NEW
Font size
WorksheetsÔN TẬP LSVN 1954 - 1975 (3)
Total questions: 20
Worksheet time: 20mins
Những cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân của Mĩ để lại hậu quả:
tàn phá nặng nề, gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc
cản trở công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
phải chuyển từ xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội sang chiến đấu bảo vệ miền Bắc
phải thay đổi mục tiêu ở một số lĩnh vực
Căn cứ vào đâu ta quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968
Quân đội Trung Quốc sang giúp ta đánh Mĩ
Sự giúp đỡ về vật chất, phương tiện chiến tranh của Trung Quốc, Liên Xô
sự thất bại của Mĩ về quân sự trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
So sánh lực lượng đã thay đổi có lợi cho ta sau hai mùa khô và lợi dụng mâu thuẫn ở Mĩ trong cuộc bầu cử tổng thống (1968)
Nội dung nào không phải ý nghĩa của phong trào “Đồng khởi” năm 1959 – 1960 ?
Giáng đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mĩ
Cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công
Làm lung lay tận gốc chính quyền Ngô Đình Diệm
Mĩ phải thừa nhận thất bại trong chiến lược chiến tranh thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) có tác động như thế nào đến Hội nghị Pari về Việt Nam ?
Mĩ buộc phải đàm phán chính thức bốn bên ở Hội nghị Pari
Mĩ cơ bản chấp nhận những điều khoản của Hiệp định Pari
Buộc Mĩ phải thay đổi lập trường chiến tranh ở Việt Nam
Mĩ chấp nhận đến đàm phán ở Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam
Trong thời kì 1954 – 1975, thắng lợi nào của quân dân ta ở miền Nam Việt Nam đã buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược Việt Nam ?
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975
Cuộc Tiến công chiến lược năm 1972
Thắng lợi trong đông – xuân 1964 - 1965
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968)
Những điểm giống nhau giữa hai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965) và “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968) là:
Mĩ vừa tiến hành chiến tranh ở miền Nam vừa mở rộng chiến tranh bằng không quân, hải quân phá hoại miền Bắc
Mĩ vừa trực tiếp chiến đấu vừa có “cố vấn” chỉ huy
lực lượng tham gia chiến đấu đều là quân Mĩ và quân đội tay sai nhằm chống lại lực lượng cách mạng và nhân dân ta
đều là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mĩ
Âm mưu cơ bản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”(1961 - 1965) là:
"bình định" và "tìm diệt"
lập “ấp chiến lược”
“dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương”
“dùng người Việt đánh người Việt”
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) xác định vai trò của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam là:
bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa
thực hiện thống nhất nước nhà
trực tiếp đánh Mĩ hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam
Lực lượng của Mĩ trong Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965) được tiến hành bằng:
quân đội Sài Gòn, có sự phối hợp về hỏa lực, không quân Mĩ, vẫn do cố vấn Mĩ chỉ huy
quân đội Mĩ, quân một số nước đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn
hệ thống cố vấn Mĩ và quân đội tay sai,
quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống "cố vấn" Mĩ, dựa vào vũ khí, trang bị kĩ thuật của Mĩ
Ý nào sau đây không phản ánh đúng âm mưu và thủ đoạn của Mĩ trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam là:
cố giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang trở về thế phòng ngự, buộc ta phải phân tán nhỏ, hoặc rút về biên giới
nhanh chóng tạo ra ưu thế mới về binh lực và hỏa lực có thể áp đảo quân chủ lực của ta bằng cuộc hành quân “tìm diệt”
mở những cuộc hành quân “tìm diệt” vào căn cứ của quân giải phóng, các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào “vùng đất thánh Việt cộng”
dồn dân lập “ấp chiến lược”, và coi đây là “xương sống” của chiến lược
Chiến thắng được coi là “Ấp Bắc” đối với quân viễn chinh Mĩ, mở đầu cho cao trào “tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam là chiến thắng:
Bình Giã (Bà Rịa)
Trà Bồng (Quảng Ngãi)
Núi Thành (Quảng Nam)
Vạn Tường (Quảng Ngãi)
Ý nào sau đây không phản ánh đúng âm mưu của Mĩ trong việc tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất (1965 - 1968):
làm lung lay ý chí chống Mĩ, cứu nước của nhân dân ta
ngăn chặn nguồn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam
phá tiềm lực kinh tế, quốc phòng, công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc
mở rộng xâm lược miền Bắc, buộc ta phải khuất phục trên bàn đàm phán
Điểm tương đồng trong các chiến lược chiến tranh của Mĩ thực hiện ở miền Nam Việt Nam (1961 – 1975) là:
nhằm âm mưu dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam
sử dụng quân đội Sài Gòn làm lực lượng tiên phong, nòng cốt
sử dụng quân Mĩ và quân chư hầu làm lực lượng nòng cốt
âm mưu chia cắt lâu dài nước ta và nằm trong “chiến lược toàn cầu” của Mĩ
Sắp xếp theo thứ tự thời gian các chiến lược chiến tranh mà Mĩ thực hiện ở Việt Nam trong những năm 1954 – 1973.
1. “chiến tranh cục bộ”
2. “Việt Nam hóa chiến tranh”
3. “chiến tranh đặc biệt”
4. “chiến tranh đơn phương”
4 – 3 – 2 - 1
4 – 3 – 1 - 2
1 – 2 – 3 - 4
1 – 4 – 2 - 3
Trong thời kì 1954 – 1975, phong trào nào đánh dấu bước phát triển của cách mạng miền Nam Việt Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công ?
Tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt
Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công
Nổi dậy phá Ấp chiến lược
Phong trào “Đồng khởi”
Cải cách ruộng đất (1954 - 1957) ở miền Bắc đã thực hiện triệt để khẩu hiệu nào?
“Độc lập dân tộc” và “Ruộng đất dân cày”.
“Người cày có ruộng”.
“Tấc đất tấc vàng”.
“Tăng gia sản xuất nhanh, tăng gia sản xuất nữa”
Trong những năm 1954 - 1960, cách mạng miền Bắc thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, ngoại trừ:
xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
hoàn thành cải cách mộng đất.
cải tạo quan hệ sản xuất, bước đầu phát triển kinh tế - xã hội.
khôi phục kinh, tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.
Nét nổi bật nhất về tình hình chính trị ở Việt Nam sau khi Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết là:
nhân dân hai miền tiến hành tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử
Pháp rút quân khỏi miền Bắc
đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị-xã hội khác nhau
Mĩ dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam
Hình thức đấu tranh chủ yếu chống Mĩ - Diệm của nhân dân miền Nam trong những năm đầu sau Hiệp định Giơnevơ là :
dùng bạo lực cách mạng.
khởi nghĩa giành chính quyền.
đấu tranh vũ trang.
đấu tranh chính trị, hoà bình.
Ý nào sau đây không phản ánh đúng nhiệm vụ của cách mạng miền Nam những năm 1954 - 1959 là:
chuyển từ đấu tranh vũ trang chống Pháp sang đấu tranh vũ trang chống Mĩ - Diệm.
đòi Mĩ - Diệm nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ năm 1954.
đấu tranh bảo vệ hoà bình, đòi quyền dân sinh, dân chủ.
giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng.
