Font size
WorksheetsCâu hỏi về Đông Nam Bộ
Total questions: 15
Worksheet time: 11mins
Cho thông tin sau: Đông Nam Bộ có địa hình tương đối bằng phẳng. Đất badan và đất xám phù sa cổ chiếm khoảng 80% tổng diện tích tự nhiên của vùng. Ngoài ra, trong vùng còn có đất phù sa ở hạ lưu các sông Đồng Nai, Vàm Cỏ,…Đông Nam Bộ có khí hậu mang tính chất cận xích đạo, nền nhiệt cao, ít thay đổi trong năm, phân thành hai mùa mưa, khô rõ rệt.
Đặc điểm tự nhiên của Đông Nam Bộ thích hợp cho trồng cây công nghiệp.
Đặc điểm tự nhiên của Đông Nam Bộ thuận lợi cho phát triển các sản phẩm nông nghiệp cận nhiệt.
Đông Nam Bộ có nhiệt độ trung bình năm cao, biên độ nhiệt năm thấp.
Mùa khô kéo dài do tác động của vị trí địa lí, gió và địa hình.
Cho thông tin sau: Nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho quy hoạch phát triển kinh tế. Đất có hai nhóm chính là đất ba dan có diện tích khoảng 40% và đất xám phù sa cổ có diện tích khoảng 40%, thích hợp cho phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm (cao su, điều, hồ tiêu ) và cây ăn quả.
Đông Nam Bộ là vùng có diện tích cây cao su lớn nhất cả nước.
Hiện nay, Đông Nam Bộ là một trong những vùng trồng cây ăn quả lớn của cả nước.
Mục đích của việc trồng cây ăn quả theo hướng tập trung với nhiều giống mới là sản xuất hàng hóa, đáp ứng thị trường, nâng cao giá trị.
Khó khăn chủ yếu về mặt tự nhiên đối với sản xuất cây công nghiệp và cây ăn quả của Đông Nam Bộ là đất đai nghèo dinh dưỡng.
Cho thông tin sau: Vùng Đông Nam Bộ có hệ thống sông Đồng Nai, sông Vàm Cỏ và các hồ chứa như : Dầu Tiếng, Trị An,...có giá trị phát triển thủy điện, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt. Nguồn nước nóng, nước khoáng (Bình Châu thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu), thích hợp cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng.
Đông Nam Bộ có nguồn nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt dồi dào, nhiều nước quanh năm.
Cơ sở phát triển thủy điện của Đông Nam Bộ chủ yếu dựa trên hệ thống sông Đồng Nai.
Khó khăn chủ yếu về nguồn nước của Đông Nam Bộ hiện nay là tình trạng ô nhiễm.
Giải pháp để sử dụng hiệu quả nguồn nước cho phát triển kinh tế và đời sống là tiết kiệm nước, xử lí ô nhiễm nước, phát triển thủy lợi.
Giao thông vận tải trong vùng Đông Nam Bộ được phát triển với đẩy đủ các loại hình: đường ô tô (với các tuyến quốc lộ 1, 13, 51, 22, 14,...), các tuyến cao tốc được tăng cường và mở rộng như Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương - Mỹ Thuận, các tuyến cao tốc đang được xây dựng như Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, Biên Hoà - Vũng Tàu,...; đường sắt (có tuyến đường sắt Thống Nhất); đường sông; đường biển.
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông vận tải lớn nhất Đông Nam Bộ.
Thuận lợi về tự nhiên trong phát triển giao thông vận tải biển ở Đông Nam Bộ là biển rộng, gần đường biển quốc tế.
Giao thông đường bộ của Đông Nam Bộ phát triển hơn các vùng khác chủ yếu do các ngành kinh tế phát triển mạnh.
Phát triển giao thông đường hàng không giúp Đông Nam Bộ thu hút đầu tư, đảm nhận vai trò chủ yếu trong vận chuyển hàng hóa xuất khẩu.
Tuy diện tích và trữ lượng rừng của vùng Đông Nam Bộ không lớn, song có giá trị cung cấp gỗ dân dụng, nguyên liệu giấy. Hệ thống rừng của vùng có giá trị bảo tồn tài nguyên sinh vật như: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cẩn Giờ và các vườn quốc gia Nam Cát Tiên, Bù Gia Mập, Lò Gò - Xa Mát, Côn Đảo.
Rừng ở Đông Nam Bộ phần lớn là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ.
Rừng sản xuất có vai trò chủ yếu cung cấp gỗ cho công nghiệp chế biến trong nước.
Rừng ngập mặn được trồng ven biển có vai trò chủ yếu là hạn chế tác động của gió Lào.
Giải pháp quan trọng để giữ mực nước ngầm và nước ở các hồ chứa của Đông Nam Bộ là bảo vệ và phát triển vốn rừng.
Vùng Đông Nam Bộ có công nghiệp phát triển với cơ cấu ngành đa dạng. Phát triển các ngành công nghiệp dựa trên lợi thế về tài nguyên và lao động như: công nghiệp khai thác dầu thô và khí tự nhiên, công nghiệp thực phẩm, dệt may, giày dép…, ngoài ra, vùng còn hình thành và phát triển các ngành công nghiệp mới, sử dụng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn và thân thiện với môi trường như sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính, cơ khí, chế tạo ô tô, sản xuất phần mềm.
Vùng Đông Nam Bộ có nhiều ngành công nghiệp.
Công nghiệp của vùng chỉ chú trọng phát triển các ngành có thế mạnh về tài nguyên và lao động.
Đông Nam Bộ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp.
Đông Nam Bộ đạt giá trị sản xuất công nghiệp cao bậc nhất nước.
Số dân đông, tỉ suất nhập cư thường cao, người nhập cư đa phần trong độ tuổi lao động, tạo cho vùng Đông Nam Bộ có nguồn lao động dồi dào, có kinh nghiệm sản xuất. Lao động năng động trong nền kinh tế thị trường, tỉ lệ đã qua đào tạo cao hơn mức trung bình cả nước, tạo khả năng nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Đông Nam Bộ có mật độ dân số cao hơn mức trung bình của cả nước.
Nền kinh tế phát triển mạnh nên quá trình đô thị hóa nhanh, tỉ lệ dân thành thị cao.
Đặc điểm dân cư và lao động có ý nghĩa chủ yếu cho Đông Nam Bộ phát triển kinh tế đa dạng và các ngành sử dụng nhiều lao động thủ công.
Tỉ lệ dân nhập cư đến Đông Nam Bộ cao nhất cả nước gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Một số chỉ tiêu của hoạt động nội thương vùng Đông Nam Bộ, giai đoạn 2010 - 2021
Năm
2010
2015
2020
2021
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (Nghìn tỉ đồng)
616,1
1070,9
1570,1
1224,2
Số lượng (siêu thị)
170
212
290
287
Số lượng trung tâm thương mại (trung tâm)
36
57
68
67
Số lượng trung tâm thương mại của Đông Nam Bộ, giai đoạn 2010 - 2021 tăng liên tục.
Số lượng siêu thị và trung tâm thương mại lớn thể hiện sự phát triển của hoạt động nội thương vùng Đông Nam Bộ.
Siêu thị có tốc độ tăng nhanh hơn trung tâm thương mại trong giai đoạn 2010 - 2021.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng lớn do sức mua trong dân cư lớn.
Sản lượng mía của Đông Nam Bộ và cả nước, giai đoạn 2019 - 2023 (Đơn vị: nghìn tấn)
Năm
Vùng
2019
2021
2023
Đông Nam Bộ
1581,9
842,2
775,0
Cả nước
15685,6
10740,9
11843,5
Sản lượng mía của Đông Nam Bộ có xu hướng giảm.
Sản lượng mía của Đông Nam Bộ luôn chiếm dưới 10% so với cả nước.
Tỉ trọng sản lượng mía của Đông nam Bộ giảm chủ yếu do thay đổi cơ cấu cây trồng.
Tốc độ tăng trưởng sản lượng mía của Đông Nam Bộ giảm do giảm năng suất.
Cơ cấu ngành công nghiệp của Đông Nam Bộ đa dạng. Bên cạnh các ngành công nghiệp dựa trên lợi thế về tài nguyên và lao động như: công nghiệp khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên, công nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm, đồ uống; dệt may và giày dép,... Đông Nam Bộ đã hình thành các ngành công nghiệp mới, sử dụng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn và thân thiện với môi trường như: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính; cơ khí ô tô, sản xuất phần mềm, sản phẩm số,...
Đông Nam Bộ là vùng có cơ cấu ngành công nghiệp đa dạng bậc nhất so với các vùng khác.
Khai thác và chế biến dầu khí là ngành mũi nhọn của vùng, tạo nguồn hàng xuất khẩu lớn.
Khai thác dầu khí ở Đông Nam Bộ góp phần thu hút đầu tư nước ngoài, giải quyết việc làm cho đa số lao động.
Giải pháp phát triển bền vững ở Đông Nam Bộ là ứng dụng công nghệ, phát triển sản xuất đi đôi bảo vệ môi trường.
Đông Nam Bộ phát triển các khu công nghiệp - dịch vụ - đô thị hiện đại và các khu công nghiệp công nghệ cao. Xây dựng mới một số khu công nghệ thông tin tập trung quy mô lớn, hình thành vùng động lực công nghiệp công nghệ thông tin, thu hút đầu tư sản xuất các sản phẩm điện, điện tử, các sản phẩm Internet vạn vật (IoT) , trí tuệ nhân tạo.
Cơ cấu ngành công nghiệp của Đông Nam Bộ chuyển dịch theo hướng tăng các ngành có hàm lượng khoa học kĩ thuật cao, giá trị gia tăng lớn.
Đông Nam Bộ phát triển mạnh các ngành công nghệ cao do thu hút đầu tư , lao động có trình độ cao, cơ sở hạ tầng tốt.
Khó khăn lớn nhất trong phát triển công nghiệp ở Đông Nam Bộ là thiếu vốn đầu tư, cơ sở năng lượng chưa đảm bảo.
Giải pháp đảm bảo cơ sở năng lượng cho phát triển công nghiệp ở Đông Nam Bộ là sử dụng điện lưới quốc gia, đa dạng nguồn điện, đẩy mạnh năng lượng tái tạo.
Số lượt hành khách và khối lượng hàng hóa vận chuyển ở Đông Nam Bộ, giai đoạn 2005 - 2021
Năm
2005
2010
2015
2021
Số lượt hành khách vận chuyển (triệu lượt người)
297,2
624,6
1079,0
553,6
Số lượt hàng hóa vận chuyển (triệu tấn)
71,0
135,3
205,0
286,7
Số lượt hành khách và khối lượng hàng hóa vận chuyển ở Đông Nam Bộ có xu hướng tăng.
Số lượt hành khách vận chuyển tăng nhanh hơn khối lượng hàng hóa vận chuyển.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển ở Đông Nam Bộ ngày càng cao do sản xuất phát triển, mở rộng thị trường.
Biểu đồ tròn là dạng biểu đồ thích hợp nhất để thể hiện quy mô số lượt hành khách và khối lượng hàng hóa vận chuyển ở Đông Nam Bộ giai đoạn 2005 - 2021.
Công nghiệp sản xuất điện của vùng Đông Nam Bộ bao gồm nhiệt điện, thuỷ điện và điện từ năng lượng tái tạo khác. Các nhà máy nhiệt điện lớn ở Đông Nam Bộ chủ yếu được chạy bằng nhiên liệu khí, lớn nhất là tổ hợp nhiệt điện Phú Mỹ với tổng công suất thiết kế khoảng gần 4 000 MW, các nhà máy nhiệt điện Bà Rịa, Thủ Đức, Hiệp Phước, Nhơn Trạch,... được mở rộng công suất. Các nhà máy thuỷ điện được xây dựng trong vùng gồm: Trị An (công suất thiết kế 400 MW, trên sông Đồng Nai), Thác Mơ và Cần Đơn (cồng suất thiết kế là 150 MW và 77,6 MW, trên sông Bé), cung cấp nguồn điện năng đáng kể cho vùng. Các nguồn năng lượng tái tạo khác đang được chú ý phát triển, nhất là năng lượng mặt trời.
Nguồn năng lượng chủ yếu của Đông Nam Bộ cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt là điện tái tạo.
Để đảm bảo năng lượng cho quá trình công nghiệp hóa nhanh, Đông Nam Bộ đẩy mạnh xây dựng các nhà máy điện và sử dụng mạng lưới điện quốc gia.
Các nhà máy thủy điện phát triển trên cơ sở chủ yếu là hệ thống sông lớn, chế độ nước theo mùa.
Năng lượng tái tạo được đẩy mạnh phát triển nhằm mục đích cung cấp nguồn điện, đa dạng cơ cấu năng lượng, phát triển bền vững.
Hoạt động ngoại thương của Đông Nam Bộ rất phát triển. Tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của vùng năm 2021 là 236,5 tỉ USD, chiếm 35,3% tổng giá trị xuất nhập khẩu và nhập khẩu của cả nước, trong đó giá trị xuất khẩu đạt 112,6 tỉ USD và giá trị nhập khẩu là 123,9 tỉ USD. Hoạt động xuất, nhập khẩu phát triển tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Đông Nam Bộ là dầu thô, hàng nông sản và nông sản chế biến; hàng điện tử, máy tính và linh kiện; hàn dệt, may và giày dép…
Hoạt động ngoại thương của Đông Nam Bộ phát triển mạnh hàng đầu cả nước.
Các mặt hàng xuất nhập khẩu chưa thật phong phú nhưng cán cân thương mại luôn xuất siêu.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô, sơ chế, tỉ lệ hàng gia công lớn, giá trị thấp.
Hoạt động ngoại thương phát triển mạnh do kinh tế phát triển, mức sống người dân cao, thị trường mở rộng.
Số lượng đàn bò và đàn lợn ở vùng Đông Nam Bộ, giai đoạn 2010 - 2022
Năm
Bò (nghìn con)
Lợn (nghìn con)
2010
440,0
2 484,9
2015
375,6
3 364,5
2022
419,5
4 864,9
Giai đoạn 2010 - 2022, số lượng đàn bò của vùng Đông Nam Bộ tăng trưởng không ổn định.
Giai đoạn 2010 - 2022, số lượng đàn lợn của vùng Đông Nam Bộ luôn tăng.
Giai đoạn 2010 - 2022, số lượng đàn bò của vùng Đông Nam Bộ tăng trưởng nhanh hơn so với số lượng đàn lợn.
Biểu đồ cột là dạng biểu đồ thích hợp nhất để thể hiện số lượng đàn bò và đàn lợn của vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn 2010 - 2022.
