WorksheetsCHƯƠNG 1 – Trích câu hỏi từ worksheet
Total questions: 102
Worksheet time: 51mins
Đối tượng nghiên cứu của môn Lịch sử các học thuyết kinh tế là:
Hệ thống các hình thái kinh tế - xã hội gắn với các giai đoạn lịch sử nhất định
Các hệ thống quan điểm kinh tế của đại biểu các giai cấp khác nhau trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau gắn với các giai đoạn lịch sử nhất định
Tổng hợp những tư tưởng kinh tế, giải thích thực chất của hiện tượng kinh tế nhất định, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau
Quá trình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của các hệ thống quan điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản
Lịch sử các học thuyết kinh tế là:
Một môn khoa học xã hội nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của các hệ thống quan điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau
Nghiên cứu những quan điểm kinh tế được hình thành một cách có hệ thống, có tính độc lập, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Một môn khoa học xã hội nghiên cứu các hệ thống quan điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau
Nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia, rút ra thành tựu và các khó khăn trở ngại của sự phát triển, nguyên nhân của thành tựu và sự hạn chế của tiến trình phát triển kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử
Đối tượng của môn Lịch sử các học thuyết kinh tế là một bộ phận cấu thành đối tượng của môn:
Lịch sử Kinh tế chính trị
Lịch sử Tư tưởng kinh tế
Kinh tế học
Lịch sử kinh tế
Phương pháp nghiên cứu môn Lịch sử các học thuyết kinh tế là:
Duy vật biện chứng
Thực hiện triệt để nguyên tắc logic - lịch sử
Phê phán, phân tích, tổng hợp
Duy vật biện chứng, thực hiện triệt để nguyên tắc logic - lịch sử, phê phán, phân tích, tổng hợp
Việc nghiên cứu môn Lịch sử các học thuyết kinh tế có ý nghĩa:
Hiểu sâu sắc và hoàn chỉnh Kinh tế chính trị
Mở rộng và nâng cao hiểu biết về kinh tế thị trường
Hiểu và nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng ta hiện nay
Hiểu sâu sắc và hoàn chỉnh Kinh tế chính trị; mở rộng và nâng cao hiểu biết về kinh tế thị trường; hiểu và nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng ta hiện nay
Chức năng của môn Lịch sử các học thuyết kinh tế:
Chức năng tư tưởng
Chức năng thực tiễn
Chức năng phương pháp luận
Chức năng tư tưởng, chức năng thực tiễn, chức năng phương pháp luận
Chức năng phương pháp luận của môn Lịch sử các học thuyết kinh tế cung cấp:
Một cách có hệ thống các quan điểm, các lý luận kinh tế làm cơ sở lý luận cho các khoa học kinh tế khác
Một cách đơn giản các quan điểm kinh tế, bảo vệ lợi ích giai cấp mình mà còn giúp thế hệ sau nhận thức và cải tạo được hiện thực kinh tế - xã hội
Những kiến thức cần thiết trong việc nghiên cứu, củng cố, xây dựng phát triển kinh tế đất nước
Các quan điểm kinh tế, bảo vệ lợi ích giai cấp mình mà còn giúp thế hệ sau nhận thức và cải tạo được hiện thực kinh tế - xã hội
Mục đích của việc nghiên cứu Lịch sử các học thuyết kinh tế nhằm:
Để đánh giá tính khoa học và thực tiễn các quan điểm kinh tế, tư tưởng và các học thuyết kinh tế của các tác giả và trường phái kinh tế, là cơ sở để chứng phê phán, lựa chọn và thay thế lẫn nhau trong lịch sử
Cung cấp một cách có hệ thống các quan điểm, các học thuyết của các trường phái, các đại biểu tiêu biểu trên Thế giới gắn với điều kiện lịch sử xuất hiện của chúng
Xem xét các lý luận kinh tế của giai đoạn quá khứ bằng tiêu chuẩn hiện tại mà phải đánh giá ý nghĩa của chúng căn cứ vào trình độ phát triển khoa học kinh tế của thời đại ấy
Chỉ ra những cống hiến, những giá trị khoa học cũng như phê phán có tính lịch sử sự hạn chế của các đại biểu các trường phái kinh tế học
Chức năng thực tiễn của môn Lịch sử các học thuyết kinh tế còn:
Đánh giá các quan điểm kinh tế của các đại biểu, các trường phái khác nhau theo quan điểm lịch sử cụ thể
Giúp cho người học mở rộng và nâng cao những hiểu biết về nền kinh tế thị trường, các hiện tượng kinh tế, những kiến thức cần thiết trong việc nghiên cứu, xây dựng những đường lối phát triển kinh tế đất nước
Giúp thế hệ sau nhận thức và cải tạo được hiện thực kinh tế - xã hội dựa trên những bài học của lịch sử
Tiêu chuẩn để đánh giá tính khoa học và thực tiễn các quan điểm kinh tế, tư tưởng và các học thuyết kinh tế của các tác giả và trường phái kinh tế
Chức năng tư tưởng của môn Lịch sử các học thuyết kinh tế là:
Những quan điểm kinh tế phát sinh, phát triển trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, gắn với những giai cấp nhất định, phục vụ mục đích, lợi ích cho các giai cấp đó
Nghiên cứu, đánh giá các quan điểm kinh tế của các đại biểu, các trường phái khác nhau theo quan điểm lịch sử cụ thể
Các quan điểm kinh tế, bảo vệ lợi ích giai cấp mình mà còn giúp thế hệ sau nhận thức và cải tạo được hiện thực kinh tế - xã hội
Cung cấp một cách có hệ thống các quan điểm, các lý luận kinh tế làm cơ sở lý luận cho các khoa học kinh tế khác
Lịch sử các học thuyết kinh tế chỉ là một bộ phận cấu thành của môn?
Lịch sử kinh tế quốc dân
Lịch sử tư tưởng kinh tế
Kinh tế chính trị
Kinh tế phát triển
Chức năng nào không phải là chức năng của Lịch sử các học thuyết kinh tế?
Chức năng nhận thức
Chức năng tư tưởng
Chức năng điều hành nền kinh tế
Chức năng thực tiễn
Chức năng nào không phải là chức năng của Lịch sử các học thuyết kinh tế?
Chức năng nhận thức
Chức năng tư tưởng
Chức năng phương pháp luận
Chức năng kinh tế vĩ mô
Chức năng nào không phải là chức năng của Lịch sử các học thuyết kinh tế?
Chức năng thị trường
Chức năng nhận thức
Chức năng phương pháp luận
Chức năng thực tiễn
Lịch sử các học thuyết kinh tế là một môn?
Khoa học tự nhiên
Khoa học xã hội
Khoa học kinh tế
Khoa học chính trị
Việc nghiên cứu Lịch sử các học thuyết kinh tế là rất cần thiết đối với sinh viên các trường đại học thuộc khối?
Kỹ thuật
Mỹ thuật
Kinh tế
Điện ảnh
Đối tượng nghiên cứu của môn Lịch sử các học thuyết kinh tế là?
Hệ thống quan điểm xã hội
Hệ thống quan điểm kinh tế
Hệ thống quan điểm chính trị
Hệ thống quan điểm văn hóa
Việc nghiên cứu Lịch sử các học thuyết kinh tế giúp cho người học mở rộng và nâng cao những hiểu biết về?
Nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế chỉ huy
Nền kinh tế giản đơn
Nền kinh tế bao cấp
Chức năng nào không phải là chức năng của Lịch sử các học thuyết kinh tế?
Chức năng phương pháp luận
Chức năng nhận thức
Chức năng bảo vệ đất nước
Chức năng tư tưởng
Đâu là đặc điểm của tư tưởng kinh tế thời kì cổ đại là:
Coi tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ là hợp lý, coi sự phân chia xã hội thành giai cấp tư bản và nô lệ là đương nhiên
Coi tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ là không hợp lý
Đánh giá cao vai trò của ngành nông nghiệp và kinh tế tự nhiên, chống lại xu hướng phát triển của kinh tế hàng hóa, coi thường vai trò của thủ công nghiệp và thương nghiệp
Coi sự phân chia xã hội thành giai cấp chủ nô và nô lệ là không hợp lý
Ai là người cho rằng “Phân công lao động có vai trò thúc đẩy giao lưu hàng hóa giữa các vùng, ở những nơi nào trao đổi phát triển mạnh thì phân công lao động phát triển mạnh”?
Platon
Aristoleles
Xenophon
Carton
“Giá trị hàng hóa do tính hữu ích tạo ra” là quan điểm của ai?
Xenophon
Augustin Siant
Platon
Gai
Quan điểm về thương mại trong tư tưởng kinh tế phong kiến ở Trung Quốc cho rằng:
Nghề buôn là cơ sở của nền kinh tế phong kiến
Nghề buôn góp phần làm cho nông dân thêm giàu có
Nghề buôn không phải là cơ sở của nền kinh tế phong kiến, sự giàu có của lái buôn làm cho nông dân càng thêm nghèo khổ
Nghề buôn không ảnh hưởng gì tới đời sống của nông dân, độc lập hoàn toàn ra khỏi cuộc sống của nông dân
Quan điểm về ruộng đất trong tư tưởng kinh tế phong kiến ở Nhật Bản:
Ban hành chính sách khai hoang ruộng đất, mở rộng đất đai
Cấm việc khai hoang ruộng đất
Ban hành các chính sách khai hoang ruộng đất, làm cho ruộng đất nhà nước bị thu hẹp, ruộng đất tư ngày càng phát triển
Khuyến khích khai hoang ruộng đất
Tư tưởng kinh tế thời cổ đại có đặc điểm:
Chịu ảnh hưởng của thần học, sự kiểm soát về tư tưởng của nhà thờ; đạo cơ đốc giáo có quyền lực rất cao và được sử dụng rộng rãi phục vụ giai cấp thống trị
Coi tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ là hợp lý, coi sự phân chia xã hội thành giai cấp chủ nô và nô lệ là đương nhiên
Bảo vệ cho sự tồn tại của kinh tế tự nhiên, ít chú ý đến những vấn đề kinh tế hàng hóa giá trị, tiền tệ
Được trình bày trong các bộ luật, những điều lệ phường hội, pháp chế kinh tế của các thành phố, sắc lệnh và luật lệ của nhà vua nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của vua chúa, địa chủ, quý tộc, các tầng lớp giáo sĩ và thợ thủ công thành thị
Nhà tư tưởng chủ yếu của La Mã cổ đại là:
Carton
Xenophone
Platon
Aristoteles
“Tư tưởng giá trị của ông tạo mầm mống cho tư tưởng giá trị - ích lợi. Ông coi giá trị là một cái gì đó có ích cho con người và con người biết sử dụng được ích lợi đó” là quan điểm của:
Platon
Xenophon
Carton
Aristoteles
“Ông coi lợi nhuận chính là số dư thừa ngoài giá trị” là quan điểm của:
Platon (427-347 TCN)
Xenophon (430-345 TCN)
Carton (234-149 TCN)
Aristoteles (384-322 TCN)
Xenophon cho rằng:
Phân công thúc đẩy phân công hàng hóa
Phân công nâng cao chất lượng công việc
Phân công phát triển mạnh ở nơi trao đổi phát triển
Phân công lao động có vai trò thúc đẩy giao lưu hàng hoá giữa các vùng, ở những nơi nào trao đổi phát triển mạnh thì phân công lao động phát triển mạnh
Các đại biểu chủ yếu của Trung Quốc thời cổ đại là:
Xenophon, Khổng Tử, Carton
Granky Tibery, Gai
Khổng Tử, Mạnh Tử
Thomas More, Tomado Campanen, Gai
Người đầu tiên phân tích giá trị trao đổi thông qua phương trình “5 cái giường = 1 ngôi nhà” là:
Xenophon
Platon
Carton
Aristotele
Aristoteles chia hoạt động thương nghiệp thành:
Trao đổi tự nhiên: H-H
Trao đổi thông qua tiền tệ: H-T-H
Trao đổi nhằm mục đích làm giàu: T-H-T’
Trao đổi tự nhiên: H-H; trao đổi thông qua tiền tệ: H-T-H; trao đổi nhằm mục đích làm giàu: T-H-T’
Thời kỳ cổ đại ở Phương Đông xuất hiện vào những năm:
3.000 trước Công nguyên
4.000 trước Công nguyên
2.000 trước Công nguyên
2.500 trước Công nguyên
Theo tư tưởng kinh tế của Platon, 2 thuộc tính quy định tiền tệ là:
Thước đo giá trị và công cụ trao đổi
Thước đo giá trị và kí hiệu giá trị
Ký hiệu giá trị và công cụ trao đổi
Công cụ trao đổi và đơn vị đo lường của hàng hóa
Aristoteles cho rằng hoạt động kinh tế là:
Hoạt động gắn liền với việc tạo ra giá trị sử dụng.
Hoạt động gắn liền với việc tạo ra giá trị trao đổi.
Hoạt động có quan hệ với trao đổi nhằm mục đích làm giàu.
Hoạt động gắn liền với việc tạo ra giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.
Quan điểm về thương mại trong tư tưởng kinh tế phong kiến ở Trung Quốc cho rằng:
Nghề buôn không phải là cơ sở của nền kinh tế phong kiến, sự giàu có của lái buôn làm cho nông dân càng thêm nghèo khổ.
Đại thương nghiệp có thể theo đuổi một mục đích chân lý cần thiết, thu lợi nhuận không mâu thuẫn với lòng từ thiện.
Phát triển thương nghiệp, đẩy mạnh buôn bán hàng hoá.
Thương nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của nhà nước.
Theo quan điểm về ruộng đất trong tư tưởng kinh tế phong kiến ở Nhật Bản:
Nhà nước đem ruộng đất do mình trực tiếp quản lý chia cho nông dân cày cấy.
Ban hành các chính sách khai hoang ruộng đất, do đó ruộng đất nhà nước bị thu hẹp, ruộng đất tư ngày càng phát triển.
Ruộng đất thuộc quyền quản lý của Nhà nước gọi là công điền, vương điền, quan điền.
Triều đại phong kiến đem ruộng đất bán hoặc cấp cho quý tộc làm bổng lộc và tổ chức thành đồn điền, điền trang.
Thời đại Trung Cổ (thời đại Phong kiến) bắt đầu từ:
Cuối thế kỷ thứ IV, đầu thế kỷ thứ V, tồn tại đến cuối thế kỷ thứ XV
Cuối thế kỷ IV, đầu thế kỷ thứ V, tồn tại đến cuối thế kỷ thứ XIV
Cuối thế kỷ V, đầu thế kỷ thứ VI, tồn tại đến cuối thế kỷ thứ XV
Cuối thế kỷ thứ IV, đầu thế kỷ thứ V, tồn tại đến cuối thế kỷ thứ XIII
Các tư tưởng kinh tế thời Trung cổ bảo vệ lợi ích cho:
Vua chúa, quý tộc, địa chủ.
Thương nhân.
Nông dân.
Vua chúa, quý tộc, địa chủ, thương nhân.
Thomas Aquin cho rằng: Ruộng đất có nhiều ưu thế hơn so với tiền tệ vì:
Ruộng đất mang lại thu nhập (địa tô) nhờ sự giúp đỡ của tự nhiên còn thu nhập của tiền tệ cho vay là sự lừa dối.
Ruộng đất làm cho tinh thần đạo đức tốt lên còn tiền tệ gây ra những thói hư, tật xấu, lòng tham lam, vị kỷ của con người.
Ruộng đất có thể nhìn thấy rõ, không có sự lừa lọc như tiền tệ.
Ruộng đất mang lại thu nhập (địa tô) nhờ sự giúp đỡ của tự nhiên. Trong khi đó thu nhập của tiền tệ cho vay là sự lừa dối. Ruộng đất làm cho tinh thần đạo đức tốt lên còn tiền tệ gây ra những thói hư, tật xấu, lòng tham lam, vị kỷ của con người. Ruộng đất có thể nhìn thấy rõ, không có sự lừa lọc như tiền tệ.
Ý nào không phải là đặc điểm kinh tế thời trung cổ:
Bảo vệ sự tồn tại của kinh tế tự nhiên, ít chú ý đến các vấn đề kinh tế hàng hóa, coi tiền chỉ đơn thuần là đơn vị đo lường.
Coi sự tồn tại của chiếm hữu nô lệ là hợp lý, sự phân chia xã hội thành chủ nô và nô lệ là đương nhiên.
Chịu ảnh hưởng của thần học, sự kiểm soát tư tưởng của nhà thờ.
Tư tưởng kinh tế được trình bày trong các bộ luật, điều lệ thường hội, pháp chế kinh tế của các thành phố, sắc lệnh và luật lệ của nhà vua.
Theo Augustin Siant ý nghĩa của giá cả công bằng là:
Giá cả công bằng phù hợp với giá cả trung bình, do đó phù hợp với chi phí lao động. Cùng một hàng hoá có thể có giá cả công bằng khác nhau tuỳ theo sự đánh giá của các đẳng cấp khác nhau.
Giá cả công bằng phù hợp với giá cả thấp do đó phù hợp với chi phí lao động.
Giá cả công bằng phù hợp với giá cả cao, do đó đem lại quyền lợi cho người lao động và thương nhân.
Cùng một hàng hóa có thể có giá cả công bằng tùy thuộc sự đánh giá của người mua về lợi ích của sản phẩm.
Xenophon cho rằng giá trị hàng hóa do:
Lao động tạo ra.
Tính hữu ích tạo ra.
Tiền tạo ra.
Lao động và tính hữu ích tạo ra.
Chế độ quan điền về ruộng đất được sử dụng trong tư tưởng kinh tế:
Phong kiến ở Nhật Bản
Thời cổ đại
Phong kiến ở Trung Quốc
Phong kiến ở Ấn Độ
Xenophon đã coi vật gì là tiền có nhu cầu giới hạn?
Vàng, bạc.
Kẽm.
Ngọc trai.
Thiếc.
Xenophon khuyên chủ nô hãy mua nô lệ theo những toán nhỏ để không lạm tăng?
Cung nô lệ.
Cầu nô lệ.
Cung tiền.
Cầu tiền.
Xenophon khuyên chủ nô hãy mở mang doanh nghiệp một cách thận trọng để không làm tăng nhanh?
Cầu nô lệ.
Cung nô lệ.
Cung hàng hóa.
Cầu hàng hóa.
Theo Xenophon của cải là?
Tiền.
Tài sản.
Tư liệu tập thể.
Tư liệu tiêu dùng cá nhân.
Theo Xenophon muốn có được của cải thì?
Chủ nô chỉ thỏa mãn nhu cầu tối thiếu của nô lệ.
Chủ nô chỉ thỏa mãn nhu cầu tối đa của nô lệ..
Tích lũy tiền tệ.
Tích lũy tài sản.
Platon giải thích mối liên hệ giữa phân công lao động, thương mại và tiền tệ với vai trò nổi bật của?
Tiền tệ.
Tài sản.
Các thương gia.
Các doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu về tiền tệ, Platon chỉ ra tiền tệ với hai thuộc tính quy định là?
Thước đo giá trị và ký hiệu giá trị.
Thước đo tài sản.
Thước đo sự giàu có.
Thước đo sự hạnh phúc.
Theo Aristoteles, của cải thực tế (của cải tự nhiên) là toàn bộ các?
Giá trị trao đổi
Giá trị sử dụng
Giá trị hàng hóa
Giá trị tiền tệ
Phái Lão tử coi trọng?
Nghề nông
Nghề nông và nghề binh
Nông dân
Nghề binh
Theo Khổng Tử nguồn gốc của của cải là?
Lao động
Thương mại
Thương nghiệp
Sản xuất
Theo Khổng Tử của cải của nhà vua phải dựa vào của cải của?
Nhà nước
Quan lại
Nhân dân
Nông dân
Với sự xuất hiện của sở hữu phong kiến, ruộng đất chủ yếu tập trung vào tay?
Đại địa chủ
Quan lại, đại địa chủ
Vua chúa
Quan lại
Với sự xuất hiện của sở hữu phong kiến, những người nông dân tự do và thợ thủ công có trong tay?
Rất nhiều tiền
Rất ít ruộng đất
Rất ít tư liệu sản xuất
Rất ít ruộng đất và tư liệu sản xuất
Các tư tưởng kinh tế thời Trung cổ lên án?
Buôn bán
Hoạt động công nghiệp
Hoạt động thương mại và cho vay nặng lãi
Hoạt động sản xuất
Theo Xenophon: Giá trị hàng hóa do?
Tính hữu ích tạo ra
Tiền tệ tạo ra
Lao động tạo ra
Sản xuất tạo ra
Theo Xenophon: Phân công lao động có vai trò thúc đẩy?
Giao lưu hàng hóa giữa các vùng
Giao lưu giữa các vùng
Phát triển kinh tế
Phát triển sản xuất
Theo Xenophon: Vàng bạc không chỉ là phương tiện thuận lợi cho trao đổi mà còn làm cho chủ của nó?
Nghèo đi
Giàu lên
Khổ hơn
Sướng hơn
Nhận định nào là sai: Theo Xenophon?
Phân công lao động có vai trò thúc đẩy giao lưu hàng hóa giữa các vùng
Vàng bạc không chỉ là phương tiện thuận lợi cho trao đổi mà còn làm cho chủ của nó giàu lên
Giá trị hàng hóa do tính hữu ích tạo ra
Giá trị hàng hóa do tiền tệ tạo ra
Theo Platon: Tiền là một trong những nguyên nhân gây ra sự thù hằn trong xã hội và kêu gọi phấn đấu để sao cho trong nhà nước không cần dùng đến?
Vàng bạc
Hàng hóa
Tài sản
Ruộng đất
Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng kinh tế đầu tiên của:
Giai cấp tư sản
Giai cấp vô sản
Kinh tế chính trị tư sản cổ điển
Kinh tế chính trị học tiểu tư sản
Chủ nghĩa trọng thương ra đời trong hoàn cảnh xã hội như thế nào?
Xã hội đề cao tư tưởng tư sản thống trị và tư tưởng tư sản
Xã hội chỉ đề cao tư tưởng tư sản chống lại tư tưởng đen tối thời trung cổ
Trong khuôn khổ thời kì quá độ từ chế độ phong kiến lên tư bản chủ nghĩa
Thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến, thời kỳ tích lũy nguyên thủy của CNTB
Đâu là tư tưởng xuất phát của chủ nghĩa trọng thương?
Coi tiền là nội dung căn bản của của cải, là tài sản thật sự của một quốc gia
Lợi nhuận thương nghiệp là kết quả sự trao đổi ngang giá
Coi hoạt động thương mại mới là nguồn gốc thật sự của của cải
Trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện chính sách nhập siêu
Chủ nghĩa trọng thương là trường phái:
Coi trọng tiền tệ
Coi trọng thương nghiệp
Coi trọng ngoại thương
Trọng tiền và trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương coi những hoạt động kinh tế nào mà không dẫn đến tích lũy tiền tệ là:
Tích cực, có lợi
Tiêu cực, có lợi
Tiêu cực, không có lợi
Tích cực, không có lợi
Chủ nghĩa trọng thương coi hoạt động nào là nguồn gốc thật sự tạo ra của cải?
Công nghiệp, nông nghiệp.
Công nghiệp.
Ngoại thương.
Nông nghiệp.
Câu nói “Nội thương là một hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm, muốn tăng của cải phải có ngoại thương nhập dẫn của cải qua nội thương” là của ai?
A. Montchretien (1575 – 1629).
Thomat Mun (1751 – 1614).
W. Staford (1554 – 1612).
W. Petty (1623 – 1687).
Chủ nghĩa trọng thương cho rằng lợi nhuận thương nghiệp:
Là kết quả sự trao đổi không ngang giá.
Là kết quả trao đổi ngang giá.
Là phần chênh lệch sau khi trừ hết các chi phí sản xuất.
Lợi nhuận là “khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của lao động.
Tư tưởng cơ bản trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa trọng thương ở Anh là:
Cấm xuất khẩu tiền.
Cho phép xuất khẩu tiền.
Cho phép nhập khẩu hàng hóa.
Coi trọng thương mại.
Hạn chế của chủ nghĩa trọng thương là:
Ít tính lý luận.
Ít tính thực tiễn.
Tuyệt đối hóa vai trò của thương nghiệp, ít tính lý luận.
Lý luận mang nặng tính cá nhân.
“Thương mại là hòn đá thử vàng đối với sự phồn thịnh của một quốc gia; không có phép lạ nào khác để kiếm tiền trừ thương mại” là câu nói của ai?
A. Montchretien (1575 – 1629).
Thomas Mun (1751 – 1614).
W. Staford (1554 – 1612).
J.B. Collbert (1616 – 1683).
Tư tưởng cơ bản trong giai đoạn sau (thế kỷ XVII) của chủ nghĩa trọng thương ở Anh là:
Chỉ bán mà không mua.
Cho phép thương nhân đem tiền ra nước ngoài với mục đích thương mại.
Đề cao sự can thiệp của nhà nước vào quá trình giao dịch thương mại.
Cấm xuất khẩu tiền.
Nguyên nhân dẫn đến sự tàn rã của chủ nghĩa trọng thương là:
Sản xuất ngày càng phát triển, thay thế cho hoạt động thương mại.
Nguồn gốc của của cải không phải từ lưu thông mà từ sản xuất chỉ có sản xuất mới đem lại sự giàu có.
Ở nhiều nơi sản xuất nông nghiệp phát triển.
Sản xuất ngày càng phát triển thay thế cho hoạt động thương mại. Nguồn gốc của của cải không phải từ lưu thông mà từ sản xuất chỉ có sản xuất mới đem lại sự giàu có.
Trường phái đầu tiên coi trọng vai trò của tiền tệ trong lịch sử kinh tế là:
Chủ nghĩa trọng nông.
Chủ nghĩa trọng thương.
Các tư tưởng kinh tế cổ đại.
Các tư tưởng kinh tế trung cổ.
Quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về kết quả của thương mại:
Bên có lợi, bên có hại.
Hai bên cùng có lợi.
Không có lợi, không có hại.
Hai bên cùng có hại.
Chủ nghĩa trọng thương coi tiêu chuẩn để đánh giá sự giàu có của một quốc gia là:
Tiền tệ.
Tài sản.
Số dân.
Tiền tệ và nông dân.
Tư tưởng “Ngoại thương có lợi hơn nội thương” là tư tưởng của:
Collbert.
A. Smith.
Chủ nghĩa trọng thương.
D. Ricardo.
Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, để có nhiều của cải cần phải:
Mở rộng sản xuất.
Nhập siêu.
Xuất siêu.
Phát hành thêm tiền.
Trong các câu sau câu nào sai?
Chủ nghĩa trọng thương coi tiền là nội dung căn bản của của cải.
Chủ nghĩa trọng thương chưa biết và không thừa nhận các quy luật kinh tế.
Chủ nghĩa trọng thương coi lợi nhuận công nghiệp mới là nguồn gốc thực sự của của cải.
Chủ nghĩa trọng nông cho rằng lợi nhuận thương nghiệp có được là do tiết kiệm các khoản chi phí thương mại.
Chủ nghĩa trọng nông giữa thế kỷ XVIII được ra đời trong bối cảnh:
Thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản bắt đầu.
Sản xuất nông nghiệp toàn thế giới bị suy sụp.
Nền nông nghiệp nước Pháp bị suy sụp nghiêm trọng.
Chủ nghĩa trọng nông xuất hiện trong khuôn khổ thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng ở giai đoạn phát triển kinh tế thị trường thành hơn.
Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa trọng nông là lĩnh vực:
Lưu thông.
Trao đổi.
Tiêu dùng.
Cái nôi cho chủ nghĩa Trọng nông xuất hiện ở
Anh
Pháp
Trung Quốc
Nhật Bản
Đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa trọng nông là:
F.Quesnay (1694 – 1774).
A.R.J.Turgot (1727 – 1771).
A.Smith (1723 – 1790).
D. Ricardo.
Chủ nghĩa trọng nông cho rằng:
Lợi nhuận thương nghiệp có được là do tiết kiệm các khoản chi phí thương mại.
Thương nghiệp sinh ra của cải.
Trong quá trình trao đổi, nếu xét nó dưới hình thái thuần túy thì cả người mua lẫn người bán đều có lợi.
Lợi nhuận thương nghiệp là kết quả sự trao đổi không ngang giá.
Lí luận về sản phẩm thuần túy của chủ nghĩa trọng nông là lí luận về:
Giá trị
Giá trị thặng dư
Giá cả
Giá trị sử dụng
Cơ sở lý luận chủ yếu của chủ nghĩa trọng nông là:
Học thuyết về trật tự tự nhiên
Học thuyết về sản phẩm ròng (sản phẩm thuần túy).
Học thuyết về lao động sản xuất.
Lý luận về tư bản.
Phái trọng nông là phái đề cao:
Tự do cá nhân
Chế độ công hữu
Sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế
Tiểu thủ công nghiệp
Theo chủ nghĩa trọng nông, nguồn gốc duy nhất của của cải là:
Nông nghiệp.
Sản xuất.
Công nghiệp.
Cả công nghiệp và nông nghiệp.
Theo chủ nghĩa trọng nông, nông nghiệp là
Sự kết hợp các nguyên tố có sẵn để tạo ra sản phẩm thuần túy
Không có sự kết hợp mà chỉ có sự tăng thêm về chất, tạo ra sản phẩm thuần túy mới
Sự kết hợp nhiều nguyên tố của các chất khác nhau đã tồn tại từ trước
Là ngành kinh tế chỉ có tiêu dùng chứ hoàn toàn không có sản xuất
Câu nói “Nông dân nghèo thì xứ sở cũng nghèo” là của:
F.Quesnay (1694 – 1774).
J.B.Colbert (1618 – 1683).
A.R.J.Turgot (1727 – 1771).
A.Smith (1723 – 1790).
“Biểu kinh tế” của F.Quesnay:
Phân tích một cách khoa học quá trình tái sản xuất giản đơn.
Là một phát minh ra tiền tệ.
Phát minh ra nghề in.
Nghiên cứu quá trình tái sản xuất trong nông nghiệp.
Trong “Biểu kinh tế” của F.Quesnay chia xã hội thành mấy giai cấp cơ bản:
1 giai cấp
2 giai cấp
3 giai cấp
4 giai cấp
Theo K.Marx công lao to lớn nhất của những người trọng nông là thấy được sản phẩm thuần túy chỉ được tạo ra:
Trong nông nghiệp
Trong công nghiệp
Trong dịch vụ
Trong thương nghiệp
Quan điểm của chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa trọng nông khác nhau đặc biệt về vấn đề nào sau đây:
Đất đai
Sự phân chia giai cấp
Thương nghiệp
Tiền tệ
Trong các quan điểm kinh tế sau quan điểm nào là Sai:
Theo chủ nghĩa trọng thương coi hoạt động ngoại thương là nguồn gốc tạo ra của cải dẫn đến giàu có
Theo chủ nghĩa trọng nông nguồn gốc duy nhất của của cải là tự nhiên, là nông nghiệp
William Petty cho rằng “Đánh giá quá cao vai trò của tiền là một sai lầm”
Chủ nghĩa trọng nông cho rằng sản phẩm thuần túy chỉ được tạo ra trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.
Đâu không phải là đóng góp quan trọng của chủ nghĩa trọng nông:
Phát hiện ra quy luật vận động của sản xuất nông nghiệp.
Phát hiện ra giá trị thặng dư.
Phát hiện ra sản phẩm thuần túy.
Phát hiện ra tiền.
Trường phái kinh tế chính trị cổ điển Anh xuất hiện khi nào?
Thế kỷ XV
Thế kỷ XVI
Thế kỷ XVII
Thế kỷ XVIII
Phái cổ điển chủ yếu là phản ánh nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thời kỳ?
Tích lũy nguyên thủy tư bản
Chủ nghĩa tư bản độc quyền
Chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do
Chủ nghĩa tư bản cạnh tranh nhà nước
Hoàn cảnh xuất hiện trường phái KTCT cổ điển Anh
CNTT đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan ra ngay từ thế kỷ XVII, trước hết là ở Anh.
Thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản
Chế độ phong kiến ra đời
