NEW
Font size
WorksheetsChương 3(2)
Total questions: 38
Worksheet time: 19mins
Tại khoản 1, Điều 16, Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn thể nhân dân;
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của mọi công dân;
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của mọi tầng lớp nhân dân;
Phát triền giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân;
Tại khoản 2, Điều 16, Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao;
Nhà nước giữ vai trò lãnh đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao;
Tại khoản 1, Điều 17, Đầu tư cho giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư hàng đầu. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật;
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư quan trọng. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật;
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư hiệu quả. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật;
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật;
Câu 47. Tại khoản 3, Điều 17, Đầu tư cho giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ chốt trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chính trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Câu 48. Tại khoản 1, Điều 18, Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục;
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục;
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục;
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt đông giáo dục;
Tại khoản 3, Điều 18, Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Chính phủ có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục;
Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục;
Bộ Giáo dục và Đào tạo có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục;
Nhà nước có chính sách xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục;
Tại khoản 1, Điều 19, Hoạt động khoa học và công nghệ, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Hoạt động khoa học và công nghệ là một trách nhiệm của cơ sở giáo dục;
Hoạt động khoa học và công nghệ là một yêu cầu của cơ sở giáo dục;
Hoạt động khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ của cơ sở giáo dục;
Hoạt động khoa học và công nghệ là một mục tiêu của cơ sở giáo dục;
Tại khoản 3, Điều 19, Hoạt động khoa học và công nghệ, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà nước tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm văn hóa, khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước;
Chính phủ tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm văn hóa, khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước;
Nhà nước tạo môi trường thuận lợi cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước;
Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước;
Tại Khoản 1, Điều 21, Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục, theo Luật số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục để chống phá các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội;
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục để chống lại các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm trái quy định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyên bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội;
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục để truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tê nạn xã hội; xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo loạn, tuyên truyền chiên tranh xâm lược, phá hoại thuân phong mỹ tục;
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục đê xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động bạo lực, tuyên tuyên truyền chiến tranh xâm lược, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục, lôi kéo người học vào các tệ nạn xã hội;
Tại Khoản 2, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Xuyên tạc chương trình giáo dục
Xuyên tạc phương pháp giáo dục
Xuyên tạc nội dung giáo dục
Xuyên tạc hình thức giáo dục
Tại Khoản 3, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Gian dối trong học tập, kiểm tra, thi, tuyển sinh
Gian lận trong học tập, kiểm tra, đánh giá, thi, tuyển sinh
Gian dối trong học tập, thi cử, kiểm tra, tuyển sinh
Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi, tuyển sinh
Tại Khoản 4, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Hút thuốc; uống rượu, bia; gây rối an ninh, trật tự
Hút thuốc; uống rượu, uống bia; gây mất an ninh, trật tự
Hút thuốc; uống rượu, uống bia; làm ảnh hưởng an ninh, trật tự
Tại Khoản 5, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Bắt buộc học sinh học thêm để thu tiền
Ép buộc học sinh học thêm để hu tiền
Yêu cầu học sinh học thêm để thu tiền
Ép buộc học sinh học thêm để kiếm tiền
Tại Khoản 6, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Lợi dụng việc ủng hộ, tài trợ giáo dục để bắt buộc đóng góp các khoản tiền hoặc hiện vật
Lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ các hoạt động giáo dục để đề nghị đóng góp tiền hoặc hiện vật
Lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ giáo dục để ép buộc đóng góp tiền hoặc hiện vật
Lợi dụng việc ủng hộ, tài trợ giáo dục để yêu cầu đóng góp tiền hoặc hiện vật
Tại Khoản 1, Điều 23, Vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non là cấp học đầu đời trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc gia, đặt nền tảng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền tảng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, dạy học trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi;
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nên móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi;
Tại Khoản 2, Điều 23, Vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một;
Giáo dục mầm non nhằm giáo dục toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thấm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một:
Giáo dục mầm non nhằm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một;
Giáo dục mầm non nhằm phát triển giáo dục, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em về thê chất, tình cảm, trí tuệ, thâm mỹ, hình thành yêu tố đầu tiên của nhân cách, chuân bị cho trẻ em vào học lớp một;
Tại Khoản 2a, Điều 24, Yêu cầu về nội dung, phượng pháp giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;
Giáo dục mẫu giáo phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;
Giáo dục nhà trẻ phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;
Giáo dục nhà trẻ phải tạo môi trưởng thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn kết giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển sáng tạo các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;
Tại Khoản 2b, Điều 24, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non phải tạo môi trường cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Giáo dục nhà trẻ phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Giáo dục mẫu giáo phải tạo cơ hội cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Giáo dục mẫu giáo phải tạo điều kiện cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Tại Khoản 1c, Điều 25, Chương trình giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Thống nhất trong toàn quốc và được triển khai thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non;
Thống nhất trong cả nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non;
Thống nhất trong cả nước và được tổ chức triển khai thực hiện linh hoạt, hợp lý với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non;
Thống nhất trong toàn quốc và được tổ chức thực hiện linh động, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và trường mầm non;
Tại Khoản 1, Điều 26, Cơ sở giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà trẻ, nhóm trẻ dân lập nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;
Nhà trẻ, nhóm trẻ công lập nhận giữ trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;
Nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;
Nhà trẻ, nhóm trẻ tư thục nhận trông trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;
Tại Khoản 2, Điều 26, Cơ sở giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo công lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo dân lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo tư thục nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Tại Khoản 3, Điều 26, Cơ sở giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Trường mầm non, lớp mầm non độc lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.
Trường mẫu giáo, lớp mầm non công lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.
Trường mầm non, lớp mẫu giáo dân lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.
Trường mẫu giáo, nhà trẻ độc lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.
Tại Khoản 1, Điều 27, Chính sách phát triển giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội rất khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp;
Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp;
Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên đầu tự phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội thật sự khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp;
Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng điều kiện kinh tế - xã hội cò
Tại Khoản 1b, Điều 28, Cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục trung học cơ sở được tố chức thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải học hết chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiêu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục trung học cơ sở được hoàn thành trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thiện chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục trung học cơ sở được triển khai trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải học xong chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm;
Tại Khoản 1c, Điều 28, Cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục trung học phổ thông được tổ chức thực hiện trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải hoàn thành chương trình trung học cơ sở. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục trung học phổ thông được triển khai trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải hoàn thiện chương trình trung học cơ sở. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm;
Giáo dục trung học phô thông được hoàn thành trong 03 năm học, từ lớp mươi đên hêt lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có băng tôt nghiệp trung học cơ sở. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm;
Tại Khoản 1, Điều 29, Mục tiêu của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Giáo dục phồ thông nhằm phát triển mọi mặt cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng, thái độ, năng lực cá nhân, tinh năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đức, trí, thể, mỹ, kỹ năng, thái độ, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng xã hội, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành phẩm chất con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nghĩa vụ công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Tại Khoản 2, Điều 29, Mục tiêu của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục tiểu học nhằm phát triển những cơ sở ban đầu về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở;
Giáo dục tiểu học nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở;
Giáo dục tiểu học nhằm hình thành và phát triển nhân cách, phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở;
Giáo dục tiểu học nhằm hình thành phát triển phẩm chất, đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở;
Câu 78. Tại Khoản 3, Điều 29, Mục tiêu của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
A. Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố kết quả của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học sinh có học vấn phổ thông vững chắc, hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc chương trình giáo dục nghề nghiệp;
B. Giáo dục trung học cơ sở nhằm phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học sinh có kiến thức phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc chương trình giáo dục nghề nghiệp;
C. Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học sinh có học vấn phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc chương trình giáo dục nghề nghiệp;
D. Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố và phát triển kiến thức, kỹ năng của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học sinh có trình độ phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết cơ bản về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc chương trình giáo dục nghề nghiệp;
Câu 79. Tại Khoản 4, Điều 29, Mục tiêu của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục trung học phồ thông nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng; bảo đảm cho học sinh củng cố, phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, nâng cao học vấn phồ thông và có hiểu biết về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Giáo dục trung học phô thông nhăm trang bị kiên thức phô thông; bảo đảm cho học sinh cùng cổ, phát triên kiên thức của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện kiển thức phô thông và có hiểu biết về hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Giáo dục trung học phô thông nhằm trang bị kiển thức văn hóa; bảo đảm cho học sinh phát triên kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thành học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điểu kiện phát triển năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; bảo đảm cho học sinh củng cố, phát triên kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Tại Khoản 1, Điều 30, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nội dụng giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học;
Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính bao quát, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn đời sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học;
Nội dung giáo dục phố thông phải bảo đảm tính toàn diện, cơ bản, hướng nghiệp và có logic; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học;
Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính hệ thống, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và găn với thực tiên cuộc sông, phù hợp với lứa tuôi tâm sinh lý của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học;
Tại Khoản 2a, Điều 30, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông, theo Luật Giảo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nền tảng phát triển cân đối về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết cơ bản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gin vệ sinh: có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật;
Giáo dục tiêu học phải bảo đảm cho học sinh nên tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm,kỹ năng xã hội; có hiêu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật;
Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh nền tảng phát triển hài hòa về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rên luyện thân thế, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật;
Giáo dục tiểu học phải bảo đám cho học sinh nền tảng phát triển cân bằng về trí tuệ, thể chất, tình cảm, kỹ năng, thái độ; có hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người; có phẩm chất đạo đức xã hội;có kỹ năng học tập về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh;có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật;
Tại Khoản 2b, Điều 30, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH114, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc: kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp;
Giáo dục trung học cơ sở nhằm phát triển chương trình đã học ở tiểu Giáo dục trung học cơ sở nhằm phát triển chương trình đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có kiến thức phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp;
Giáo dục trung học cơ sở củng cố, phát triển nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp;
Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố, phát triển các kiến thức, kỹ năng đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có kiến thức về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; hiểu biết khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có kiến thức cần thiết cơ bản về kỹ thuật và hướng nghiệp;
Tại Khoản 2c, Diều 30, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục trung học phổ thông củng cổ kiến thức đã học ở trung học cơ sở, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông toàn diện và hướng nghiệp cho học sinh, có chương trình nâng cao ở một số môn học để nâng cao năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh:
Giáo dục trung học phổ thông nhằm phát triển chượng trình đã học ở trung học cơ sở, thực hiện nội dung giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông đầu ra và hướng nghiệp cho học sinh, có chương trình nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh:
Giáo dục trung học phổ Giáo dục trung học phổ thông nhằm củng cố nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thiện chương trình giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phô thông căn bản, toàn diện và hướng nghiệp cho học sinh, có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triền năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh:
Giáo dục trung học phổ thông cũng cổ, phát triển nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phố thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phố thông cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho học sinh, có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh;
Tại Khoản 3, Điều 30, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Phương pháp giáo dục phô thông phát huy tinh tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phủ hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đổi tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cưởng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.
Phương pháp giáo dục phố thông phát huy tính tự học, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với yêu cầu từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập: phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.
Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh đáp ứng với đặc trưng từng môn học, lớp học, cấp học và đặc điểm của từng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, thích thú học tập, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục;
Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tự giác, năng động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm từng môn học, lớp học, cấp học và đặc điểm tâm sinh lý học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rên, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy phản biện; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; thưởng xuyên ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục;
Tại Khoản 1c, Điều 31, Chương trình giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Quy định phương pháp tô chức hoạt động giáo dục và kiêm tra kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phổ thông;
Quy định nội dung hình thức tố chức hoạt động giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phổ thông;
Quy định phương thức tổ chức hoạt động giáo dục và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phố thông;
Quy định phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phổ thông;
Tại Khoản 1d, Điều 31, Chương trình giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Thống nhất trong cả nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục phổ thông;
Thống nhất trong toàn quốc và được thực hiện một cách linh động, hợp lý với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục phổ thông;
Thống nhất trong cả nước và được tổ chức một cách chủ động, sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục phổ thông;
Thống nhất trong toàn quốc và được triển khai thực hiện một cách chủ động, sáng tạo, hợp lý với điều kiện cụ thể của địa phương và trường phổ thông;
Tại Khoản 1b, Điều 32, Sách giáo khoa giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Mỗi môn học có một sách giáo khoa; thực hiện xã hội hóa việc biên soạn sách giáo khoa; việc xuất bản sách giáo khoa thực hiện theo quy định của Nhà nước;
Mỗi môn học có một hoặc nhiều sách giáo khoa; thực hiện xã hội hóa việc biên soạn sách giáo khoa; việc xuất bản sách giáo khoa thực hiện theo quy định của Chính phủ;
Mỗi môn học có một hoặc một số sách giáo khoa; thực hiện xã hội hóa việc biên soạn sách giáo khoa; việc xuất bản sách giáo khoa thực hiện theo quy định của pháp luật;
Mỗi môn học có một hoặc một số sách giáo khoa; thực hiện xã hội hóa việc biên soạn sách giáo khoa; việc xuất bản sách giáo khoa thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Tại Khoản 1c, Điều 32, Sách giáo khoa giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà nước quyết định việc lựa chọn sách giáo khoa sử dụng ổn định trong cơ sở giáo dục phố thông trên địa bàn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Chính phủ quyết định việc lựa chọn sách giáo khoa sử dụng ổn định trong cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn theo quy định của Bộ trường Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Quốc hội quyết định việc lựa chọn sách giáo khoa sử dụng ổn định trong cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc lựa chọn sách giáo khoa sử dụng ổn định trong cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;
