Font size
WorksheetsCâu hỏi về Tây Nguyên
Total questions: 14
Worksheet time: 9mins
Tây Nguyên có khí hậu mang tính chất cận xích đạo gió mùa với mùa mưa và mùa khô rõ rệt, phù hợp đặc điểm sinh thái của nhiều loại cây công nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay do biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, mùa khô kéo dài, cộng thêm các công trình thủy lợi xuống cấp nên không đáp ứng đủ nước cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp nói chung và phát triển cây công nghiệp chủ lực nói riêng của vùng. Biến đổi khí hậu làm thay đổi quy luật thời tiết, từ đó gia tăng dịch bệnh hại cây trồng làm tăng chi phí sản xuất, tần suất mất mùa gia tăng. Vì vậy, sản xuất cây công nghiệp chủ lực ở Tây Nguyên thiếu ổn định, hiệu quả thấp và chưa bền vững.
Mùa khô kéo dài thuận lợi cho bảo quản nông sản ở Tây Nguyên.
Khí hậu của Tây Nguyên thuật lợi cho phát triển cây công nghiệp cận nhiệt và ôn đới.
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của cây công nghiệp ở Tây Nguyên.
Đầu tư nghiên cứu giống cây thích nghi với biến đổi khí hậu là giải pháp hiệu quả nhất trong việc chống hạn để phát triển cây công nghiệp ở Tây Nguyên hiện nay.
Tây Nguyên có địa hình chủ yếu là các cao nguyên xếp tầng với độ cao khác nhau như các cao nguyên: Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Viên, Mơ Nông, Di Linh,... Bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng. Tây Nguyên có diện tích đất badan lớn, thuận lợi cho quy hoạch vùng chuyên canh cây công nghiệp quy mô lớn có mức độ tập trung cao.
Loại đất chiếm diện tích lớn nhất ở Tây Nguyên là đất feralit trên đá bazan.
Tây Nguyên có thể hình thành vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm với quy mô lớn chủ yếu do khí hậu cận xích đạo, đất đai màu mỡ.
Khó khăn về tự nhiên với phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên là mùa khô sâu sắc, kéo dài.
Ngoài các cây công nghiệp nhiệt đới, Tây Nguyên có thể trồng chè chủ yếu do khí hậu có mùa đông lạnh.
Tây Nguyên là một trong những vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm lớn của nước ta. Vùng có cơ cấu cây công nghiệp khá đa dạng, bao gồm cả cây công nghiệp nhiệt đới như cà phê, hồ tiêu, cao su, điều,... và cây công nghiệp cận nhiệt như chè.
Chè là cây công nghiệp cận nhiệt.
Cà phê là cây công nghiệp lâu năm quan trọng của Tây Nguyên.
Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh và phân hoá theo độ cao thuận lợi để Tây Nguyên đa dạng cơ cấu cây công nghiệp.
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên được nâng lên do đẩy mạnh chế biến và ứng dụng công nghệ, kĩ thuật.
Khí hậu của Tây Nguyên có tính chất cận xích đạo, có sự phân hóa theo mùa rõ rệt. Do ảnh hưởng của độ cao nên các khu vực địa hình trên 1 000 m có khí hậu mát mẻ. Vì thế, vùng có thể đa dạng hóa cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới (cà phê, cao su, hồ tiêu,...), cây có nguồn gốc cận nhiệt (chè, cây dược liệu...) và phát triển du lịch.
Cây công nghiệp lâu năm của Tây Nguyên chủ yếu là cây ưa nhiệt.
Mùa khô sâu sắc kéo dài là nhân tố khó khăn chủ yếu cho sản xuất nông sản ở Tây Nguyên.
Do có mưa vào thu đông nên Tây Nguyên cần phát triển thủy lợi hợp lí nhằm phát triển nông nghiệp hiệu quả.
Nguyên nhân đe dọa xói mòn đất nếu mất thực vật ở Tây Nguyên chủ yếu là do sự phân hóa mạnh giữa mùa khô kéo dài và mùa mưa.
Vùng Tây Nguyên đã khai thác thế mạnh và phát triển thủy điện từ rất sớm, trữ năng thủy điện tập trung chủ yếu trên các sông Sê San, Srê Pôk và Đồng Nai. Tổng sản lượng điện toàn vùng chiếm 10% sản lượng điện của cả nước (2021).
Các sông Sê San và Đồng Nai thuận lợi cho phát triển thủy điện.
Tây Nguyên là vùng có sản lượng thủy điện lớn nhất cả nước.
Các hồ thủy điện góp phần cung cấp nước tưới vào mùa khô cho các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm.
Để đảm bảo cân bằng hệ sinh thái thì Tây Nguyên cần phải tăng cường xây dựng các công trình thủy điện.
Câu 8. Tây Nguyên là vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm lớn của nước ta. Năm 2021, diện tích cây công nghiệp của vùng là 981,2 nghìn ha, chiếm 44,5% diện tích cây công nghiệp lâu năm của cả nước. Vùng đã ứng dụng công nghệ cao (công nghệ sinh học, tự động hoá,...) trong sản xuất và chế biến nên năng suất và chất lượng sản phẩm tăng; công nghiệp chế biến các sản phẩm đã được hiện đại hoá, xây dựng được một số thương hiệu cà phê, hồ tiêu,...trên thị trường thế giới.
Cà phê là sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Tây Nguyên.
Tây Nguyên trở thành vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm lớn do đất badan tập trung thành vùng lớn.
Khi mở rộng các vùng chuyên canh cây công nghiệp ở Tây Nguyên, vấn đề cần chú ý nhất là đầu tư thay đổi cơ cấu giống cây trồng.
Việc hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên do đa dạng hóa nông nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm.
Câu 9. Đất đai được coi là tài nguyên cơ bản của vùng Tây Nguyên, diện tích đất chủ yếu là đất đỏ badan, tầng phong hoá dày; địa hình có các cao nguyên xếp tầng (cao nguyên Buôn Ma Thuột, Plâycu, Đăk Nông, Kon Tum...). Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400 - 500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm mang đặc điểm của khí hậu núi cao.
Bề mặt các cao nguyên thuận lợi cho hình thành vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm.
Vùng trồng được cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt là do sự phân mùa của khí hậu.
Bề mặt các cao nguyên xếp tầng gây khó khăn cho việc phân hóa nông nghiệp.
Cơ cấu cây công nghiệp thích hợp với địa hình, đất đai và khí hậu là cà phê, cao su, hồ tiêu, chè...
Tây Nguyên có trữ lượng bô-xít lớn nhất cả nước (khoảng 8,2 tỉ tấn), chiếm gần 90% trữ lượng cả nước, phân bố chủ yếu ở Lâm Đồng, Đắk Nông. Khai thác bô-xít thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của vùng Tây Nguyên. a) Tây Nguyên dẫn đầu cả nước về khai thác và chế biến bô-xit. (Đúng) b) Vấn đề quan trọng cần giải quyết trong phát triển khai thác và chế biến bô-xit là đảm bảo cơ sở năng lượng. c) Biện pháp chủ yếu để khai thác và sử dụng bền vững khoáng sản bô-xit ở Tây Nguyên là chế biến sâu, sử dụng công nghệ tiên tiến, bảo vệ môi trường. (Đúng) d) Ý nghĩa chủ yếu của việc đẩy mạnh khai thác và chế biến bô-xit ở Tây Nguyên là tăng thu nhập, giải quyết việc làm.
Tây Nguyên dẫn đầu cả nước về khai thác và chế biến bô-xit.
Vấn đề quan trọng cần giải quyết trong phát triển khai thác và chế biến bô-xit là đảm bảo cơ sở năng lượng.
Biện pháp chủ yếu để khai thác và sử dụng bền vững khoáng sản bô-xit ở Tây Nguyên là chế biến sâu, sử dụng công nghệ tiên tiến, bảo vệ môi trường.
Ý nghĩa chủ yếu của việc đẩy mạnh khai thác và chế biến bô-xit ở Tây Nguyên là tăng thu nhập, giải quyết việc làm.
Tây Nguyên có những điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp lâu năm. Đất đỏ ba dan chiếm diện tích lớn, có tầng phong hóa sâu, giàu dinh dưỡng và phân bố rộng lớn. Khí hậu ở Tây Nguyên cận xích đạo, phù hợp cho việc trồng cây công nghiệp có nguồn gốc nhiệt đới. Ngoài ra, mùa khô kéo dài tạo thuận lợi cho việc phơi sấy và bảo quản nông sản. Tuy nhiên, cũng có những khó khăn như mực nước ngầm hạ thấp trong mùa khô, gây khó khăn cho việc thủy lợi và rừng bị phá hoại dẫn đến xói mòn đất. a) Tây Nguyên là vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm lớn bậc nhất nước ta. (Đúng) b) Việc phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển sản xuất hàng hóa.
Tây Nguyên là vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm lớn bậc nhất nước ta.
Việc phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển sản xuất hàng hóa.
Cơ cấu cây công nghiệp lâu năm của Tây Nguyên đa dạng hơn Đông Nam Bộ chủ yếu do khí hậu cận xích đạo phân hóa theo độ cao địa hình.
Việc mở rộng diện tích cây công nghiệp lâu năm cần chú ý đến vấn đề phát triển đồng đều ở các địa phương.
Sản lượng gỗ khai thác một số vùng của nước ta giai đoạn 2018 - 2021
(Đơn vị: Nghìn m3)
Năm
2018
2019
2020
2021
Trung du và miền núi Bắc Bộ
4087,8
4315,1
4419,3
4847,9
Tây Nguyên
685,7
699,3
712,0
753,7
Đồng bằng sông Cửu Long
800,5
801,8
805,9
797,3
Sản lượng gỗ khai thác ở Tây Nguyên tăng liên tục.
Tốc độ tăng trưởng sản lượng gỗ khai thác của Tây Nguyên nhanh hơn Đồng bằng Sông Cửu Long nhưng chậm hơn Trung du và miền núi Bắc Bộ.
Sản lượng gỗ khai thác của Tây Nguyên ngày càng giảm do sự suy giảm của tài nguyên rừng.
Biểu đồ cột là dạng biểu đồ thích hợp nhất để so sánh sản lượng gỗ khai thác của các vùng, giai đoạn 2018 - 2021.
Diện tích rừng của vùng Tây Nguyên, giai đoạn 2010 - 2021
(Đơn vị: nghìn ha)
Năm
2010
2015
2020
2021
Diện tích rừng tự nhiên
2653,9
2246,0
2179,8
2104,1
Diện tích rừng trồng
220,5
315,9
382,2
468,6
Diện tích rừng trồng tăng.
Trong cơ cấu rừng, diện tích rừng tự nhiên chiếm tỉ trọng cao hơn.
Diện tích rừng tự nhiên giảm chủ yếu do mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp.
Biểu đồ miền là dạng biểu đồ thích hợp nhất thể hiện sự thay đổi cơ cấu diện tích rừng ở Tây Nguyên giai đoạn 2010 - 2021.
Tây Nguyên có diện tích rừng khá lớn. Năm 2021, tổng diện tích rừng hơn 2,5 triệu ha, chiếm 17,5% diện tích rừng cả nước. Rừng Tây Nguyên có đa dạng sinh học cao, giàu trữ lượng, có nhiều loại dược liệu quý,... Trong vùng có nhiều vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển thế giới như Yok Đôn, Kon Hà Nừng, Tà Đùng,..
Rừng của Tây Nguyên được coi là “kho vàng xanh”.
Rừng ở Tây Nguyên chủ yếu là rừng trồng.
Giải pháp quan trọng hàng đầu để phát triển lâm nghiệp ở Tây Nguyên là ngăn chặn nạn phá rừng, khai thác hợp lí và trồng rừng.
Biện pháp để tăng diện tích rừng phòng hộ ở Tây Nguyên chủ yếu là giao đất giao rừng cho dân, khai thác hợp lí.
Tây Nguyên có trữ năng thuỷ điện lớn thứ hai sau vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. Trữ năng thuỷ điện của vùng tập trung ở một số hệ thống sông như Sê San, Srêpôk, Đồng Nai,...
Trên các hệ thống sông lớn ở Tây Nguyên có thể xây dựng nhiều nhà máy thủy điện.
Khó khăn lớn nhất trong hoạt động của các nhà máy thủy điện ở Tây Nguyên hiện nay là chế độ nước theo mùa.
Khai thác thủy năng kết hợp với thủy lợi ở Tây Nguyên có ý nghĩa chủ yếu là phát triển công nghiệp, tạo việc làm.
Tây Nguyên hình thành được các bậc thang thủy điện chủ yếu do đặc điểm mạng lưới sông ngòi và địa hình.
Diện tích rừng của Tây Nguyên, giai đoạn 2010 - 2021
(Đơn vị: Nghìn ha)
Năm
2010
2015
2020
2021
Diện tích rừng tự nhiên
2 653,9
2 246,0
2 179,8
2 104,1
Diện tích rừng trồng
220,5
315,9
382,2
468,6
Tổng diện tích rừng, diện tích rừng tự nhiên và diện tích rừng trồng của Tây Nguyên tăng liên tục.
Diện tích rừng tự nhiên chiếm tỉ trọng cao hơn trong cơ cấu diện tích rừng của Tây Nguyên và đang giảm.
Diện tích rừng trồng tăng lên liên tục qua các năm do chính sách đẩy mạnh trồng rừng của Nhà nước.
Biểu đồ tròn là dạng biểu đồ thích hợp nhất để thể hiện cơ cấu diện tích rừng của Tây Nguyên, giai đoạn 2010 - 2021.
