẩn, quy chuẩn theo quy định của pháp luật;
Cán bộ quản lý giáo dục có nhiệm vụ học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và thực hiện các chuẩn, quy chuẩn theo quy định của pháp luật;
Cán bộ quản lý giáo dục có nghĩa vụ học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý điều hành và thực hiện các tiêu chí, tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước;
Tại khoản 3, Điều 18, Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Chính phủ có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục;
Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục;
Bộ Giáo dục và Đào tạo có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục;
Nhà nước có chính sách xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục;
Tại khoản 1, Điều 19, Hoạt động khoa học và công nghệ, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Hoạt động khoa học và công nghệ là một trách nhiệm của cơ sở giáo dục;
Hoạt động khoa học và công nghệ là một yêu cầu của cơ sở giáo dục;
Hoạt động khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ của cơ sở giáo dục;
Hoạt động khoa học và công nghệ là một mục tiêu của cơ sở giáo dục;
Tại khoản 3, Điều 19, Hoạt động khoa học và công nghệ, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà nước tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm văn hóa, khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước;
Chính phủ tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm văn hóa, khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước;
Nhà nước tạo môi trường thuận lợi cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước;
Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước;
Tại Điều 20, Không truyền bá tôn giáo trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Không tổ chức truyền bá tôn giáo, tiến hành các lễ nghi tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân;
Không thực hiện truyền bá tôn giáo, tiến hành các lễ nghi tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân;
Không truyền bá tôn giáo, tiến hành các lễ nghi tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân;
Không truyền bá tôn giáo, tổ chức các lễ nghi tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân;
Tại Khoản 1, Điều 21, Cẩm lợi dụng hoạt động giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục để chống lại các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm trái quy định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội;
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục để truyền bá mê tín, hủ tục.Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục để chống lại các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm trái quy định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội
Cẩm lợi dụng hoạt động giáo dục để truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tộ nạn xã hội; xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo loạn, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toán dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội
Tại Khoản 2, Điều 21, Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi;
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích chính trị;
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích kinh tế;
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích An ninh Quốc phòng;
Tại Khoản 1, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm cơ thể nhà giáo, cán bộ, người lao động của cơ sở giáo dục và người học;
Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ, người lao động của cơ sở giáo dục và người học;
Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể giáo viên, cán bộ, người lao động của cơ sở giáo dục và người học;
Xúc phạm nhân phẩm, uy tín, xâm phạm thân thể giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, người lao động của cơ sở giáo dục và người học;
Tại Khoản 2, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Xuyên tạc chương trình giáo dục;
Xuyên tạc phương pháp giáo dục;
Xuyên tạc nội dung giáo dục;
Xuyên tạc hình thức giáo dục;
Tại Khoản 3, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Gian dối trong học tập, kiểm tra, thi, tuyển sinh;
Gian lận trong học tập, kiểm tra, đánh giá, thi, tuyển sinh;
Gian dối trong học tập, thi cử, kiểm tra, tuyển sinh;
Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi, tuyển sinh;
Tại Khoản 4, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Hút thuốc; uống rượu, bia; gây rối an ninh, trật tự;
Hút thuốc; uống rượu, uống bia; gây mất an ninh, trật tự;
Hút thuốc; uống rượu, uống bia; làm ảnh hưởng an ninh, trật tự;
Hút thuốc; uống rượu, uống bia; gây rối trật tự, an ninh;
Tại Khoản 5, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Bắt buộc học sinh học thêm để thu tiền;
Ép buộc học sinh học thêm để thu tiền;
Yêu cầu học sinh học thêm để thu tiền;
Ép buộc học sinh học thêm để kiếm tiền;
Tại Khoản 6, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Lợi dụng việc ủng hộ, tài trợ giáo dục để bắt buộc đóng góp các khoản tiền hoặc hiện vật;
Lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ các hoạt động giáo dục để đề nghị đóng góp tiền hoặc hiện vật;
Lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ giáo dục để ép buộc đóng góp tiền hoặc hiện vật;
Lợi dụng việc ủng hộ, tài trợ giáo dục để yêu cầu đóng góp tiền hoặc hiện vật;
Tại Khoản 1, Điều 23, Vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non là cấp học đầu đời trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi;
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc gia, đặt nền tảng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi;
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền tảng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, dạy học tr
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi
Tại Khoản 2, Điều 23, Vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một;
Giáo dục mầm non nhằm giáo dục toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một;
Giáo dục mầm non nhằm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một;
Giáo dục mầm non nhằm phát triển giáo dục, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một
Tại Khoản 1, Điều 24, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nội dung giáo dục mầm non phải đảm bảo hợp lý với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; hài hòa giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em; phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ; tôn trọng sự khác biệt, phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học;
Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em; phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ; tôn trọng sự khác biệt, phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học;
Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; cân bằng giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em; phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất, tình cảm, kỹ năng sống, kỹ năng xã hội, thẩm mỹ, tôn trọng sự khác biệt, phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học:
Nội dung giáo dục mầm non phải đảm bảo hợp lý với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; hài hòa giữa chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em, phát triển cân bằng về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ, tôn trọng sự khác biệt, phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học
Tại Khoản 2a, Điều 24, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý:
Giáo dục mẫu giáo phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc
Giáo dục nhà trẻ phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;
Giáo dục nhà trẻ phải tạo môi trường thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn kết giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển sáng tạo các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;
Tại Khoản 2b, Điều 24, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non phải tạo môi trường cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Giáo dục nhà trẻ phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Giáo dục mẫu giáo phải tạo cơ hội cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Giáo dục mẫu giáo phải tạo điều kiện cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Tại Khoản 1c, Điều 25, Chương trình giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Thống nhất trong toàn quốc và được triển khai thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non;
Thống nhất trong cả nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non;
Thống nhất trong cả nước và được tổ chức triển khai thực hiện linh hoạt, hợp lý với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non;
Thống nhất trong toàn quốc và được tổ chức thực hiện linh động, phủ hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và trường mầm non;
Tại Khoản 1, Điều 26, Cơ sở giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà trẻ, nhóm trẻ dân lập nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;
Nhà trẻ, nhóm trẻ công lập nhận giữ trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;
Nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;
Nhà trẻ, nhóm trẻ tư thục nhận trông trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;
Tại Khoản 2, Điều 26, Cơ sở giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo công lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo dân lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo tư thục nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Tại Khoản 3, Điều 26, Cơ sở giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Trường mầm non, lớp mầm non độc lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.;
Trường mẫu giáo, lớp mầm non công lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.;
Trường mầm non, lớp mẫu giáo dân lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.;
Trường mẫu giáo, nhà trẻ độc lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.;
Tại Khoản 1, Điều 27, Chính sách phát triển giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội rất khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp,
Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp:
Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội thật sự khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp;
Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bảo dân tộc thiểu số, vùng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp;
Tại Khoản 1a, Điều 28, Cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục tiểu học được học trong thời gian 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục tiểu học được tổ chức trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục tiểu học được hoàn thành trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm;
Tại Khoản 1b, Điều 28, Cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục trung học cơ sở được tổ chức thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải học hết chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục trung học cơ sở được hoàn thành trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thiện chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục trung học cơ sở được triển khai trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải học xong chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tỉnh theo năm
Tại Khoản 1c, Điều 28, Cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
A. Giáo dục trung học phổ thông được tổ chức thực hiện trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải hoàn thành chương trình trung học cơ sở. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm;
B. Giáo dục trung học phổ thông được triển khai trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải hoàn thiện chương trình trung học cơ sở. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm;
C. Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tỉnh theo năm;
D. Giáo dục trung học phổ thông được hoàn thành trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm;
Tại Khoản 2a, Điều 28, Cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Học sinh học vượt lớp trong trường hợp phát triển sớm về kỹ năng;
Học sinh học vượt lớp trong trường hợp phát triển sớm về kiến thức;
Học sinh học vượt lớp trong trường hợp phát triển sớm về thể chất;
Học sinh học vượt lớp trong trường hợp phát triển sớm về trí tuệ;
Tại Khoản 1, Điều 29, Mục tiêu của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Giáo dục phổ thông nhằm phát triển mọi mặt cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thầm mỹ, kỹ năng, thái độ, năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đức, trí, thể, mỹ, kỹ năng, thái độ, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
A. Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng xã hội, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành phẩm chất con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nghĩa vụ công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tại Khoản 2, Điều 29, Mục tiêu của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục tiểu học nhằm phát triển những cơ sở ban đầu về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở;
Giáo dục tiểu học nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở;
Giáo dục tiểu học nhằm hình thành và phát triển nhân cách, phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở;
Giáo dục tiểu học nhằm hình thành phát triển phẩm chất, đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở;
Tại khoản 1, Điều 17, Đầu tư cho giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư hàng đầu. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật;
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư quan trọng. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật;
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư hiệu quả. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật;
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật;
