WorksheetsCâu hỏi về hoạt động đối ngoại Việt Nam
Total questions: 14
Worksheet time: 7mins
Hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn từ 1945 đến 1954 có nhiệm vụ trọng tâm là gì?
Phục vụ cho kháng chiến chống Pháp.
Phục vụ cho xây dựng đất nước.
Phục vụ cho đấu tranh quân sự.
Phục vụ cho xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Từ tháng 9 - 1945 đến tháng 12 - 1946, hoạt động đối ngoại của Việt Nam nhằm
chủ động triển khai hoà hoãn với Trung Hoa Dân quốc.
thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa.
buộc Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ, rút quân về nước.
đẩy mạnh liên minh đoàn kết giữa ba nước Đông Dương.
Ý nào sau đây là nguyên nhân để Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thực hiện chủ trương hoà hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc từ tháng 9 - 1945 đến tháng 3-1946?
Chính quyền cách mạng chưa đủ sức đánh bại quân Trung Hoa Dân quốc.
Trung Hoa Dân quốc có lực lượng tay sai hỗ trợ từ bên trong.
Hạn chế việc Pháp và Trung Hoa Dân quốc câu kết với nhau.
Tránh trường hợp một mình đối đầu cùng một lúc với nhiều kẻ thù.
Một trong những bài học kinh nghiệm từ Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương được vận dụng trong đấu tranh trên bàn đàm phán và kí Hiệp định Pari 1973 về Việt Nam là gì?
Căn cứ vào bối cảnh quốc tế để có đường lối đấu tranh ngoại giao phù hợp.
Thắng lợi quân sự là yếu tố quyết định thắng lợi trên bản đàm phán.
Cần kiên trì dựa vào sự giúp đỡ của các nước lớn trong đấu tranh ngoại giao.
Hoà bình ở Việt Nam cần được giải quyết ở một hội nghị quốc tế.
Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954) có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam?
Bảo vệ và củng cố được vị thế về chính trị, quân sự và kinh tế của Việt Nam.
Buộc Pháp rút quân về nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Tạo ra thời gian hòa bình để chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến chống Pháp.
Tạo thời cơ thuận lợi để nhân dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Bài học kinh nghiệm nào được rút ra từ việc kí kết Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), cho cách mạng Việt Nam hiện nay?
Mềm dẻo trong chính sách đối ngoại.
Triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước.
Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao.
Đa phương hoá trong quan hệ quốc tế.
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quyết định kí với Pháp Hiệp định Giơ ne vơ ngày 21/7/1954 không dựa trên cơ sở nào?
Xu thế chung là giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng.
Căn cứ vào điều kiện cụ thể của cuộc kháng chiến chống Pháp.
So sánh lực lượng giữa Việt Nam và Pháp trong chiến tranh.
Cuộc Chiến tranh lạnh giữa hai phe đã đi đến hồi kết thúc.
Chủ động tiến hành đàm phán để giải quyết những bất đồng, xung đột về biên giới tr��n đất liền và trên biển là chủ trương ngoại giao của Đảng và Chính phủ Việt Nam đối với nước nào?
Lào.
Inđônêxia.
Trung Quốc.
Thái Lan.
Một trong những nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1965 - 1975 là
tiếp tục củng cố mặt trận đoàn kết ba nước Đông Dương.
đòi Mỹ - Diệm nghiêm túc thi hành Hiệp định Giơnevơ.
tố cáo cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.
ủng hộ phong trào chống chế độ Apacthai ở châu Phi.
Sách lược đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời gian từ tháng 9 - 1945 đến tháng 3-1946 là?
hoà hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc để tập trung đánh Pháp.
hoà hoãn với Pháp để tập trung đánh quân Trung Hoa Dân quốc.
hoà hoãn với Pháp và quân Trung Hoa Dân quốc.
hoà hoãn với Pháp để đuổi quân Trung Hoa Dân quốc.
Tháng 7 - 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN. Sự kiện này chứng tỏ điều gì?
Chứng tỏ sự đối đầu về ý thức hệ tư tưởng - chính trị - quân sự.
Chứng tỏ sự hợp tác giữa các nước ASEAN ngày càng hiệu quả.
Mở ra triển vọng cho sự liên kết toàn khu vực Đông Nam Á.
ASEAN đã trở thành một liên minh kinh tế - chính trị.
Một trong những hoạt động đối ngoại tiêu biểu của Việt Nam giai đoạn 1975-1985 là
tập trung cho việc xây dựng nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao.
kiên quyết đấu tranh chống lại chính sách bao vây cấm vận của Mỹ.
tiến hành công cuộc đổi mới đất nước sau thời gian dài khủng hoảng.
tranh thủ sự ủng hộ của thế giới, tham gia sáng lập Hội đồng hoà bình.
“Người Pháp có hài lục quân, thì chúng tôi có lòng dân toàn quốc Việt Nam; người Pháp có viện trợ của các nước đế quốc chủ nghĩa trên thế giới, thì chúng tôi có sự viện trợ của các nước bình dân chủ nghĩa trên toàn thế giới. Thắng lợi cuối cùng thuộc về Đảng chúng tôi".
(Phan Bội Châu, Phan Bội Châu toàn tập, Tập 3, NXB Thuận Hóa, Huế, 1990, tr.602)
Theo Phan Bội Châu, phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam cần có viện trợ từ bên ngoài.
Các hoạt động đối ngoại của Phan Bội Châu đầu thế kỉ XX đều nhằm hướng tới thành lập một mặt trận chống Pháp trên toàn Đông Dương.
Những hoạt động đối ngoại của Phan Bội Châu đã bước đầu gắn kết phong trào yêu nước Việt Nam với thế giới.
Phan Bội Châu chủ trương tìm kiếm sự viện trợ của các nước cốt để chống thực dân Pháp.
“Giữa năm 1921, tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà cách mạng của An-giê-ri,
Tuy-ni-di, Ma-rốc, Ma-đa-ga-xca... thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa... Với tư cách Trường Tiểu ban Đông Dương của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc cũng đã góp phần quan trọng vào việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các thuộc địa, đồng thời tiến hành tuyên truyền tư tưởng Mác – Lê-nin, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa và phụ thuộc".
(Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, Tập III, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2012, tr.322)
Hoạt động đối ngoại sôi nổi của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp đã đưa Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành một phân bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản.
Hội Liên hiệp thuộc địa là cơ quan lãnh đạo cao nhất của toàn bộ phong trào kháng chiến ở các thuộc địa của Pháp.
Hoạt động đối ngoại của Nguyễn Ái Quốc có mục đích tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc.
Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông năm 1921.
