Font size
Worksheetsđúng sai
Total questions: 6
Worksheet time: 5mins
Thí nghiệm về tính chất của dung dịch sulfuric acid loãng và dung dịch sulfuric acid đặc:
- Chuẩn bị: Kim loại đồng (Cu, copper) dạng mảnh hoặc sợi, dung dịch sulfuric acid loãng và dung dịch sulfuric acid đặc, ống nghiệm, bông tầm kiềm, đèn cồn.
- Tiến hành: Cho mảnh đồng nhỏ vào ống nghiệm thứ nhất, cho tiếp vào ống nghiệm khoảng 3 mL dung dịch sulfuric acid loãng, sau đó đun nóng nhẹ ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn. Cho mảnh đồng nhỏ vào ống nghiệm thứ hai, cho tiếp vào ống nghiệm khoảng 3 mL dung dịch sulfuric acid đặc, rồi nút bông tẩm dung dịch NaOH đặc vào miệng ống nghiệm, sau đó đun nóng nhẹ ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn.
Hiện tượng quan sát được trong ống nghiệm thứ nhất: mảnh đồng tan dần và có khí không màu thoát ra.
Hiện tượng quan sát được trong ống nghiệm thứ hai: mảnh đồng tan dần, có khí không màu thoát ra và dung dịch thu được có màu xanh.
Bông tẩm dung dịch NaOH đặc ở ống nghiệm thứ hai hạn chế khí độc thoát ra ngoài môi trường
Dung dịch sulfuric acid loãng hoặc đặc đều có tính oxi hóa mạnh, có thể oxi hóa được các kim loại kém hoạt động như đồng.
Thí nghiệm: Dung dịch sulfuric đặc tác dụng với đường kính.
Chuẩn bị: Đường kính (C12H22O11), cốc thuỷ tinh chịu nhiệt, chậu thuỷ tinh rộng, ống nhỏ giọt, dung dịch sulfuric acid đặc.
Tiến hành: Đặt cốc thuỷ tinh vào chậu thuỷ tinh. Cho một thìa nhỏ đường kính vào cốc. Nhỏ từ từ vài Ml dung dịch sulfuric acid đặc vào cốc.
Hiện tượng quan sát được là đường kính hoá màu cánh dán, sau đó hoá đen, đồng thời có sủi bọt khí.
Thí nghiệm trên chứng tỏ H2SO4 đặc có tính háo nước
Các phản ứng xảy ra ở thí nghiệm trên là:
C12H22O11+H2SO4—->12C+H2SO4.11H20. C+2H2SO4—->CO2+2SO2+2H2O
Dung dịch sulfuric acid đặc có khả năng lấy nước từ các hợp chất carbohydrate như cellulose (giấy, bông), tinh bột và khiến chúng hoá đen (gọi là hiện tượng than hoá).
. Sulfuric acid là một trong những hoá chất quan trọng nhất được sử dụng trong công nghiệp; được sản xuất hàng trăm triệu tấn mỗi năm, chiếm nhiều nhất trong ngành công nghiệp hoá chất. Phương pháp sản xuất sulfuric acid phổ biến nhất là phương pháp tiếp xúc, theo đó acid có thể được điều chế qua các giai đoạn sau:
(1) FeS2(s) + O2(g) Fe2O3(s) + SO2(g)
(2) SO2(g) + O2(s) SO3(g) ; = –196 kJ
(3) H2SO4(aq) + SO3(g) H2SO4.nSO3(l)
(4) H2SO4.nSO3(l) + H2O(l) H2SO4(aq)
Trong quá trình sản xuất H2SO4, giai đoạn (1) có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường.
Người ta dùng sulfuric acid 98% H2SO4(aq) hấp thụ SO3(g) trong phản ứng (3), quá trình này được thực hiện trong tháp tiếp xúc.
Để làm tăng hiệu suất của phản ứng (2), người ta hạ nhiệt độ của phản ứng xuống thấp.
Ở giai đoạn 3 (phản ứng 3) có thể dùng nước hấp thụ SO3 để sản xuất sulfuric acid đặc có nồng độ cao và thuận tiện hơn cho việc vận chuyển.
Để thực hiện tách sắc tố từ lá cây và tách các nhóm sắc tổ bằng phương pháp hóa học, người ta làm như sau:
- Giai đoạn 1: Sử dụng lá tươi đã loại bỏ cuống lá và gân chính. Sau đó cắt nhỏ cho vào cối sứ, nghiền nát thật nhuyễn với một ít acetone, sau đó tiếp tục thêm acetone, khuấy đều, lọc qua phễu lọc vào một bình chứa, thu được một hỗn hợp sắc tố màu xanh lục.
- Giai đoạn 2: Lấy một lượng benzene gấp đôi lượng dịch vừa thu được, cho vào bình, lắc đều, rồi để yên. Vài phút sau quan sát thấy dung dịch màu phân thành 2 lớp:
+ Lớp dưới có màu vàng là màu của carotenoid hoà tan trong benzene.
+ Lớp trên có màu xanh lục là màu của diệp lục hoà tan trong acetone.
Giai đoạn 1 đã sử dụng phương pháp lọc.
Giai đoạn 2 đã sử dụng phương pháp chiết lỏng – lỏng.
Giai đoạn 1 có thể thay acetone bằng nước cất.
Sau bước 2, lớp chất lỏng phía trên (màu xanh lục) có khối riêng nhẹ hơn lớp chất lỏng phía dưới (màu vàng).
Chiết tinh dầu quýt.
- Dụng cụ: Phễu chiết, thí nghiệm, bình tam giác.
- Hóa chất: Hexane, hỗn hợp tinh dầu quýt và nước.
- Tiến hành:
+ Bước 1: Cho khoảng 50 mL hỗn hợp tinh dần quýt và nước vào phễu chiết, thêm tiếp khoảng 25 mL hexane.
+ Bước 2: Đậy nắp phễu, một tay giữ nắp và một tay giữ phễu, cẩn thận lắc nhẹ và đảo ngược phễu nhiều lần. Đặt phễu vào giá, mở nắp phễu rồi nhanh chóng đậy lại.
+ Bước 3: Mở nắp, vặn khóa phễu từ từ cho lớp chất lỏng phía dưới chảy vào bình tam giác, lớp trên lấy ra khỏi phễu bằng cách rót qua cổ phễu vào bình tam giác.
+ Bước 4: Làm bay hơi dung môi của dịch chiết để thu được chất cần tách.
Phương pháp chiết trên là chiết lỏng – lỏng
Sau bước 3, tách được riêng nước cùng với hỗn hợp tinh dầu quýt và dung môi hexane.
. Sau bước 2, để yên một thời gian thấy hỗn hợp trở nên đồng nhất
. Sau bước 4, nước bay hơi hết thu được tinh dầu quýt.
. Thêm hexane (một hydrocarbon trong phân tử có 6 nguyên tử carbon) vào dung dịch iodine trong nước, lắc đều rồi để yên. Sau đó thu lấy lớp hữu cơ, làm bay hơi dung môi để thu lấy iodine. Hình dưới đây mô tả hiện tượng xảy ra trong dụng cụ dùng thu lấy iodine trong thí nghiệm trên.
Để thu lấy iodine từ dung dịch iodine trong nước ta dùng phương pháp chiết lỏng – rắn.
Dụng cụ sử dụng trong thí nghiệm trên là phễu chiết.
Để tách riêng phần nước và phần hữu cơ từ phễu chiết ta mở khoá phễu chiết, lần lượt thu lấy phần nước và phần hữu cơ riêng biệt
Sau khi lắc, iodine tan tốt trong hexane hơn nên trong hexane nồng độ iodine cao hơn và tạo thành dung dịch có màu tím.
