Font size
WorksheetsHK1 làm TVy tự hào
Total questions: 180
Worksheet time: 2hrs 38mins
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.
Hình 3 là tên viết tắt bằng tiếng Anh của trụ cốt chính nào trong Cộng đồng ASEAN được thành lập năm
Đà Nẵng và Khánh Hòa.
Giành chính quyền ở các đô thị rồi lan toả về các vùng nông thôn.
Việt Nam buộc quân Pháp phải chấp nhận rút khỏi thủ đô Hà Nội.
Phá sản bước đầu các kế hoạch quân sự của Pháp.
Lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập.
Không đàm phán.
Sau HK1 này
TVy tự hào
Lụm chai chanel
“Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Mục đích của nó là làm cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách đế quốc, làm cho nước Việt Nam thành một nước độc lập, tự do. Song, vì nó chống phát xít Nhật và bọn phong kiến phản động, tay sai của phát xít Nhật và nó là một bộ phận của cuộc chiến đấu vĩ đại của các lực lượng dân chủ, tiến bộ thế giới chống phát xít xâm lược, nên nó cũng có tính chất dân chủ...”.
Mục đích của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là giành độc lập, tự do cho Việt Nam.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã lật đổ ách thống trị của đế quốc, phát xít và khôi phục lại
chế độ phong kiến.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã góp phần vào chiến thắng phát xít của phe Đồng minh và
hoàn thành nhiệm vụ dân tộc, dân chủ.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam và Cách mạng tháng Mười năm 1917 ở Nga đều là các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, Chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng Chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...”.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời nhằm kêu gọi nhân dân
Việt Nam kháng chiến chống Mỹ.
Lời kêu gọi thể hiện quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập tự do của Nhân dân Việt Nam.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến thể hiện thiện chí hòa bình của Nhân dân Việt Nam.
Trong việc giải quyết các vấn đề xung đột hiện nay, Việt Nam cần vận dụng biện pháp giải quyết bằng con đường hòa bình.
“Thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đã đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc
chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. Thắng lợi đó được bắt nguồn từ truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, từ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, chiến đấu với ý chí quyết chiến, quyết thắng vì độc lập, tự do của Tổ quốc; đánh dấu thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng....”.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) là dấu mốc kết thúc của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) tác động mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Âu và Mĩ Latinh.
Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) là nhân tố quan trọng góp phần thắng lợi trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
“....Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân...Con đường đó lấy sức mạnh quần của chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1959) ra đời trong bối cảnh cách mạng miền Nam Việt Nam đấu tranh chống Mỹ - Diệm.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1959) đánh dấu cách mạng miền Nam Việt Nam chuyển sang hình thức đấu tranh chính trị hòa bình.
Quần chúng nhân dân là động lực chủ yếu đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).
Vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
“Ngày 6/4/1972, Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai ra miền Bắc với quy mô lớn hơn, tính chất ác liệt, tàn bạo hơn nhiều so với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất...Sau 12 ngày đêm anh dũng chiến đấu (từ ngày 18/12 đến 29/12/1972), quân và dân Thủ đô cùng các địa phương khác của miền Bắc đã đập tan dã tâm của địch. Cuộc tập kích đường không của Mỹ đã bị thiệt hại tới 81 máy bay, trong đó có 34 B-52. Riêng Hà Nội bắn rơi 25 B-52. Đây thực sự là một chiến công mang tầm vóc thời đại, một trận “Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấp nhận rút quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới ở Việt Nam...”.
Thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” diễn ra trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của Mỹ.
Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam vì muốn nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
Trong hai lần tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, Mỹ đều bị tổn thất nặng nề
Hiệp định Paris (1973) là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.
“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân Việt Nam (1954 - 1975) là sự kiện mang tính dân tộc.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam (1954 - 1975) có tác động to lớn đến thế giới, làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới.
Thắng lợi của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) cho thấy nhân tố con người giữ vai trò quyết định.
Một trong những bài học kinh nghiệm của Việt Nam sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) là cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
“Khối đại đoàn kết toàn dân tuy có phạm vi rộng rãi nhưng lại được tổ chức một cách có hệ thống để phối hợp hành động, do đó sức mạnh của đoàn kết toàn dân được tăng lên gấp bội. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã được toàn dân tiến hành một cách có tổ chức... nên dù trải qua nhiều hi sinh, gian khổ lâu dài nhưng cuối cùng đã giành được thắng lợi”.
Khối đại đoàn kết toàn dân là bao gồm toàn bộ người dân Việt Nam trong một khối thống nhất.
Đoàn kết toàn dân chỉ tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc Việt Nam trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.
Khối đại đoàn kết dân tộc đóng vai trò nền tảng tạo nên sức mạnh tổng hợp, là nhân tố quyết định thắng lợi trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn hiện nay, việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc là yếu tố góp phần ổn định xã hội, phát huy sức mạnh của toàn dân.
“Cách mạng tháng Tám năm 1945 mở ra bước ngoặt lớn của dân tộc: kết thúc ách cai trị hơn 80 năm của thực dân Pháp và gần 5 năm của quân phiệt Nhật; chấm dứt vĩnh viễn chế độ quân chủ. Đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Mở đầu kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do, nhân dân lao động nắm chính quyền, làm chủ đất nước, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội. Đưa Đảng Cộng sản Đông Dương từ một đảng bí mật trở thành đảng cầm quyền, chuẩn bị điều kiện tiên quyết cho những thắng lợi tiếp theo của cách mạng Việt Nam.”
Cách mạng tháng Tám đã kết thúc chế độ thực dân và phong kiến ở Việt Nam.
Sau Cách mạng tháng Tám, Việt Nam có hòa bình và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước của giai cấp công nông và nhân dân.
Cách mạng tháng Tám đã xóa bỏ hoàn toàn những tàn tích của chế độ quân chủ.
“Suốt dọc đường đi bộ về Hà Nội, [Võ Nguyên] Giáp và binh sỹ của ông đón nhận sự ủng hộ rầm rộ của dân chúng địa phương. Những lá cờ đỏ sao vàng bay trên mọi làng ông đi qua. Sau khi đến Gia Lâm, gần Hà Nội những tiền đồn của quân Nhật đã chặn đường. Sau một hồi tranh cãi, quân Nhật đã để cho họ đi qua... Tinh thần dân chúng đã đổi thay khi họ biết Việt Minh đã giành chính quyền ở Hà Nội... Các tội phạm đã biến mất. Ngay đến những vụ trộm và cướp giật cũng giảm hẳn”.
Tư liệu trên nói về những sự kiện liên quan đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Hà Nội đã giành chính quyền sau khi tiêu diệt hoàn toàn quân đội phát xít Nhật.
Quần chúng nhân dân đã giành sự ủng hộ rất to lớn cho các lực lượng cách mạng.
Võ Nguyên Giáp là lãnh tụ tối cao của Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam.
Tư liệu 1: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”
Tư liệu 2: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.”
Tư liệu 1 trích từ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tư liệu 1 khẳng định, Việt Nam độc lập tự do là do chiến thắng của Đồng minh.
Tư liệu 2 khẳng định Đảng Cộng sản Đông Dương đã trở thành đảng cầm quyền.
Tư liệu 2 khẳng định Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
“Quân dân Sài Gòn - Chợ Lớn cùng quân dân Nam Bộ nhất tề đứng lên chiến đấu chống quân xâm lược bằng nhiều hình thức như: đốt cháy tàu Pháp vừa cập bến Sài Gòn, đánh phá kho tàng, dựng chướng ngại vật và chiến luỹ trên đường phố.
Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tán thành, kêu gọi nhân dân cả nước ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ. Hàng vạn thanh niên gia nhập quân đội, sung vào các đoàn quân “Nam tiến” cùng với nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ chiến đấu. Cuộc chiến đấu ở Nam Bộ đã giáng đòn đầu tiên vào âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, tạo điều kiện để nhân dân Nam Bộ và cả nước chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài.”
Tư liệu nói về giai đoạn trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp bùng nổ.
Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ đã đánh bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp.
“Nam Tiến” là những đoàn quân từ phía Bắc vào chiến đấu cùng nhân dân Nam Bộ.
Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ đã mở đầu cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp.
“Thắng lợi của cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ đã đập tan hoàn toàn kế hoạch Na-va, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở cho việc đàm phán và ký Hiệp định Giơ-ne- vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương (ngày 21-7-1954).”
Tư liệu trên nói về vai trò của mặt trận quân sự trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam của Pháp.
Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký là sự phối hợp của hai mặt trận quân sự và ngoại giao.
Chiến thắng Điện Biên Phủ có tác dụng quyết định đến thắng lợi ở hội nghị Giơ-ne-vơ
“Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị của thực dân Pháp trong gần một thế kỷ ở Việt Nam. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi đã giáng đòn nặng nề vào tham vọng nô dịch của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai, góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.”
Cuộc kháng chiến chống Pháp đã chấm dứt hoàn toàn ách thống trị thực dân ở Việt Nam.
Sau kháng chiến chống Pháp, miền Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Kháng chiến chống Pháp đã góp phần xóa bỏ chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi thế giới.
Kháng chiến chống Pháp đã tạo cơ sở để Việt Nam thống nhất đất nước giai đoạn sau đó.
“Diễn ra từ tháng 10 đến tháng 12 - 1947 khi thực dân Pháp mở cuộc tấn công lên Việt Bắc. Quân đội Việt Nam chủ động bao vây, tiến công đẩy lùi quân Pháp khỏi một số vị trí quan trọng Chợ Đồn, Chợ Rã, Đoan Hùng.
Kết quả: Sau hai tháng, đại bộ phận quân Pháp phải rút chạy khỏi Việt Bắc; cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến được bảo vệ an toàn; bộ đội ta thu được nhiều vũ khí và ngày càng trưởng thành.
Ý nghĩa: Đây là chiến dịch phản công lớn đầu tiên, đã làm thất bại hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp.”
Chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947 là chiến dịch do quân Pháp chủ động mở.
Chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947 là chiến dịch phản công của Việt Nam
Sau chiến dịch Việt Bắc, Pháp thất bại trong âm mưu thuộc địa hóa Việt Nam.
Chiến dịch Việt Bắc đã tạo điều kiện đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đi lên.
“Vào 2 giờ 45 phút sáng ngày 30/1/1968, một đơn vị đặc công Việt Cộng đã dùng mìn nổ sập một mảng lớn tường bao quanh đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn và tấn công vào sân sau toà đại sứ. Trong sáu giờ tiếp theo, một trong những biểu tượng quan trọng nhất về sự hiện diện của người Mỹ tại Việt Nam đã trở thành sân khấu của một trong những màn trình diễn kịch tính nhất trong cuộc chiến tranh.Trận đánh vào đại sứ quán Mỹ chỉ là một phần nhỏ của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, một cuộc tấn công đồng loạt có hiệp đồng của Quân Giải phóng vào các khu vực đô thị quan trọng của miền Nam Việt Nam.”
Tư liệu trên nói về một sự kiện trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968.
Trận đánh trên là trận đánh quan trọng nhất trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968.
Sau Mậu Thân, Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đàm phán với Việt Nam.
Trận Mậu Thân đã mở ra cao trào “tìm Mỹ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” ở miền Nam.
“Đội quân tóc dài” (bao gồm những người phụ nữ vừa làm ruộng vừa chiến đấu) ra đời từ phong trào Đồng khởi ở Bến Tre, do đồng chí Nguyễn Thị Định lãnh đạo đã được nhân rộng khắp miền Nam, trở thành một hiện tượng độc đáo của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làm rạng rỡ thêm truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.”
“Đội quân tóc dài” là một bộ phận của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam.
“Đội quân tóc dài” ra đời từ phong trào Đồng khởi và lan rộng khắp miền Nam.
Sau phong trào Đồng khởi, cách mạng miền Nam đã chuyển sang thế tiến công.
Đội quân tóc dài là nòng cốt cho sự ra đời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.
“Cuối năm 1972, Mỹ tiến hành cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, trong 12 ngày đêm (từ ngày 18 đến ngày 29 - 12 - 1972) nhằm giành một thắng lợi quân sự quyết định buộc ta ký một hiệp định có lợi cho Mỹ. Quân và dân miền Bắc đã đánh trả không quân Mỹ những đòn đích đáng, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng đường không bằng B52 của Mỹ; thắng lợi này được coi như trận “Điện Biên Phủ trên không”. Trận “Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi
quyết định của ta, buộc Mỹ phải ngừng hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc và ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.”
Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” diễn ra trên bầu trời Điện Biện Biên Phủ.
Với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, ta buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri.
Chiến dịch ném bom 12 ngày đêm của Mỹ đã buộc Việt Nam xuống thang chiến tranh.
Chiến dịch ném bom này là biểu hiện của sự “Mỹ hóa trở lại” chiến tranh Việt Nam.
“Các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện qua đường lối và sách lược cách mạng đúng đắn, phù hợp ở từng thời kỳ như: vừa kháng chiến vừa kiến quốc tiến hành đồng thời cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao. Nghệ thuật quân sự nổi bật trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 là tiến hành chiến tranh nhân dân; kết hợp chiến tranh
du kích với chiến tranh chính quy đánh địch bằng ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận); phối hợp giữa mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch; kết hợp chặt chẽ ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích),. ”
Các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc từ 1945 mang tính chính nghĩa, tính nhân dân.
Chính trị, quân sự, binh vận là 3 mặt trận trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
Lực lượng vũ trang ba thứ quân là nòng cốt của các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
Các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc từ 1945 đều kết thúc bằng giải pháp ngoại giao.
“Chiến sự xảy ra ác liệt ở xã Thanh Thuỷ, Minh Tân, Thanh Đức... thuộc huyện Vị Xuyên, xã Bạch Đích, Phú Lũng thuộc huyện Yên Minh. Tại mặt trận Vị Xuyên đã có hơn một chục sư đoàn bộ binh luân phiên tham gia chiến đấu. Các đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ và Quân khu cùng với bộ đội địa phương, dân quân tự vệ của tỉnh và nhân dân đã quyết tâm chiến đấu giành giật với địch từng chiến hào, từng điểm cao để giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia... gần chục năm ròng, chưa khi nào Vị Xuyên ngớt tiếng pháo, đạn súng cối từ bên kia biên giới rót sang”.
Mặt trận Vị Xuyên là chiến trường ác liệt nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam của Nhân dân Việt Nam.
Cuộc chiến đấu ở Vị Xuyên cho thấy quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân Việt Na
Chiến thắng Vị Xuyên là chiến thắng của một cuộc chiến tranh nhân dân.
Một trong những bài học rút ra từ cuộc chiến đấu ở Vị Xuyên là phải luôn cảnh giác trước mọi âm mưu của kẻ thù, kể cả trong thời bình.
Liên hợp quốc đã thành công trong việc thúc đẩy quá trình phi thực dân hóa. Hiến chương Liên hợp quốc ngay từ đầu đã đề ra những nguyên tắc định hướng cho những nỗ lực phi thực dân hóa, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc và thành lập Hội đồng Quản thác để theo dõi các vùng lãnh thổ không tự quản. Năm 1960, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên bố về việc trao độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa, năm 1962 thành lập Ủy ban đặc biệt về Phi thực dân hóa để giám sát việc thực hiện. Chính những nỗ lực phi thực dân hóa này đã làm thay đổi Liên hợp quốc với sự gia tăng đáng kể số lượng thành viên từ 51 nước ban đầu lên 193 nước hiện nay.
Liên hợp quốc đã đưa ra những văn kiện quan trọng nhằm thủ tiêu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trên thế giới.
Tuyên bố về trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa của Liên hợp quốc đã chấm dứt sự tồn tại của chủ nghĩa thực dân.
Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc đã tổ chức lực lượng hỗ trợ trực tiếp phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực Mỹ Latinh.
Tuyên bố về trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa thể hiện vai trò của Liên hợp quốc vì sự tiến bộ của nhân loại.
“ASEAN được thành lập ngày 8/8/1967 thông qua Tuyên bố Bangkok, với 5 thành viên ban đầu gồm Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan. ASEAN được thành lập nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế, văn hóa - xã hội giữa các thành viên của Hiệp hội, đồng thời tạo điều kiện để các nước thành viên hội nhập sâu hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới.
...Việc Campuchia gia nhập vào ngày 30/4/1999, đã hiện thực hóa ý tưởng quy tụ đủ 10 nước Đông Nam Á dưới “mái nhà chung ASEAN”. ASEAN gồm 10 nước thành viên với sự đa dạng về chế độ chính trị, văn hóa, ngôn ngữ, trình độ phát triển, gắn kết với nhau vì mục tiêu chung, hướng đến người dân và lấy người dân làm trung tâm, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực và trên thế giới...”
Ngày 30/4/1999 khi Campuchia gia nhập, ASEAN trở thành tổ chức “toàn Đông Nam Á”.
Điều kiện tiên quyết nhất đưa đến sự thành lập tổ chức ASEAN năm 1967 là các quốc gia thành viên đều có nền kinh tế phát triển.
Gia nhập ASEAN tạo điều kiện cho Việt Nam mở rộng thị trường, thu hút thêm nhiều nguồn lực từ bên ngoài cho phát triển đất nước; hội nhập sâu rộng với khu vực và quốc tế.
Sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 chứng tỏ sự khác biệt về ý thức hệ không là rào cản hợp tác kinh tế.
“Khối đại đoàn kết toàn dân tuy có phạm vi rộng rãi nhưng lại được tổ chức một cách có hệ thống để phối hợp hành động, do đó sức mạnh của đoàn kết toàn dân được tăng lên gấp bội. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã được toàn dân tiến hành một cách có tổ chức... nên dù trải qua nhiều hi sinh, gian khổ lâu dài hưng cuối cùng đã giành được thắng lợi”.
Khối đại đoàn kết toàn dân là bao gồm toàn bộ người dân Việt Nam trong một khối thống nhất.
Đoàn kết toàn dân chỉ tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc Việt Nam trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.
Khối đại đoàn kết toàn dân là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.
Trong giai đoạn hiện nay, việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc là yếu tố góp phần ổn định xã hội, phát huy sức mạnh của toàn dân.
Tư liệu 1: “Năm 2014, Trung Quốc dùng giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, nhân dân cả nước cùng các lực lượng chức năng phối hợp đấu tranh quyết liệt, bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, buộc Trung Quốc phải rút giàn khoan khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Tư liệu 2: “Việt Nam kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế (đưa công hàm phản đối Trung Quốc về đường chín đoạn ở Biển Đông, phản đối xây dựng các đảo nhân tạo và quân sự hóa các đảo nhân tạo ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, ngăn chặn các hành vi lợi dụng ấn phẩm văn hóa xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam”.
Tư liệu 1 nói về hành động xâm phạm chủ quyền quốc gia Việt Nam của Trung Quốc.
Tư liệu 2 nói về chủ trương của Việt Nam trong giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.
Việt Nam quyết sử dụng vũ lực để giải quyết mọi tranh chấp biển đảo trên Biển Đông.
Việt Nam sử dụng luật pháp để khởi kiện ra tòa án quốc tế khi có tranh chấp chủ quyền.
“Thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đã đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. Thắng lợi đó được bắt nguồn từ truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, từ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, chiến đấu với ý chí quyết chiến, quyết thắng vì độc lập, tự do của Tổ quốc; đánh dấu thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng. ”.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) là dấu mốc kết thúc của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) tác động mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Âu và Mĩ Latinh.
Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) là nhân tố quan trọng góp phần thắng lợi trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
