Font size
WorksheetsTâm lý học giáo dục
Total questions: 60
Worksheet time: 45mins
Kinh nghiệm lịch sử - xã hội của mỗi cá nhân chủ yếu được hình thành bằng con đường:
Di truyền từ thế hệ trước theo con đường sinh học.
Bắt chước.
Hành động có tính mò mẫm theo cơ chế thử - sai.
Theo cơ chế lĩnh hội (học tập).
Trong sự phát triển tâm lí của cá nhân, nền văn hoá xã hội có vai trò:
Quy định trước sự phát triển tâm lí của con người.
Quyết định gián tiếp sự phát triển tâm lí con người trong mỗi giai đoạn của cuộc đời.
Quyết định sự phát triển tâm lí của trẻ nhỏ.
Chỉ ảnh hưởng phần nào tới sự phát triển tâm lí của người trẻ tuổi.
Anh chị không tán thành quan niệm nào dưới đây:
Con người tỏ thái độ tích cực trước hoàn cảnh ngay từ những tháng, năm đầu tiên của cuộc đời.
Con người chỉ tích cực hoạt động khi được xã hội đánh giá.
Tính tích cực hoạt động sẽ giúp trẻ phát triển tốt nếu được người lớn hướng dẫn chu đáo.
Càng phát triển, hoạt động của cá nhân càng có tính tự giác.
Quan niệm: Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại là quan điểm của:
Thuyết tiền định.
Thuyết duy cảm.
Thuyết hội tụ hai yếu tố.
Tâm lí học macxit
Thuyết tiền định, thuyết duy cảm và thuyết hội tụ hai yếu tố đều có sai lầm chung là thừa nhận đặc điểm tâm lí của con người là do:
Tiền định hoặc bất biến.
Tiềm năng sinh vật di truyền quyết định.
Ảnh hưởng của môi trường bất biến.
Tất cả đều đúng
Quy luật chung của sự phát triển tâm lí trẻ em được thể hiện ở:
Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lí.
Tính toàn vẹn của tâm lí.
Tính mềm dẻo và khả năng bù trừ.
Tính phức hợp trong hình thành nhân cách
Sự phát triển tâm lí trẻ em tuân theo:
Quy luật sinh học.
Quy luật xã hội.
Quy luật sinh học và quy luật xã hội.
Không theo quy luật nào cả.
Yếu tố giữ vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển tâm lí trẻ em là:
Di truyền.
Môi trường gia đình và xã hội.
Giáo dục.
Tất cả đều đúng
Việc phân chia các giai đoạn lứa tuổi của trẻ em chủ yếu căn cứ vào:
Đặc điểm tâm lí của lứa tuổi đó.
Sự phát triển của các yếu tố cơ thể.
Hoạt động đóng vai trò chủ đạo.
Tính chất của các quan hệ xã hội của trẻ em.
Trong quá trình phát triển của trẻ em diễn ra:
Sự bù trừ và tác động lẫn nhau giữa các chức năng tâm lí đã có.
Không có sự bù trừ các chức năng tâm lí đã hình thành.
Sự điều chỉnh trong quá trình phát triển do sự mềm dẻo của các yếu tố tâm - sinh lí của chủ thể.
Sự đa dạng về mặt thể hiện nhân cách.
Nguyên nhân khiến thiếu niên thường mỏi mệt, chóng mặt, hoa mắt... chủ yếu là do:
Sự phát triển mạnh nhưng thiếu cân đối của hệ tuần hoàn.
Sự phát dục.
Sự phát triển mạnh nhưng thiếu cân đối của hệ cơ.
Sự phát triển mạnh nhưng thiếu cân đối của hệ xương.
Sự phát triển thể chất của lứa tuổi thiếu niên về cơ bản là giai đoạn:
Phát triển chậm, theo hướng hoàn thiện các yếu tố từ lứa tuổi nhi đồng.
Phát triển với tốc độ nhanh, không đồng đều, không cân đối.
Phát triển với tốc độ nhanh, đồng đều, cân đối.
Phát triển mạnh về tầm vóc cơ thể (chiều cao, cân nặng).
Nguyên nhân chủ yếu khiến thiếu niên thường nói "nhát gừng", “cộc lốc” là:
Muốn khẳng định tính người lớn của mình trong quan hệ với người xung quanh.
Muốn che đậy sự lóng ngóng, vụng về của mình do sự phát triển thiếu cân đối của cơ thể gây ra.
Do phản xạ với tín hiệu trực tiếp hình thành nhanh hơn phản xạ với tín hiệu từ ngữ.
Sự phát triển không cân đối của cơ thể làm các em thấy mệt mỏi, ngại giao tiếp.
Trong giai đoạn phát dục (dậy thì), đa số các em thiếu niên:
Thiết lập được sự cân bằng giữa sự phát triển yếu tố tâm lí tính dục với tâm lí xã hội.
Đã trưởng thành về mặt tâm lí tính dục nhưng chưa phát triển về mặt tâm lí xã hội.
Đã trưởng thành về mặt tính dục nhưng chưa trưởng thành về cơ thể, đặc biệt là chưa trưởng thành về mặt tâm lí và xã hội.
Cơ thể phát triển không cân đối, còn mang nhiều nét trẻ con.
Những thay đổi về vị trí của thiếu niên trong gia đình có tác động như thế nào đối với thiếu niên?
Tăng cường sự lệ thuộc của các em vào cha mẹ.
Thúc đẩy tính tích cực, độc lập trong suy nghĩ và hành động.
Một mặt thúc đẩy phát triển tính người lớn nhưng mặt khác lại làm kìm hãm tính người lớn ở các em.
Tất cả đều đúng
Sự khủng hoảng trong sự phát triển tâm lí ở tuổi thiếu niên chủ yếu là do:
Bản chất, hoàn cảnh xã hội và quan hệ xã hội của trẻ em và sự cải tổ lại hệ thống quan hệ đó của trẻ em.
Sự phát triển nhanh, mạnh và không cân đối về thể chất và tâm lí.
Quan niệm của người lớn về sự phát triển của trẻ em
Sự phát dục.
Sự chuyển tiếp từ tính chất không chủ định sang tính có chủ định là đặc điểm chung của sự phát triển trí tuệ. Đặc điểm này được thể hiện trong các quá trình nhận thức của thiếu niên ở chỗ:
Tính chất không chủ định giảm mạnh, tính chất chủ định tăng lên.
Tính chất không chủ định giữ nguyên, tính chủ định tăng nhanh.
Tính chất có chủ định chiếm ưu thế hơn so với tính không chủ định.
Tính chất có chủ định phát triển mạnh nhưng chưa chiếm ưu thế, tính không chủ định không giảm.
Đặc điểm cơ bản trong hoạt động tư duy của thiếu niên là:
Tư duy trừu tượng phát triển mạnh chiếm ưu thế.
Sự phát triển tư duy hình tượng dừng lại, tư duy trừu tượng phát triển mạnh.
Tư duy trừu tượng và tư duy hình tượng đều phát triển, nhưng chất lượng của tư duy trừu tượng là không đồng đều ở mỗi học sinh.
Tư duy trực quan - hình tượng phát triển mạnh.
"Cảm giác mình làm người lớn" khiến thiếu niên quan tâm nhiều hơn đến bản thân. Lĩnh vực đầu tiên các em quan tâm đến là:
Những phẩm chất tâm lí cá nhân.
Hình thức tác phong cử chỉ của bản thân.
Những khả năng của bản thân.
Tất cả đều đúng
Nguyên nhân chủ yếu gây ra sự xung đột giữa thiếu niên và người lớn là:
Người lớn không hiểu thiếu niên và vẫn đối xử với các em như trẻ con.
Hoạt động thần kinh của thiếu niên không cân bằng.
Thiếu niên luôn ngang bướng để chứng tỏ mình đã lớn.
Phản ứng tất yếu của lứa tuổi không thể khắc phục được.
Phạm vi giao tiếp của thiếu niên với bạn bè là:
Rộng rãi và bền vững.
Hẹp hơn học sinh nhỏ nhưng bền vững.
Từ phạm vi rộng nhưng chưa bền vững đến hẹp nhưng bền vững, sâu sắc.
Ban đầu phạm vi giao tiếp hẹp sau mở rộng dần.
"Con Hà nhà tôi đã 13 tuổi rồi, tay chân thì dài ngoẵng ra mà làm gì thì “hậu đậu” ơi là “hậu đậu”: Rửa bát thì bát vỡ, cắt bìa đậu thì nát cả đậu"- một bà mẹ than thở.
“Ô, thế thì giống hệt con Thu nhà tôi, nó học cùng lớp với con Hà đấy”. - Mẹ Thu hưởng ứng
Những lời phàn nàn trên của hai bà mẹ là vì?
Tính cách cá nhân của lứa tuổi thiếu niên.
Đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao của thiếu niên.
Sự phát triển cơ thể thiếu cân đối, hài hoà của thiếu niên.
Hành vi muốn chống đối người lớn.
Trong xã hội ngày nay, hiện tượng "gia tốc phát triển" đã khiến cho tuổi thanh niên:
Bắt đầu và kết thúc sớm hơn trước đây.
Bắt đầu sớm, nhưng kết thúc muộn hơn.
Bắt đầu muộn, nhưng kết thúc sớm hơn.
Bắt đầu và kết thúc muộn hơn trước đây.
Điều nào không đúng với sự phát triển thể chất của lứa tuổi học sinh THPT?
Đa số các em đang trong thời kì phát dục (thời kì dậy thì).
Đa số có cơ thể phát triển cân đối, khoẻ, đẹp như cơ thể người lớn.
Sự phát triển hệ thần kinh gần tương đương với hệ thần kinh của người trưởng thành.
Chiều cao và cân nặng tuy vẫn phát triển nhưng đã có chiều hướng chững lại.
Trong quan hệ với tuổi đầu thanh niên, người lớn thường:
Yêu cầu ở các em tính độc lập và ý thức trách nhiệm.
Đòi hỏi các em phục tùng những yêu cầu của mình đề ra.
Một mặt đòi hỏi các em phục tùng những yêu cầu của mình, mặt khác lại mong muốn ở các em tính độc lập, tự giác và ý thức trách nhiệm.
Mong muốn các em có cách cư xử và khả năng thực hiện các công việc như người lớn.
Thái độ học tập của học sinh THPT được thúc đẩy trước hết bởi:
Động cơ thực tiễn và động cơ nhận thức.
Động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức và ý nghĩa xã hội của môn học.
Động cơ nhận thức và ý nghĩa xã hội của môn học.
Động cơ quan hệ xã hội.
Hứng thú học tập các môn học của học sinh THPT thường gắn liền với:
Tính chất của môn học.
Phương pháp giảng dạy của giáo viên bộ môn.
Kết quả học tập của môn học.
Khuynh hướng nghề nghiệp mà các em lựa chọn.
Loại tư duy nào phát triển mạnh ở lứa tuổi học sinh THPT?
Trực quan hình ảnh.
Trực quan hành động.
Trừu tượng, lí luận.
Tất cả đều đúng
Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có khả năng vừa nghe giảng, vừa ghi chép, đồng thời vẫn theo dõi được câu trả lời của bạn trong giờ học... Điều này chứng tỏ sự phát triển và hoàn thiện của khả năng:
Tri giác.
Ghi nhớ hình tượng cụ thể và ghi nhớ ý nghĩa.
Di chuyển và phân phối chú ý.
Tư duy trực quan hành động và tư duy ngôn ngữ.
Điểm nào không phù hợp với đặc điểm tự ý thức của tuổi học sinh THPT:
Học sinh THPT bắt đầu tri giác đặc điểm cơ thể của bản thân.
Hình ảnh về cơ thể là thành tố quan trọng của tự ý thức ở tuổi học sinh THPT.
Tuổi học sinh THPT có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lí của mình theo quan điểm về mục đích và hoài bão cuộc sống của bản thân.
Tự ý thức của tuổi học sinh THPT xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động của bản thân trong tập thể.
Nguyên nhân cơ bản khiến học sinh THPT rất quan tâm đến diện mạo, hình thức bề ngoài của bản thân là:
Sự biến đổi mạnh mẽ về mặt cơ thể ở lứa tuổi này.
Sự thúc đẩy của nhu cầu trở thành người lớn.
Hình ảnh về thân thể của mình là một thành tố quan trọng trong sự tự ý thức ở lứa tuổi này.
Tất cả đều đúng
Trong quyển sổ của Liên đã dày cộp lên những câu danh ngôn của các nhà hiền triết. Không hiểu sao Liên rất thích chép những câu danh ngôn và suy nghĩ rất lâu về chúng. Tối, ngồi vào bàn học, Liên tự hỏi: mình 18 tuổi rồi ư? Mình đã làm gì được gì rồi nhỉ? Không, trước hết phải học thật tốt đã, rồi mới tính đến việc khác...
Việc làm và suy nghĩ của Liên phản ánh đặc trưng nào trong tâm lí tuổi đầu thanh niên?
Tuổi giàu chất lãng mạn.
Tuổi phát triển mạnh mẽ tự ý thức, tự tu dưỡng cá nhân.
Tuổi phát triển tư duy trừu tượng.
Tuổi đầy hoài bão, ước mơ.
Sự xuất hiện nhiều nhóm pha trộn bên cạnh những nhóm thuần nhất ở lứa tuổi đầu thanh niên là dấu hiệu chứng tỏ:
Sự tích cực hoá rõ rệt trong quan hệ bạn khác giới ở lứa tuổi này.
Sự phức tạp hoá trong nhu cầu giao tiếp ở lứa tuổi này.
Sự đa dạng hoá các nhu cầu hoạt động của lứa tuổi này.
Sự lí tưởng hoá tình bạn của các em ở lứa tuổi này.
Tình yêu nam nữ của tuổi học sinh THPT thường:
Mang đậm màu sắc tính dục.
Mang tính hồn nhiên.
Tương đối bền vững.
Rất lãng mạn.
Trong lĩnh vực chọn nghề, với đa số học sinh THPT:
Chưa thực sự có nhu cầu lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai của mình.
Nhu cầu lựa chọn nghề đã trở lên cấp thiết, nhất là các lớp cuối cấp.
Ít quan tâm, suy nghĩ, trăn trở trong việc quyết định lựa chọn nghề và trường học nghề sau khi tốt nghiệp THPT.
Chọn nghề và trường học nghề thường đúng đắn, phù hợp với bản thân và xã hội.
Điểm nào không đúng với đặc điểm tâm lí tuổi đầu thanh niên hiện nay?
Quan hệ bạn bè chiếm vị trí thứ yếu so với quan hệ với người lớn hay với trẻ em nhỏ tuổi hơn.
Nhu cầu kết bạn của tuổi đầu thanh niên rất cao và tình bạn rất bền vững
Nhu cầu lựa chọn nghề nghiệp dần trở thành vấn đề cấp thiết trong đời sống của các em.
Hình ảnh về thân thể của mình là một thành tố quan trọng trong tự ý thức của các em.
Muốn tổ chức thành công quá trình tái tạo nền văn hoá xã hội ở người học, người dạy cần:
Tạo ra tính tích cực trong hoạt động học của học sinh.
Biết cách truyền đạt có hiệu quả nhất đối với học sinh.
Tạo ra tính tích cực trong hoạt động dạy.
Biết cách chế biến tài liệu học tập cho phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh.
Hoạt động lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo theo một mục đích tự giác, được gọi là:
Học ngẫu nhiên.
Học không chủ định.
Hoạt động học.
Học kinh nghiệm.
Nếu hoạt động học tập của học sinh được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội thì:
Học sinh thường không say sưa, không có khát vọng học tập.
Học sinh vẫn say sưa học tập do sự hấp dẫn của bản thân tri thức.
Học sinh vẫn say sưa học tập, nhưng sự say sưa đó thường do sự hấp dẫn, lôi cuốn của một “cái khác” nằm ngoài mục đích trực tiếp của việc học.
Học sinh say sưa học vì bị hấp dẫn bởi tiến trình và kết quả học tập.
Trong hình thức “mã hoá”, lôgíc của khái niệm được tồn tại ở:
Vật thật.
Trong tâm lí cá thể.
Một vật liệu khác thay thế vật thật.
Tất cả đều đúng
Để hình thành khái niệm lí luận cho học sinh trong dạy học, ta cần hình thành ở các em những thao tác tư duy nào?
Phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá.
Phân tích, trừu tượng hoá, khái quát hoá.
Phân tích, mô hình hoá, cụ thể hoá.
Trừu tượng hoá, khái quát hoá, cụ thể hoá.
Hành động giúp học sinh diễn đạt lôgíc tổng quát của khái niệm dưới hình thức trực quan là hành động:
Phân tích.
Mô hình hoá.
Cụ thể hoá.
Tất cả đều đúng
Quá trình hình thành khái niệm cho học sinh trong dạy học là quá trình:
Chuyển hoá khái niệm từ đầu giáo viên sang đầu học sinh.
Giáo viên mô tả, giảng giải để học sinh nắm được định nghĩa, khái niệm.
Giáo viên tổ chức, điều khiển hoạt động học của học sinh nhằm giúp các em tái tạo lại những năng lực thực tiễn của loài người được gửi gắm trong thế giới đối tượng cho bản thân.
Giáo viên hệ thống hoá những kinh nghiệm vốn có trong bản thân học sinh để hình thành ở các em những khái niệm khoa học.
Chỉ sau hai lần giải các bài tập cùng loại, học sinh đã nắm được cách giải tổng quát của loại bài tập đó. Điều này chứng tỏ sự phát triển cao của phẩm chất trí tuệ nào?
Tốc độ định hướng trí tuệ.
Tốc độ khái quát hoá.
Tính tiết kiệm của tư duy.
Tính mềm dẻo của trí tuệ.
Mục đích của hoạt động dạy là:
Hình thành tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh.
Làm cho học sinh chiếm lĩnh nền văn hoá - xã hội, phát triển tâm lí, hình thành nhân cách.
Làm cho học sinh thay đổi về trí tuệ và nhân cách.
Biểu tượng về sự thay đổi trí tuệ và nhân cách của học sinh trong quá trình dạy học.
Mục đích của hoạt động học là:
Thay đổi bản thân chủ thể hoạt động.
Biểu tượng về kết quả học tập.
Thay đổi hoạt động và hành vi của mình.
Thay đổi nhận thức, tình cảm và hoạt động.
Kĩ năng là:
Khả năng vận dụng tri thức và phương pháp giải quyết các nhiệm vụ học tập.
Hành động được luyện tập nhiều lần.
Hành động trí tuệ giải quyết các nhiệm vụ học tập.
Khả năng giải quyết các nhiệm vụ khác nhau của học tập.
Dạy học và sự phát triển trí tuệ có mối quan hệ với nhau, vì:
Dạy học định hướng và thúc đẩy sự phát triển trí tuệ.
Mục đích của dạy học là phát triển trí tuệ cho học sinh và phát triển trí tuệ là điều kiện của dạy học.
Dạy học và phát triển trí tuệ là hai vấn đề khác nhau của một quá trình đi đến sự phát triển trí tuệ của học sinh.
Dạy học bao giờ cũng gắn liền với sự phát triển trí tuệ và không thể có sự phát triển trí tuệ ngoài quá trình dạy học.
Trong tâm lí học mác xít, đạo đức được hiểu là:
Hệ thống những yêu cầu con người đặt ra trong các mối quan hệ xã hội.
Một trong những hình thái của ý thức xã hội.
Hệ thống những chuẩn mực được con người tự đặt ra và tự giác tuân theo trong quá trình quan hệ xã hội.
Tất cả đều đúng
Tiêu chuẩn để đánh giá một hành vi đạo đức là:
Tính tự giác.
Tính có ích.
Tính không vụ lợi cá nhân.
Tất cả đều đúng
Yếu tố quyết định trực tiếp trình độ đạo đức của mỗi học sinh là:
Sự tự tu dưỡng của học sinh.
Việc tổ chức giáo dục của nhà trường.
Không khí rèn luyện đạo đức của tập thể học sinh.
Nền nếp sinh hoạt và tổ chức giáo dục của gia đình.
Tính tự giác của hành vi đạo đức được thể hiện ở:
Tính tích cực của chủ thể hành động.
Ý thức được kết quả hành động và tự nguyện thực hiện.
Tính tự nguyện của chủ thể hành động.
Ý thức được mục đích và ý nghĩa hành động.
Trong tình huống phải đấu tranh giữa cái “tôi cần” và “tôi muốn” thì việc thực hiện hành vi đạo đức là kết quả của những yếu tố nào trong các yếu tố sau?
Thiện chí và tri thức đạo đức.
Nghị lực và niềm tin đạo đức.
Thói quen đạo đức.
Thiện chí, nghị lực và tri thức đạo đức.
Để gia đình có ảnh hưởng giáo dục đạo đức tốt cho con em mình, gia đình không nên làm điều nào dưới đây?
Ngăn cấm con em tiếp xúc với ảnh hưởng xấu từ bên ngoài.
Xác định rõ mục đích giáo dục cho con cái.
Giáo dục con ngay cả khi có mặt hay vắng mặt bố mẹ.
Vừa khuyên răn con em vừa nêu tấm gương tốt của bố mẹ.
Điều nào không phải là công việc của giáo viên khi giúp đỡ cho học sinh tự tu dưỡng?
Lập kế hoạch tự tu dưỡng cho học sinh, trong đó nêu rõ nét đạo đức cần rèn luyện, củng cố hay khắc phục.
Làm cho học sinh hiểu rằng phải tự tu dưỡng trong hoạt động thực tiễn mới đạt kết quả.
Làm cho học sinh hiểu rằng tự kiểm tra đánh giá thường xuyên là việc làm không thể thiếu của sự tự tu dưỡng.
Cần nắm mục đích, phương pháp, tổ chức tu dưỡng của học sinh để giúp các em định hướng đúng.
Thói quen đạo đức có thể hiểu là:
Hành vi sẵn sàng thực hiện chuẩn mực đạo đức.
Hành vi đạo đức ổn định đã trở thành nhu cầu của con người.
Hành động tự động hoá.
Tất cả đều đúng
Phương pháp giáo dục tốt nhất là:
Áp đặt, cưỡng bức thực hiện theo mệnh lệnh.
Giảng giải, thuyết phục, động viên, giám sát.
Hoàn toàn để trẻ tự do làm theo ý mình.
Tất cả đều đúng
Phẩm chất nào không phù hợp với tình cảm nghề dạy học?
Thế giới quan Mác - Lênin, lí tưởng đào tạo thế hệ trẻ.
Lòng yêu người, yêu nghề.
Sự uỷ mị, yếu mềm đối với trẻ.
Các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp.
Yếu tố quan trọng trong cấu trúc nhân cách, quyết định niềm tin chính trị, quyết định hành vi và ảnh hưởng của thầy giáo đối với trẻ là:
Lí tưởng đào tạo thế hệ trẻ.
Thế giới quan khoa học.
Phẩm chất đạo đức.
Lòng yêu trẻ.
Biết lường trước phản ứng của học sinh khi tác động đến các em là biểu hiện của:
Năng lực chế biến tài liệu.
Năng lực hiểu học sinh.
Năng lực nắm vững kĩ thuật dạy học.
Năng lực cảm hoá học sinh.
