Font size
WorksheetsÔn Tập Kiểm Tra Lịch Sử
Total questions: 57
Worksheet time: 33mins
Khi CTTG thứ hai đang diễn ra, các nước Đồng minh chống phát xít mong muốn
thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hoà bình, an ninh thế giới.
hợp tác giữa các nước nhằm khắc phục hậu quả sau chiến tranh.
thiết lập một trật tự thế giới đa cực, nhiều trung tâm.
thành lập toà án quốc tế để xét xử tội phạm chiến tranh.
Sự kiện nào dưới đây gắn liền với ngày 24-10-1945 ?
Liên hợp quốc chính thức được thành lập.
Mỹ và Liên Xô phê chuẩn bản Hiến chương Liên hợp quốc.
Hội nghị Xan Phranxixcô (Mỹ) thông qua bản Hiến chương Liên hợp quốc.
Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an thông qua bản Hiến chương.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của Liên hợp quốc là
Bình đẳng về chủ quyền quốc gia.
Hợp tác phát triển có hiệu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội.
Chung sống hòa bình, vừa hợp tác vừa đấu tranh.
Tiến hành hợp tác quốc tế bằng biện pháp hòa bình.
"Thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng, quyền tự quyết dân tộc và củng cố hoà bình thế giới" là mục tiêu của tổ chức
Liên hợp quốc.
Liên minh Châu Âu (EU).
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM).
Trong số các mục tiêu của Liên hợp quốc, mục tiêu nào được chú trọng và là cơ sở để thực hiện các mục tiêu khác ?
Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
Thúc đẩy quan hệ hữu nghị các dân tộc.
Thúc đẩy hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân đạo.
Liên hợp quốc đóng vai trò là trung tâm điều hoà các nỗ lực quốc tế.
Hãy sắp xếp các sự kiện trên theo đúng trình tự thời gian.
4, 2, 1, 3.
1, 3, 2, 4.
3, 1, 2, 4.
1, 3, 4, 2.
Vai trò quan trọng hàng đầu của tổ chức Liên hợp quốc là gì ?
Góp phần ngăn chặn được nguy cơ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới mới.
Là trung gian hoà giải mọi tranh chấp quốc tế giữa các dân tộc.
Thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, văn hoá giữa các nước thành viên.
Là trung tâm giải quyết các mâu thuẫn về vấn đề dân tộc trên thế giới.
Bản Hiến chương (thông qua năm 1945) là văn kiện quan trọng nhất của tổ chức Liên hợp quốc, vì lí do nào sau đây ?
Nêu rõ mục đích hoạt động của tổ chức Liên hợp quốc.
Tạo cơ sở pháp lí để các nước tham gia Liên hợp quốc.
Quy định tổ chức, bộ máy của Liên hợp quốc.
Đề ra nguyên tắc hoạt động của tổ chức Liên hợp quốc.
Công cụ để duy trì trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai là
Liên hợp quốc.
Hội Quốc liên.
Trật tự I-an-ta.
Hiến chương Liên hợp quốc.
Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hoà bình, sao cho không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lí; Tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc từ bỏ đe doạ bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kì quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc.
Nguyên tắc của Liên hợp quốc là giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình.
Liên hợp quốc công nhận chủ quyền lãnh thổ và nền độc lập của bất kì quốc gia nào.
Các thành viên Liên hợp quốc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình.
Các thành viên Liên hợp quốc có nghĩa vụ tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc.
Hội nghị Ianta chấp nhận một trong những điều kiện gì để Liên Xô tham chiến chống Nhật ?
Duy trì nguyên trạng và công nhận độc lập của Mông Cổ.
Liên Xô chiếm đóng vùng Đông Đức, Đông Béc-lin, các nước Đông Âu.
Trung Quốc, Bắc Triều Tiên do quân đội Liên Xô chiếm đóng.
Quân đội Liên Xô và Mỹ Trung Quốc đều có quyền lợi ở Trung Quốc
Mâu thuẫn Đông(XHCN) - Tây (TBCN) bắt đầu từ:
tham vọng và âm mưu làm bá chủ thế giới của Mỹ.
tham vọng và âm mưu làm bá chủ thế giới của Liên Xô
âm mưu và thủ đoạn của các nước nước Đế quốc
sự đối đầu giữa các nước Đông Âu và Tây Âu.
Xu hướng hòa hoãn bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX với việc
Liên Xô - Mỹ tiến hành cuộc gặp gỡ cấp cao và thoả thuận về hạn chế vũ khí chiến lược(1972).
Đông Đức - Tây Đức ký hiệp định về những cơ sở quan hệ 2 nước.
2 siêu cường Xô - Mỹ tiến hành những cuộc gặp gỡ cấp cao tại đảo Man-ta (Địa Trung Hải).
33 nước châu Âu, Mỹ và Ca-na-đa đó ký Hiệp ước Hen-xin-ky.
Giai đoạn từ năm 1945 - đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX là
giai đoạn xác lập và phát triển của Trật tự thế giới hai cực Ianta.
giai đoạn hình thành và tồn tại của Trật tự thế giới hai cực Ianta.
giai đoạn phát triển hoàng kim của Trật tự thế giới hai cực Ianta.
giai đoạn suy yếu và sụp đổ của Trật tự thế giới hai cực Ianta.
Giai đoạn từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX - đến năm 1991 là
giai đoạn suy yếu và sụp đổ của Trật tự thế giới hai cực Ianta.
giai đoạn hình thành và tồn tại của Trật tự thế giới hai cực Ianta.
giai đoạn xác lập và phát triển của Trật tự thế giới hai cực Ianta.
giai đoạn phát triển hoàng kim của Trật tự thế giới hai cực Ianta.
Trong các quyết định của Hội nghị Ianta, quyết định đưa đến sự phân chia hai cực trong quan hệ quốc tế là
thoả thuận việc đóng quân, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á.
thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hòa bình, an ninh thế giới.
Liên Xô tham gia chống Nhật ở Châu Á sau khi kết thúc chiến tranh ở châu Âu.
tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật
Nội dung gây nhiều tranh cãi nhất giữa ba cường quốc Liên Xô, Mỹ, Anh tại Hội nghị Ianta
Phân chia khu vực đóng quân và phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á.
Nhanh chóng tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật.
Thành lập tổ chức quốc tế Liên Hợp Quốc nhằm duy trì hòa bình, an ninh thế giới.
Giải quyết các hậu quả chiến tranh, phân chia chiến lợi phẩm.
Hậu quả nặng nề, nghiêm trọng nhất mang lại cho thế giới trong suốt thời gian cuộc chiến tranh lạnh là:
Thế giới luôn trong tình trạng căng thẳng, đối đầu, nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới.
Các nước ráo riết, tăng cường chạy đua vũ trang.
Hàng ngàn căn cứ quân sự được thiết lập trên toàn cầu.
Các nước chi một khối lượng khổng lồ về tiền của để sản xuất các loại vũ khí hủy diệt.
Sự kiện đánh dấu trật tự 2 cực I-an-ta sụp đổ hoàn toàn (chiến tranh lạnh hoàn toàn kết thúc)
Sự tan rã của các nước Liên Xô và Đông Âu.
Các nước Châu Âu, Mỹ và Ca-na-đa ký hiệp ước Hen-xin-ky(1975).
nước Đức tái thống nhất năm 1990.
Liên Xô và Mỹ tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh năm 1989.
Đặc trưng nổi bật nhất của trật tự 2 cực Ianta là
thế giới chia làm 2 phe TBCN và XHCN do Mỹ và Liên Xô đứng đầu.
sự đối lập về kinh tế, chính trị giữa các nước Đông Âu và Tây Âu.
cuộc chạy đua vũ trang và đối đầu căng thẳng giữa Liên Xô và Mỹ.
chiến tranh lạnh giữa 2 phe TBCN và XHCN diễn
Xu thế toàn cầu hoá xuất hiện là hệ quả của
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ.
sự phát triển quan hệ thương mại quốc tế.
phong trào giải phóng dân tộc.
Chiến tranh lạnh chấm dứt.
Xét về bản chất, toàn cầu hóa là
sự tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, tác động, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước.
sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại giữa các quốc gia trên thế giới.
sự tăng cường sáp nhập và hợp nhất các công ti thành những tập đoàn lớn.
sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực.
Quan hệ quốc tế, sau Chiến tranh lạnh, thế giới hình thành xu thế nào nào sau đây ?
Xu thế đa cực.
Xu thế đơn cực.
Xu thế hội nhập.
Xu thế 2 cực.
Sau Chiến tranh lạnh, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều điều chỉnh chiến lược phát triển tập trung vào
kinh tế.
văn hóa.
quốc phòng.
chính trị.
Một trong những mặt tiêu cực của xu thế Toàn cầu hóa là
tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc.
hạn chế sự chuyển biến về cơ cấu kinh tế.
kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
hạn chế sự tăng trưởng nhanh về mặt kinh tế.
Đọc đoạn tư liệu sau: "Trật tự thế giới mới này [đa cực] được hình thành như thế nào, còn tùy thuộc ở nhiều nhân tố: Sự phát triển về thực lực kinh tế, chính trị, quân sự của các cường quốc Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nhật Bản, Đức trong cuộc chạy đua về sức mạnh quốc gia tổng hợp,…; Sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng thế giới (sự thành bại của công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa,…); Sự phát triển của cách mạng khoa học - kĩ thuật sẽ còn tiếp tục tạo ra những "đột phá" và biến chuyển trên cục diện thế giới".
(Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2021, tr.424).
Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật vừa là nguyên nhân dẫn đến sự xói mòn và sụp đổ của trật tự hai cực I-an-ta, vừa là nhân tố tác động đến sự hình thành của trật tự thế giới đa cực.
Mỹ, Nga, Trung Quốc là những cường quốc giữ vai trò chi phối quan hệ quốc tế trong cả trật tự hai cực I-an-ta và trật tự đa cực.
Cuộc chạy đua về sức mạnh tổng hợp của các cường quốc là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sự hình thành trật tự thế giới đa cực.
Đoạn tư liệu cung cấp thông tin về những biểu hiện của trật tự thế giới đơn cực đang được hình thành hiện nay.
Theo Hiến chương thành lập tổ chức ASEAN thì mục tiêu của tổ chức này là
phát triển kinh tế và văn hoá dựa trên sự nỗ lực hợp tác giữa các nước thành viên.
phát triển kinh tế và văn hoá dựa trên sự đóng góp giữa các nước thành viên.
phát triển kinh tế và văn hoá dựa vào sức mạnh quân sự giữa các nước thành viên.
phát triển kinh tế và văn hoá dựa trên sự ảnh hưởng giữa các nước thành viên.
Trong những sự kiện dưới đây sự kiện nào đánh dấu sự khởi sắc và hoạt động có hiệu quả của tổ chức ASEAN
Hiệp ước Ba-li được kí kết năm 1976.
Vấn đề Cam-pu-chia được giải quyết năm 1989.
Việt Nam gia nhập vào tổ chức năm 1995.
10 nước Đông Nam Á tham gia vào tổ chức năm 1999.
Những yếu tố dưới đây yếu tố nào không phải là nguyên nhân thành lập của tổ chức ASEAN ?
Thiết lập sự ảnh hưởng của mình đối với các nước khác.
Hợp tác giữa các nước để cùng nhau phát triển.
Hạn chế sự ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực.
Sự ra đời và hoạt động có hiệu quả của các tổ chức hợp tác khác trên thế giới.
Yếu tố khách quan dẫn tới sự ra đời của tổ chức ASEAN là
sự xuất hiện của những tổ chức hợp tác khu vực trên thế giới.
sự gần gũi về địa lí, tương đồng về lịch sử, kinh tế, văn hóa giữa các nước thành viên.
nhu cầu giúp đỡ nhau giải để quyết khó khăn và phát triển của các nước thành viên.
nhu cầu hạn chế ảnh hưởng của Mỹ và chủ nghĩa xã hội.
Điều kiện tiên quyết đưa đến sự thành lập tổ chức ASEAN (1967) là các quốc gia thành viên đều
Giành được độc lập.
Có nền kinh tế phát triển.
Có chế độ chính trị tương đồng.
Có nền văn hóa dân tộc đặc sắc.
Một trong những mục tiêu quan trọng của tổ chức ASEAN (1967) là
Tăng cường hợp tác phát triển kinh tế và văn hóa.
Xóa bỏ áp bức bóc lột và nghèo nàn lạc hậu.
Xây dựng khối liên minh kinh tế và quân sự.
Xây dựng khối liên minh chính trị và quân sự.
Quá trình phát triển thành viên của ASEAN từ 5 nước ban đầu lên 10 nước không gặp phải trở ngại nào sau đây ?
Sự khác nhau về thể chế chính trị giữa các nước.
Sự đối đầu giữa ASEAN với các nước Đông Dương.
Sự tác động của Chiến tranh lạnh.
Thời gian giành độc lập của các nước không giống nhau.
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, "một chương mới mở ra trong lịch sử Đông Nam Á" vì
ASEAN từ 5 nước ban đầu đã phát triển thành 10 nước thành viên.
Vấn đề Campuchia được giải quyết bằng Hiệp định Pari (10/1993).
Quan hệ giữa ba nước Đông Dương và ASEAN được cải thiện tích cực.
Các nước đã kí Hiến chương ASEAN thành một cộng đồng vững mạnh.
Quá trình mở rộng thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) diễn ra lâu dài và đầy trở ngại vì
Thời gian giành độc lập của các nước không đều.
Khả năng quốc phòng của các nước yếu kém.
Nền kinh tế của các nước có nhiều cách biệt.
Các nước không có nhu cầu liên kết khu vực.
Văn kiện đầu tiên chính thức khẳng định ý tưởng thành lập cộng đồng ASEAN là
Tầm nhìn ASEAN 2020.
Tuyên bố Băng Cốc năm 1967.
Hiệp ước Bali năm 1976.
Hiến chương ASEAN năm 2003.
Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN là gì ?
Tổ chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng.
Tổ chức siêu quốc gia với quyền lực tối cao.
Tổ chức vừa hợp tác vừa đấu tranh trên quy mô toàn cầu.
Liên minh kinh tế - chính trị lớn nhất hành tinh.
Một trong những nội dung chính của Cộng đồng kinh tế ASEAN là
Tạo ra thị trường và cơ sở sản xuất chung với sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, vốn, dịch vụ.
Xây dựng một ASEAN lấy con người làm trung tâm.
Bảo đảm các quyền và công bằng xã hội.
Tạo ra khối phòng thủ chung của các nước Đông Nam Á.
Mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN là
xây dựng một tổ chức hợp tác sâu rộng trên 3 trụ cột: Kinh tế, Chính trị-an ninh, văn hóa - xã hội.
xây dựng một tổ chức hợp tác sâu rộng trên 3 trụ cột: Kinh tế-chính trị, văn hóa, xã hội.
xây dựng một tổ chức hợp tác sâu rộng trên 3 trụ cột: Kinh tế, Chính trị, văn hóa-lịch sử.
xây dựng một tổ chức hợp tác sâu rộng trên 3 trụ cột: Kinh tế-xã hội, văn hóa - thể dục thể thao.
Cơ sở pháp lý để xây dựng mục tiêu của Cộng đồng ASEAN là
Hiến chương ASEAN.
Tuyên bố Băng Cốc năm 1967.
Hiệp ước Bali.
Tầm nhìn ASEAN 2020.
Đâu là triển vọng của Cộng đồng ASEAN ?
Thúc đẩy sự hợp tác, phát triển của các thành viên.
Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu.
Tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh.
Sự cạnh tranh không gian chiến lược của các nước lớn.
Mục tiêu mà Cộng đồng ASEAN hướng tới trong tương lai là đưa khu vực Đông Nam Á trở thành
một trong những khu vực phát triển năng động bậc nhất của thế giới.
trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất hành tinh.
một trong ba trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới.
diễn đàn quốc tế vừa hợp tác vừa đấu tranh nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới.
<TH> Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Tư liệu 1: “Để hiện thực hóa AEC, nhiều hiệp định, thỏa thuận, sáng kiến đã được đàm phán, ký kết và thực hiện, như Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định khung về dịch vụ ASEAN (AFAS), Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA),... nhằm tạo ra dòng luân chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động trong khối ASEAN.”
Tư liệu 2: “Vấn đề Biển Đông, biến đối khí hậu, quản trị lưu vực sông Mê Công,… đang là những thách thức hàng đầu đe doa sự ổn định và phát triển của Cộng đồng ASEAN nói riêng và Đông Nam Á nói chung. Các thách thức này có tính khu vực, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa quốc gia ASEAN và giữa ASEAN với đối tác bên ngoài”.
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Cánh diều, trang 25, 27).
Để xây dựng Cộng đồng ASEAN, cần hợp tác nội khối và với bên ngoài.
Tư liệu 1 nói về AEC, đây là một trong ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN.
Tư liệu 1 nói về cách thức giải quyết những thách thức nêu ra ở tư liệu 2.
Tư liệu 2 nói về những thách thức mà ASEAN đang phải đối mặt hiện nay.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Trong giai đoạn 2009 - 2015, nhiều biện pháp tích cực đã được triển khai nhằm chuẩn bị cho sự xác lập của Cộng đồng ASEAN. Các chương trình hợp tác được thúc đầy trong đó có Sáng kiến hội nhập ASEAN giai đoạn 2. Ngày 22-11-2015, các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhóm họp tại Ma-lai-xi-a, ký Tuyên bố Cua-la Lăm-pơ, chính thức thành lập Cộng đồng ASEAN. Cộng đồng ASEAN có hiệu lực từ ngày 31-12-2015”.
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Cánh diều, trang 24).
Cộng đồng ASEAN đánh dấu sự hợp tác giữa các thành viên lên tầm cao mới.
Cộng đồng ASEAN có mục tiêu nhất thể hóa về chính trị, kinh tế và tài chính.
Cộng đồng ASEAN là tổ chức thay thế cho Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.
Đến năm 2015, Cộng đồng ASEAN đã được thành lập với hợp tác ở ba trụ cột.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Hợp tác quốc phòng ASEAN từng bước được đa dạng hóa qua cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và ADMM Mở rộng (ADMM+). Hợp tác bảo đảm an ninh biển được thúc đẩy theo khuôn khổ Diễn đàn Biển ASEAN (AMF) và Diễn đàn Biển ASEAN Mở rộng (EAMF).... Các cơ chế hợp tác này đang góp phần củng cố hòa bình trong khu vực. Tại Hội nghị Tư lệnh lực lượng quốc phòng các nước ASEAN lần thứ 20 (2023), lần đầu tiên ASEAN đề ra kế hoạch tổ chức tập trận chung”.
(Sách giáo khoa Lịch sử 12, bộ Cánh điều, trang 25).
Từ năm 2015, ASEAN tổ chức các cuộc tập trận chung đề tăng cường khả năng quốc phòng.
Vấn đề an ninh biển Đông là một trong những nội dung chủ yếu của hợp tác quốc phòng.
ASEAN đẩy mạnh hợp tác quốc phòng nhằm tiến tới thành lập tổ chức quân sự chung.
Hợp tác quốc phòng của ASEAN nhằm mục đích giữ vững ổn định, hòa bình khu vực.
<TH> Đọc đoạn tư liệu sau:
“Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua bản Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân, trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa. Đó là một sự kiện chính trị quan trọng. Như thế, tuyên ngôn đã khẳng định các nước thực dân đã vi phạm nguyên tắc quan trọng nhất của luật pháp quốc tế; khẳng định rõ ràng cơ sở pháp lí quốc tế của cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc bị áp bức”.
(Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Hồng Quân, Liên hợp quốc và Lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.46).
Đoạn tư liệu đã thể hiện vai trò quan trọng nhất của tổ chức Liên hợp quốc là duy trì, hoà bình, an ninh thế giới.
Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân (năm 1960) của Liên hợp quốc đã tạo ra cơ sở pháp lí cho các cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ La-tinh.
Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua bản Tuyên ngôn độc lập về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân, trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa.
Liên hợp quốc đã chính thức xoá bỏ hình thức phân biệt chủng tộc thông qua bản Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân (năm 1960).
TH> Đọc đoạn tư liệu sau.
Đại sứ Csaba Korosi người Hungary đã trở thành tân Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, nhiệm kỳ 2022-2023, thay thế ông Abdulla Shahid, người Maldives, Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 76. Cuộc họp cũng đã đồng thuận bầu Việt Nam trở thành một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77 đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Việt Nam sẽ đảm nhiệm vị trí này trong 1 năm kể từ ngày 13/9.
Đại hội đồng Liên hợp quốc là 1 trong 6 cơ quan chính của Liên hợp quốc và là cơ quan duy nhất của Liên hợp quốc có đại diện của tất cả 193 nước thành viên.
Năm 2014 Việt Nam bắt đầu cử lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Đại hội đồng Liên hợp quốc có thẩm quyền rộng trong các lĩnh vực hợp tác chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, có quyền thảo luận và đưa ra kiến nghị về các vấn đề thuộc phạm vi Hiến chương
Việt Nam là thành viên thứ 149 của Liên Hợp Quốc sau khi đã gia nhập ASEAN và ngày càng có nhiều đóng góp trong các vấn đề chung của thế giới.
Tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời là kết quả đấu tranh gay gắt từ các hội nghị quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ 2.
<TH>Đọc đoạn tư liệu sau đây:
"Trước kia, chế độ quân chủ tại Hy Lạp đã nhờ vào sự giúp đỡ của Anh, nhưng sau Chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế của nước Anh hoàn toàn suy kiệt, lo cho mình còn không xong, nên không thể giúp đỡ gì cho chế độ quân chủ ở Hy Lạp nữa.
Vào ngày 12-3-1947, Tổng thống Tơ-ru-man đã đọc một bài diễn văn tại lưỡng viện Quốc hội Mỹ, cho rằng Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ nếu bị rơi vào khối xã hội chủ nghĩa, thì cả Trung Đông cũng sẽ rơi theo... sẽ làm cho cả Tây Âu bị ảnh hưởng. Do vậy, ông thuyết phục Quốc hội Mỹ chi viện kinh tế và quân sự cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ với số tiền 400 triệu đô la. Lí luận này về sau được gọi là "Học thuyết Tơ-ru-man"'.
(Vương Kính Chi, Lược sử nước Mỹ (Phong Đảo dịch), NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.145).
Học thuyết Tơ-ru-man phản ánh chính sách đối ngoại của Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, muốn đưa nước Mỹ trở thành bá chủ thế giới.
Nguồn gốc của sự đối đầu căng thẳng giữa Mỹ và Liên Xô xuất phát từ "vấn đề Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ" sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Thông điệp của Tổng thống Mỹ Tơ-Tu-man đọc trước Quốc hội Mỹ ngày 12-3-1947 đã khởi đầu cuộc Chiến tranh lạnh chống lại Liên Xô và các nước Đông Âu.
Chiến tranh lạnh là cuộc đối đầu gay gắt giữa Mỹ và Liên Xô, chỉ diễn ra ở châu Âu.
<TH>Đọc đoạn thông tin sau đây:
Từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX, trên thế giới diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ thương lượng của nguyên thủ quốc gia các nước và khu vực: Mỹ và Liên Xô, Mỹ với Trung Quốc, hai miền nước Đức, Đông Âu và Tây Âu,... Tháng 12-1989, trong một cuộc họp không chính thức tại đảo Man-ta (Địa Trung Hải), đại diện hai nhà lãnh đạo cấp cao của Liên Xô (Goóc-ba-chốp) và Mỹ (Bu-sơ) đã chính thức cùng tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh. Sau Chiến tranh lạnh, Liên Xô, Mỹ và các nước đã thoả thuận giải quyết cuộc xung đột ở nhiều nơi trên thế giới bằng giải pháp hòa bình: ở Ap-ga-ni-xtan, Cam-pu-chia, Tây Nam Phi,... Nhiều tổ chức liên minh khu vực và châu lục được mở rộng, hoặc thay đổi tên gọi mới, kết nạp thêm thành viên và kết nối liên lục địa (ASEAN, EU, ASEM, APEC,..).
Trong xu thế hòa hoãn Đông - Tây, Việt Nam luôn ủng hộ và đã thành công trong việc kí Hiệp định Pa-ri (1973) và giải quyết "vấn đề Cam-pu-chia" (1991).
Chiến tranh lạnh chấm dứt, sau đó là Trật tự thế giới hai cực I-an-ta sụp đổ đã mở ra chiều hướng và những điều kiện giải quyết quan hệ quốc tế bằng giải pháp hòa bình.
Xu thế hòa hoãn Đông - Tây chỉ được diễn ra, bàn luận và quyết định bởi các cuộc gặp gỡ thương lượng giữa nguyên thủ quốc gia của hai nước Liên Xô và Mỹ.
Mặc dù Chiến tranh lạnh vẫn tiếp diễn, nhưng từ đầu những năm 70 của thể kỉ XX xu thế hòa hoãn Đông - Tây đã diễn ra.
<TH> Đọc đoạn tư liệu sau:
“Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc năm 1949 đã mở ra bước đột phá đầu tiên, phá vỡ âm mưu khống chế Trung Quốc của Mỹ và những đặc quyền của Liên Xô ở vùng Đông Bắc Trung Quốc. Đồng thời, sự lớn mạnh của các nước Tây Âu, Nhật Bản cũng làm suy giảm vị trí và ảnh hưởng của Mỹ trong hệ thống tư bản chủ nghĩa”.
(Theo Lịch sử thế giới hiện đại, Quyển 2, NXB Đại học sư phạm, 2016, tr.94)
Sự lớn mạnh của các nước Tây Âu, Nhật Bản là do sự tài trợ, giúp đỡ vô điều kiện của Mỹ.
Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc năm 1949 đã đe dọa đến sự tồn tại của Liên Xô và Mỹ
Sự lớn mạnh của các nước Tây Âu, Nhật Bản là một trong những nguyên nhân buộc Liên Xô và Mỹ tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh.
Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc năm 1949 làm xói mòn trật tự 2 cực Ianta.
Nhu cầu ổn định để phát triển kinh tế, đặc biệt là xu thế toàn cầu hóa đã thúc đẩy xu thế đối thoại, cùng hợp tác, thay cho xu thế đối đầu giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau trong quan hệ quốc tế. Xu thế đối thoại, hợp tác dựa trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau, cùng tồn tại hòa bình đang ngày càng trở thành xu thế chủ yếu trong các mối quan hệ quốc tế.
Xu thế toàn cầu hóa đã thúc đẩy xu thế đối thoại, cùng hợp tác, thay cho xu thế đối đầu giữa các nước có cùng chế độ chính trị trong quan hệ quốc tế.
Xu thế đối thoại, hợp tác dựa trên cơ sở hai bên cùng có lợi, giúp các nước xác lập được trật tự thế giới đơn cực.
Vào những năm 80, trong bối cảnh xu thế đối thoại và hòa hoãn chiếm ưu thế trên thế giới, chính sách đối ngoại của giới cầm quyền Mỹ đã cùng với Liên xô chấm dứt chiến tranh lạnh.
Mối quan hệ giữa các nước lớn ngày nay mang tính hai mặt, nổi bật là: mâu thuẫn và hài hòa, cạnh tranh và hợp tác, tiếp xúc và hạn chế...
<TH> Đọc đoạn tư liệu sau:
Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã, "Chiến tranh lạnh" và Trật tự thế giới hai cực kết thúc. Mỹ muốn thiết lập một trật tự thế giới đơn cực do Mỹ đứng đầu để lãnh đạo thế giới. Tuy nhiên, từ đó đến nay, nhất là trong 10 năm gần đây, tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, thế giới từng bước chuyển từ đơn cực sang đa cực, đa trung tâm do tương quan lực lượng, sức mạnh của các nước lớn có sự thay đổi nhanh chóng.
Trong xu thế đa cực Mỹ đang khẳng định ưu thế vượt trội áp đảo các quốc gia khác.
Trong trật tự đa cực sẽ nổi lên sức mạnh vượt trội của một quốc gia lớn có quyền áp đảo các quốc gia khác.
Sự hình thành của trật tự thế giới đa cực là một tiến trình lịch sử khách quan với sự nổi lên của các cường quốc, sự gia tăng vai trò của các trung tâm, tổ chức quốc tế, phản ánh tương quan so sánh lực lượng mới trong quan hệ quốc tế.
Đa cực là một thuật ngữ trong quan hệ quốc tế dùng để chỉ một trật tự thế giới có sự tham gia của các quốc gia, các trung tâm khác nhau...
<TH>Đọc đoạn tư liệu sau:
“Bài học của thời kì Chiến tranh lạnh đã chứng tỏ phương thức quan hệ quốc tế lấy đối đầu chính trị - quân sự là chủ yếu không còn phù hợp, phải chịu nhiều tổn thất hoặc thất bại như hai nước Xô – Mỹ và một bị thương, một bị mất. Trong khi đó, phương thức lấy hợp tác và cạnh tranh về kinh tế - chính trị là chính lại thu được nhiều tiến bộ, kết quả như các nước Đức, Nhật và NICs. Sự hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia quyết định bởi sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó, mà chủ yếu là thực lực kinh tế và khoa học – kĩ thuật”.
(Vũ Dương Ninh (Chủ biên), Một số chuyên đề lịch sử thế giới, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001, tr.401).
Trong thời kì Chiến tranh lạnh và sau thời kì Chiến tranh lạnh, nội dung của quan hệ quốc tế có sự điều chỉnh từ chỗ lấy yếu tố quân sự sang lấy yếu tố kinh tế là trọng tâm
Một trong những bài học rút ra từ sau thời kì Chiến tranh lạnh cho tất cả các quốc gia là không nên tập trung vào phát triển kinh tế.
Bài học của thời kì Chiến tranh lạnh đã chứng tỏ phương thức quan hệ quốc tế lấy đối đầu chính trị - quân sự là chủ yếu không còn phù hợp, phải chịu nhiều tổn thất hoặc thất bại như hai nước Xô – Mỹ và một bị thương, một bị mất.
Quân sự yếu tố chủ yếu tạo nên sức mạnh tổng hợp của một quốc gia sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt.
<TH>Đọc đoạn tư liệu sau:
“Trật tự thế giới mới này [đa cực] được hình thành như thế nào, còn tùy thuộc ở nhiều nhân tố: Sự phát triển về thực lực kinh tế, chính trị, quân sự của các cường quốc Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nhật Bản, Đức trong cuộc chạy đua về sức mạnh quốc gia tổng hợp,…; Sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng thế giới (sự thành bại của công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa,…); Sự phát triển của cách mạng khoa học – kĩ thuật sẽ còn tiếp tục tạo ra những “đột phá” và biến chuyển trên cục diện thế giới”.
(Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2021, tr.424).
Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật vừa là nguyên nhân dẫn đến sự xói mòn và sụp đổ của trật tự hai cực I-an-ta, vừa là nhân tố tác động đến sự hình thành của trật tự thế giới đa cực.
Mỹ, Nga, Trung Quốc là những cường quốc giữ vai trò chi phối quan hệ quốc tế trong cả trật tự hai cực I-an-ta và trật tự đa cực.
Cuộc chạy đua về sức mạnh tổng hợp của các cường quốc là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sự hình thành trật tự thế giới đa cực.
Đoạn tư liệu cung cấp thông tin về những biểu hiện của trật tự thế giới đơn cực đang được hình thành hiện nay.
<TH> Đọc tư liệu sau đây:
Tuyên bố ASEAN nêu rõ mục đích thành lập của ASEAN:
- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á hoà bình và thịnh vượng.
- Thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lí và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các quốc gia trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc.
- Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùng quan tâm trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học - kĩ thuật và hành chính,...
(Theo Tuyên bố ASEAN, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), NXB Chính trị quốc gia, 1998, trang 15, 16).
Mối quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN là một trong những trụ cột quan trọng của chính sách đối ngoại của Việt Nam, mang lại nhiều lợi ích cho cả hai bên và đóng góp vào hòa bình và phát triển trong khu vực Đông Nam Á.
Hội nghị Thượng đỉnh gồm Thủ tướng các quốc gia thành viên; là cơ quan hoạch định chính sách tối cao của ASEAN.
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) khi mới thành lập (1967) không đề ra mục đích, nhiệm vụ xây dựng một cộng đồng Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng.
Tuyên bố về Khu vực Hoà bình, Tự do và Trung lập được ra vào năm 1971, nhằm khẳng định sự độc lập và chủ quyền của các nước Đông Nam Á trước các cường quốc ngoài khu vực.
<TH> Đọc đoạn tư liệu sau:
Quá trình mở rộng thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bắt đầu từ khi năm thành viên sáng lập hiệp hội ký thông qua Tuyên bố Bangkok năm 1967. Các nước sáng lập ASEAN gồm Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan. Năm 1984, Brunei trở thành thành viên thứ sáu của tổ chức ASEAN. Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN vào ngày 28/7/1995. Tiếp đến, ASEAN đã lần lượt kết nạp Lào và Myanmar vào ngày 23/7/1997 và Campuchia vào ngày 30/4/1999, hiện thực hóa ý tưởng quy tụ đủ 10 nước Đông Nam Á dưới “mái nhà chung ASEAN”.
Việc mở rộng thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) diễn ra lâu dài và đầy trở ngại .
Sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 chứng tỏ sự khác biệt về ý thức hệ có thể hóa giải.
Điều kiện tiên quyết nhất đưa đến sự thành lập tổ chức ASEAN năm 1967 là là các quốc gia thành viên đều có nền kinh tế phát triển.
Ngày 30/4/1999 khi Campuchia gia nhập ASEAN trở thành tổ chức “toàn Đông Nam Á”.
<TH> Đọc đoạn tư liệu sau:
Lá cờ của tổ chức ASEAN được sử dụng chính thức từ ngày 31-5-1997, khi tổ chức này có 7 thành viên. Ở giữa cờ là biểu tượng bó lúa 10 nhánh, thể hiện ý tưởng về một tổ chức của đầy đủ các nước trong khu vực Đông Nam Á. Lá cờ ASEAN đại diện cho một ASEAN năng động, thống nhất, hòa bình và ổn định. Màu sắc của lá cờ gồm có màu xanh, đỏ, trắng và vàng, đại diện cho các màu chính của quốc kỳ các nước thành viên ASEAN.
Ngày 30-4-1999, ý tưởng đó đã thành hiện thực khi Cam-pu-chia gia nhập ASEAN - sự kiện gắn liền với vai trò vận động đặc biệt của Việt Nam. ASEAN trở thành mái nhà chung của 10 nước Đông Nam Á, đồng thời tiếp tục là một trong những tổ chức khu vực thành công nhất thế giới.
<S>Ngày 30-4-1996, tại Băng cốc, Campuchia đã gia nhập ASEAN.
ASEAN là một nhóm hài hoà các dân tộc Đông Nam Á có tinh thần cởi mở, sống trong hoà bình, ổn định và thịnh vượng.
Vòng tròn màu đỏ viền trắng trên lá cờ ASEAN biểu thị sự thống nhất của cộng đồng ASEAN.
Con đường ASEAN (THE ASEAN WAY) là bài ca chính thức của ASEAN.
Ngày 30-4-1996, tại Băng cốc, Campuchia đã gia nhập ASEAN.
