Worksheetshdccb5p2azt
Total questions: 34
Worksheet time: 2hrs 42mins
Vùng có mật độ dân số cao nhất nước ta là
Đồng bằng sông Cửu Long.
Đồng bằng sông Hồng.
Đông Nam Bộ.
Duyên hải Nam Trung Bộ.
Phát biểu nào sau đây đúng về dân số nước ta hiện nay?
Tăng dần tỉ trọng của dân số nhóm 0-14 tuổi.
Không còn tình trạng mất cân bằng giới tính.
Cơ cấu dân số có xu hướng trẻ hóa rất nhanh.
Tỉ số giới tính khác nhau giữa các nhóm tuổi.
Phát biểu nào sau đây đúng về cơ cấu dân số nước ta hiện nay?
.Ít thay đổi trong quá trình đô thị hóa.
Thay đổi gắn với sự phát triển kinh tế.
Cơ cấu tuổi đang có xu hướng trẻ hóa.
Giữ ổn định về tỉ trọng qua nhiều năm.
Quy mô dân số nước ta lớn đã gây sức ép đến vấn đề nào sau đây?
phát triển giáo dục, an ninh lương thực, sử dụng các tài nguyên.
giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức thu nhập.
bảo đảm lương thực, khai thác tài nguyên đất, nâng cao mức sống.
nâng cao chất lượng cuộc sống, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Cơ cấu dân số theo độ tuổi ở nước ta đang có sự biến đổi nhanh chóng chủ yếu do
thành tựu trong văn hóa, giáo dục và y tế, tuổi thọ trung bình tăng.
kết quả của chính sách dân số, đời sống ngày càng được nâng cao.
tuổi thọ trung bình tăng, thành tựu trong y tế và xóa đối giảm nghèo.
kinh tế phát triển, tâm lí xã hội và phong tục tập quán được duy trì.
Trung du và miền núi nước ta có mật độ dân số thấp hơn vùng đồng bằng là do
quỹ đất chủ yếu dành cho phát triển công nghiệp.
có lịch sử khai thác lãnh thổ sớm hơn đồng bằng.
có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khó khăn.
cơ sở vật chất kĩ thuật của các ngành còn lạc hậu.
Dân cư nông thôn nước ta hiện nay
có quy mô nhỏ hơn số dân thành thị.
đang giữ gìn nhiều nghề truyền thống.
có cơ cấu sinh học luôn rất ổn định.
tham gia chủ yếu trong lâm nghiệp.
Mức gia tăng dân số của nước ta có xu hướng giảm chủ yếu do nguyên nhân nào sau đây?
Tuyên truyền, giáo dục chính sách về dân số.
Kết quả của chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình.
Ảnh hưởng của việc nâng cao chất lượng cuộc sống.
Dân số nước ta đang có xu hướng già hóa nhanh.
Vùng núi và cao nguyên nước ta có dân cư thưa thớt chủ yếu là do
có lịch sử khai thác lãnh thổ lâu đời hơn so với các vùng đồng bằng.
quá trình đô thị hóa diễn ra chậm, ít các thành phố lớn và đông dân.
giao thông khó khăn, kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp.
nhiều khoáng sản còn dưới dạng tiềm năng, khai thác rất khó khăn.
Dân cư ở miền núi nước ta hiện nay
có mật độ dân số rất cao.
chỉ sản xuất nông nghiệp.
chiếm phần lớn dân số cả nước.
có nhiều dân tộc khác nhau.
Nguyên nhân nào sau đây là chủ yếu làm cho nhóm từ 60 tuổi trở lên trong cơ cấu dân số nước ta ngày càng tăng?
Đẩy mạnh đô thị hóa, dịch vụ y tế phát triển.
Mức sống được nâng lên, tỉ suất sinh giảm.
Dịch vụ y tế phát triển, quy mô dân số đông.
Quy mô dân số đông, đẩy mạnh đô thị hóa.
Dân số nước ta tập trung phần lớn ở nông thôn, chủ yếu là do
trình độ phát triển kinh tế còn thấp.
sản xuất lúa gạo cần nhiều lao động.
địa hình khá bằng phẳng, giáp biển.
đô thị chưa tạo ra sức hút lao động.
Tỉ suất sinh ở nông thôn vẫn còn cao hơn ở thành thị là do
cuộc sống ở nông thôn không khó khăn như ở thành thị.
nhu cầu về lao động trong sản xuất nông nghiệp rất lớn.
quan niệm về dân số, kinh tế - xã hội phát triển chậm.
dân số nước ta vẫn tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn.
Trong vùng Đồng bằng sông Hồng dân cư phân bố không đều chủ yếu là do khác nhau về
địa hình, nguồn nước và sự phân bố công nghiệp.
nguồn nước, khí hậu, của hệ thống cơ sở hạ tầng.
điều kiện sản xuất, cư trú và mức độ đô thị hóa.
sự phân hóa địa hình, nguồn nước và giao thông.
Dân số nước ta hiện nay
tuổi thọ trung bình tăng, phân bố đều ở nông thôn.
có chất lượng sống tăng lên, tỉ lệ dân nông thôn nhỏ.
có tốc độ già hóa nhanh, nam và nữ khá cân bằng.
có nhiều dân tộc, đông nhất ở các dải đất ven biển.
Dân số đông tạo ra thuận lợi chủ yếu nào sau đây?
thị trường tiêu thụ lớn, thu hút vốn đầu tư.
động dồi dào, chất lượng lao động tăng lên.
lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn.
lao động trẻ, có khả năng tiếp thu nhanh.
Khu vực đồng bằng nước ta tập trung dân cư đông đúc chủ yếu do
lịch sử quần cư lâu đời, gia tăng dân số cao.
kinh tế phát triển, tự nhiên nhiều thuận lợi.
có nhiều làng nghề và các khu công nghiệp.
đất trồng tốt, sản xuất nông nghiệp trù phú.
Dân số trung bình của Việt Nam năm 2023 đạt 100,3 triệu người, trong đó tỷ lệ dân số nam và nữ khá cân bằng (nam giới chiếm 49,9%, nữ giới 50,1%). Dân số trung bình khu vực thành thị là 38,2 triệu người, chiếm 38,1%; khu vực nông thôn là 62,1 triệu người, chiếm 61,9%. Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-lip-pin) và đứng thứ 15 trên thế giới. Do mức sinh có xu hướng giảm nhẹ nên tốc độ tăng dân số giảm dần trong những năm gần đây và dự báo tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo (tốc độ tăng dân số trung bình năm 2022 là 0,98%, năm 2023 là 0,84%).
Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên của nước ta có xu hướng giảm và còn khá thấp.
Dân số nước ta hiện nay vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn.
Mặc dù tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên giảm nhưng dân số vẫn tăng lên là do qui mô dân số nước ta lớn.
Nguyên nhân dẫn đến tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên giảm chủ yếu do chính sách dân số, chất lượng cuộc sống nâng cao.
Nước ta có 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 85% tổng số dân, các dân tộc thiểu số chiếm gần 15%. Các dân tộc sinh sống đan xen nhau khá phổ biến trên các vùng miền của Tổ quốc. Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước.
Các dân tộc ở nước ta có nét tương đồng hoàn toàn với các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
Hiện nay, sự đa dạng về văn hóa của các dân tộc là điều kiện thuận lợi để nước ta hội nhập toàn cầu sâu, rộng.
Các dân tộc thiểu số ở nước ta thường phân bố xen kẽ và chủ yếu ở vùng núi.
Nước ta có nhiều thành phần dân tộc cùng sinh sống đã tạo nên thế mạnh về văn hóa, phong tục tập quán đa dạng.
Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của người Việt Nam năm 2023 là 73,7 tuổi; trong đó, tuổi thọ trung bình của nam giới là 71,1 tuổi, của nữ giới là 76,5 tuổi. So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của Việt Nam hiện nay thấp hơn 03 quốc gia là: Xin-ga-po (83 tuổi), Bru-nây (78 tuổi), Thái Lan (76 tuổi).
Nguyên nhân dẫn đến việc tăng tuổi thọ ở nước ta là do kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống tăng.
Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng lên , cao hơn mức trung bình của thế giới.
Hạn chế lớn nhất của dân số già là gây sức ép lên vấn đề giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng sống.
Tuổi thọ tăng lên là một trong những nguyên nhân dẫn đến già hóa dân số ở nước ta hiện nay.
Cơ cấu dân số của Việt Nam đang dịch chuyển theo hướng tăng tỷ lệ người cao tuổi và giảm tỷ lệ dân số trẻ. Việt Nam hiện đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng và cũng đồng thời trong quá trình già hóa dân số. Tỷ trọng nhóm dân số trẻ từ 0-14 tuổi giảm từ 24,3% năm 2019 xuống khoảng 23,9% năm 2023; trong khi nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng nhanh, từ 11,9% năm 2019 lên 13,9% vào năm 2023. Nhóm dân số trong độ tuổi từ 15- 59 tuổi chiếm 63,8% năm 2019 giảm xuống còn 62,2% năm 2023.
Cơ cấu dân số nước ta thuộc nhóm trẻ nhưng đang có sự chuyển dịch nhanh chóng.
Cơ cấu dân số nước ta có xu hướng già hóa chủ yếu do tỉ suất sinh thô giảm, tuổi thọ tăng.
Già hóa dân số gây khó khăn chủ yếu là thiếu hụt lao động trong tương lai và chi phí phúc lợi xã hội tăng.
Xu hướng già hóa dân số biểu hiện ở việc tăng tỉ lệ nhóm tuổi từ 60 trở lên và tăng tuổi thọ trung bình.
Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất trên thế giới. Đến năm 2036, Việt Nam bước vào thời kì dân số già, chuyển từ xã hội “ già hóa” sang xã hội “già”. Sự thay đổi này không chỉ do giảm tỉ lệ tử vong và tăng tuổi thọ, mà phần lớn là do giảm mạnh tỉ lệ sinh. Tỉ lệ sinh giảm trong những thập kỉ qua đã tác động rất lớn tới cơ cấu dân số của Việt Nam, làm đẩy nhanh tốc độ già hóa dân số.
Số lượng người già tăng cao mang đến nhiều thuận lợi cho phát triển các dịch vụ y tế, giải trí, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến già hóa dân số ở nước ta hiện nay là kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống cao, tiến bộ của y học.
Tuổi thọ tăng lên là kết quả của việc phát triển khoa học kĩ thuật ứng dụng vào trong chăm sóc sức khỏe cho người già.
Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi của nước ta đang có sự biến đổi nhanh chóng chủ yếu do thực hiện chính sách dân số, tăng tuổi thọ.
Dân số trung bình năm 2022 của cả nước ước tính 99,46 triệu người, tăng 957,3 nghìn người, tương đương tăng 0,97% so với năm 2021. Trong tổng dân số, dân số thành thị 37,35 triệu người, chiếm 37,6%; dân số nông thôn 62,11 triệu người, chiếm 62,4%; Tỷ số giới tính khi sinh là 111,6 bé trai/100 bé gái.
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2022)
Nước ta có sự mất cân bằng giới tính khi sinh.
Số dân ở nông thôn vẫn còn nhiều do quá trình công nghiệp hóa chưa mạnh.
Dân số của nước ta đông làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Dân số trung bình của cả nước tăng.
Năm 2021, tỉ suất nhập cư của vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ lần lượt là 4,8‰ và 17,9‰. Tỉ suất nhập cư của vùng Vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây nguyên cùng đạt 1,4‰. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 1,3‰. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc là 0,9‰.
(Nguồn: niên giám thống kê các năm 2001, 2011, 2016, 2022)
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tỉ suất nhập cư thấp nhất cả nước.
Tỉ suất nhập cư của vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có tỉ lệ cao nhất cả nước do thuận lợi về điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế.
Tỉ suất nhập cư của vùng Đồng bằng sông Hồng lớn hơn Tây Nguyên là 3,4 lần.
Tỉ suất nhập cư của vùng Vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung có tỉ suất nhập cư cao nhất nước ta.
Do mức sinh giảm, tuổi thọ tăng nên cơ cấu dân số theo tuổi của nước ta biến đổi nhanh theo hướng giảm tỉ lệ nhóm trẻ em, tăng tỉ lệ nhóm cao tuổi. Việt Nam đang có cơ cấu dân số vàng nhưng cũng bước vào thời kì già hóa dân số.
Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi của nước ta đang biến đổi nhanh theo hướng già hóa.
Tỉ lệ nhóm tuổi 0 - 14 tuổi giảm xuống chủ yếu do thực hiện tốt chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.
Tỉ lệ người già trong dân số tăng lên thể hiện chất lượng cuộc sống được nâng cao, tuổi thọ trung bình của dân số tăng lên.
Cơ cấu dân số già trong tương lai sẽ khiến nền kinh tế của nước ta không thể phát triển do thiếu hụt trầm trọng nguồn lao động.
Nước ta có 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 85% tổng số dân, các dân tộc thiểu số chiếm gần 15%. Các dân tộc sinh sống đan xen nhau khá phổ biến trên các vùng miền của Tổ quốc. Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước.
Các dân tộc thiểu số ở nước ta thường phân bố xen kẽ và chủ yếu ở vùng núi
Nước ta có nhiều thành phần dân tộc cùng sinh sống đã tạo nên thế mạnh về văn hóa, phong tục tập quán đa dạng.
Các dân tộc ở nước ta có nét tương đồng hoàn toàn với các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
Hiện nay, sự đa dạng về văn hóa của các dân tộc là điều kiện thuận lợi để nước ta hội nhập toàn cầu sâu, rộng.
Dân số trung bình năm 2022 của cả nước ước tính 99,46 triệu người, tăng 957,3 nghìn người, tương đương tăng 0,97% so với năm 2021. Trong tổng dân số, dân số thành thị 37,35 triệu người, chiếm 37,6%; dân số nông thôn 62,11 triệu người, chiếm 62,4%; Tỷ số giới tính khi sinh là 111,6 bé trai/100 bé gái.
Dân số trung bình của cả nước tăng.
Nước ta có sự mất cân bằng giới tính khi sinh.
Số dân ở nông thôn vẫn còn nhiều do quá trình công nghiệp hóa chưa mạnh.
Dân số của nước ta đông làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế
Năm 2021, Việt Nam có số dân là 98,5 triệu người, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 15 trong số hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Dân số nước ta tăng nhanh trong nửa cuối thế kỉ XX. Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống. Mật độ dân số trung bình của nước ta là 297 người/km2. Tuy nhiên, phân bố dân cư có sự khác nhau giữa đồng bằng với trung du và miền núi, giữa các vùng kinh tế, giữa thành thị và nông thôn.
Quy mô dân số đông, tạo cho nước ta có nguồn lao động dồi dào và thị trường tiêu thụ rộng lớn.
Dân cư nước ta phân bố khá đều và ổn định, là điều kiện thuận lợi để khai thác tài nguyên.
Việc tập trung dân cư ở các thành phố lớn đang gây sức ép tới các vấn đề việc làm, giao thông, nhà ở...
Việt Nam có 54 dân tộc, tạo nên nền văn hoá đa dạng và giàu bản sắc.
Năm 2021, mật độ dân số nước ta là 297 người/km2, cao gấp 5 lần mức trung bình thế giới và có sự chênh lệch giữa các vùng. Trong khi vùng Đồng bằng sông Hồng có mật độ dân số lên tới 1 091 người/km2 thì vùng Tây Nguyên mật độ dân số chỉ có 111 người/km2.
Nước ta có mật độ dân số cao, tuy nhiên phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ.
Những vùng tập trung đông dân cư thường có điều kiện tự nhiên thuận lợi, kinh tế phát triển.
Đồng bằng sông Hồng có mật độ dân số cao nhất cả nước do có lịch sử khai thác lãnh thổ lâu đời nhất.
Dân cư tập trung đông ở các đồng bằng gây sức ép lớn nhất cho việc sử dụng đất trong nông nghiệp.
Cơ cấu dân số của Việt Nam đang dịch chuyển theo hướng tăng tỷ lệ người cao tuổi và giảm tỷ lệ dân số trẻ. Việt Nam hiện đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng và cũng đồng thời trong quá trình già hóa dân số. Tỷ trọng nhóm dân số trẻ từ 0-14 tuổi giảm từ 24,3% năm 2019 xuống khoảng 23,9% năm 2023; trong khi nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng nhanh, từ 11,9% năm 2019 lên 13,9% vào năm 2023. Nhóm dân số trong độ tuổi từ 15- 59 tuổi chiếm 63,8% năm 2019 giảm xuống còn 62,2% năm 2023.
Nước ta đang trong thời kỳ dân số vàng nhưng đang có sự chuyển dịch nhanh chóng.
Xu hướng già hóa dân số biểu hiện ở việc tăng tỉ lệ nhóm tuổi từ 60 trở lên và tăng tuổi thọ trung bình.
Cơ cấu dân số nước ta có xu hướng già hóa chủ yếu do tỉ suất sinh thô giảm, tuổi thọ tăng.
Già hóa dân số tạo thuận lợi là có nguồn lao động dồi dào và giảm chi phí phúc lợi xã hội
Tỉ số giới tính của dân số Việt Nam khá cân bằng với 99,4 nam/100 nữ (năm 2021). Tuy nhiên, tỉ số giới tính khi sinh lại có sự chênh lệch lớn, 112 bé trai/100 bé gái (năm 2021). Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu do yếu tố tâm lí xã hội và mất cân bằng giới tính khi sinh gây ra những khó khăn về phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai.
Tỉ số giới tính khi sinh ở nước ta có xu hướng mất cân bằng.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta hiện nay là tư tưởng lạc hậu, kinh tế còn chậm phát triển.
Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ảnh hưởng trực tiếp tới việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa.
Để đảm bảo cân bằng giới tính khi sinh thì giải pháp quan trọng là nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho dân cư.
