NEW
Font size
WorksheetsQUIZ Module 1.596 năm 2023
Total questions: 62
Worksheet time: 31mins
Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam gồm:
Quân đội nhân dân, công an nhân dân, dân quân tự vệ
Bộ đội thường trực, lực lượng công an, dân quân tự vệ
Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ
Bộ đội chủ lực, công an nhân dân, bộ đội biên phòng
Ngày, tháng, năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam:
22/12/1944
19/08/1945
20/12/1944
22/12/1945
Đặc điểm thuận lợi trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là:
Tiềm lực và vị thế của nước ta được tăng cường
Quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng
Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu hơn
Kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng ổn định
Nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân:
Tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt
Tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện
Trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt
Trực tiếp, toàn diện mọi lĩnh vực
Luật Dân quân tự vệ được ban hành:
Năm 2020
Năm 2019
Năm 2018
Năm 2017
Một trong những phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là xây dựng:
Quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
Lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu
Quân đội cách mạng, chính qui, đoàn kết, thống nhất, ngày càng hiện đại
Quân đội chính qui, hiện đại, tinh nhuệ, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu cao
Phương hướng xây dựng lực lượng dự bị động viên:
Hùng hậu, được huấn luyện và quản lý tốt, đảm bảo khi cần động viên nhanh theo kế hoạch
Có số lượng đông đảo, chất lượng ngày càng cao, huấn luyện thường xuyên theo kế hoạch
Lực lượng dự bị hùng hậu, luôn trong tư thế sẵn sàng động viên nhanh theo kế hoạch
Hùng hậu, vững mạnh, được nâng cao chất lượng huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu
Để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ngày càng hùng mạnh, chúng ta phải:
Từng bước giải quyết yêu cầu về vũ khí, trang bị kỹ thuật của lực lượng vũ trang
Nhanh chóng giải quyết yêu cầu về trang bị, vật chất cho lực lượng vũ trang
Từng bước bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, phương tiện hiện đại cho quân đội
Tích cực đổi mới, kịp thời bổ sung đầy đủ vũ khí kỹ thuật cho lực lượng vũ trang
“Bảo đảm lực lượng vũ trang nhân dân luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi” là một quan điểm, nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng ta, quan điểm nguyên tắc này phản ánh:
Chức năng, nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của lực lượng vũ trang nhân dân
Tính chủ động đối phó kịp thời với kẻ địch đang luôn tìm cách phá hoại ta
Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu thường xuyên của lực lượng vũ trang nhân dân
Yêu cầu nhiệm vụ thường xuyên của lực lượng vũ trang nhân dân
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo “tuyệt đối” lực lượng vũ trang nhân dân Việt nam được thể hiện:
Đảng không nhường, hoặc chia sẻ quyền lãnh đạo cho bất cứ giai cấp, lực lượng, tổ chức nào
Đảng không chia quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang cho bất cứ ai trong thời bình và thời chiến
Đảng chia sẻ quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang cho giai cấp khác khi đất nước khó khăn
Đảng sẽ nhường quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang cho đảng phái khác khi có chiến tranh
Lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc có vị trí là lực lượng:
Xung kích trong các hoạt động quân sự, an ninh và quyết định trong chiến tranh
Nòng cốt của quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân
Chủ yếu của sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, nòng cốt trong xây dựng đất nước
Nòng cốt quyết định sức mạnh quốc phòng - an ninh của ta trong thời bình
Ngày, tháng, năm thành lập Dân quân tự vệ Việt Nam
28/3/1935
30/4/1975
28/3/1930
19/8/1945
Quan điểm của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân:
Tự lực, tự cường xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
Phát huy nội lực, tự chủ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
Độc lập, dựa vào sức mình để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
Phát huy tự chủ, tự lực xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
Dân quân tự vệ Việt nam là:
Một bộ phận quan trọng trong lực lượng vũ trang địa phương
Thành phần quan trọng của ba thứ quân trong lực lượng vũ trang
Một bộ phận cơ bản nhất của lực lượng vũ trang nhân dân
Lực lượng chiến đấu thường xuyên trên mặt trận quân sự
Lực lượng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá “…là lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc…” đó là:
Lực lượng dân quân tự vệ
Lực lượng vũ trang quần chúng
Lực lượng vũ trang địa phương
Lực lượng vũ trang tại chỗ
Quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là:
Bảo đảm cho lực lượng vũ trang có lòng trung thành với Tổ quốc
Lực lượng vũ trang nhân dân phải luôn trung với Đảng, hiếu với dân
Xây dựng lực lượng vũ trang tăng cường bản chất giai cấp công nhân
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang
Ngày, tháng, năm thành lập Công an nhân dân Việt Nam
19/8/1945
19/8/1944
22/12/1945
20/12/1944
Tổ chức các đơn vị phải gọn, mạnh, cơ động nhanh, có sức chiến đấu cao” là biện pháp chấn chỉnh tổ chức biên chế lực lượng vũ trang đối với:
Bộ đội chủ lực
Bộ đội địa phương
Bộ đội binh chủng
Bộ đội cơ động
Phong trào tăng gia sản xuất của các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam đã phản ánh thường xuyên chức năng
Đội quân sản xuất
Đội quân xây dựng
Đội quân tăng gia
Đội quân lao động
Một trong ba bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là
Dân phòng
Dân quân tự vệ
Thanh niên xung kích
Bảo vệ khu phố
Quốc phòng là công việc giữ nước của một quốc gia, nhằm mục đích:
Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tạo môi trường thuận lợi để xây dựng đất nước
Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng
Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Bảo vệ chính quyền, chống lại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động
Hoạt động an ninh của một quốc gia là để bảo đảm:
Đất nước trạng thái ổn định an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sự tồn tại và phát triển
Đất nước ổn định, bình yên, tính mạng và tài sản nhân dân được bảo vệ, xã hội không ngừng phát triển
Đất nước an toàn, xã hội trật tự không bị rối loạn, mọi người được sống bình yên, xã hội tồn tại và phát triển
Đất nước thanh bình, xã hội có trật tự kỷ cương, mọi người được an toàn, xã hội tồn tại và phát triển
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh ở nước ta hiện nay là
Hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và nhân dân trong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh trong một chỉnh thể thống nhất
Hành động của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng thực hiện thống nhất các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại
Hoạt động tích cực của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện trên phạm vi cả nước gắn kết các hoạt động lại với nhau một cách thống nhất
Việc làm một cách chủ động của nhà nước điều hành thực hiện thống nhất, chặt chẽ các hoạt động knh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh trên cả nước
Tác động tích cực của quốc phòng, an ninh đối với kinh tế là:
Tạo môi trường hòa bình, ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển
Tiêu thụ nhiều sản phẩm của kinh tế, tạo điều kiện kích thích tăng trưởng kinh tế
Tiêu dùng của quốc phòng, an ninh sẽ là thị trường cho kinh tế tiêu thụ sản phẩm
Lực lượng thực hiện nghĩa vụ quân sự, khi hoàn thành sẽ là nguồn lao động tốt
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta phải kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh là để:
Thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bảo vệ mọi thành quả cách mạng đã đạt được
Giữ vững hòa bình, bảo vệ cuộc sống nhân dân
Kinh tế quyết định đến quốc phòng, an ninh, trong đó có
Quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho quốc phòng, an ninh
Cung cấp cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị chiến đấu cho các lực lượng vũ trang nhân dân
Bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cho mọi hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân
Quyết định việc tổ chức khu vực phòng thủ, cơ sở vật chất kỹ thuật cho quân đội, công an nhân dân
Thực hiện kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh, chúng ta phải thực hiện biện pháp:
Xây dựng chiến lược tổng thể kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh trong thời kỳ mới
Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, quốc phòng, an ninh
Tổ chức biên chế và bố trí lực lượng vũ trang phải phù hợp với điều kiện kinh tế và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc
Coi trọng giáo dục bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài của đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng phát triển kinh tế - xã hội
Ông cha ta xưa kia đã thực hiện kế sách “động vi binh, tĩnh vi dân” nghĩa là
Khi có chiến tranh là người lính chiến đấu, đất nước hòa bình là người dân phát triển kinh tế
Khi đất nước bình yên người dân luôn làm người lính sẵn sàng chiến đấu
Khi đất nước có loạn người lính cũng làm người dân phát triển kinh tế
Khi đất nước chiến tranh hoặc hòa bình mọi người đều phải làm người dân và người lính
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh trong phát triển các vùng lãnh thổ cần phải quan tâm chỉ đạo:
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với xây dựng lực lượng, thế trận quốc phòng an ninh trên từng vùng lãnh thổ
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng quần chúng trên các vùng lãnh thổ
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp quốc phòng với xây dựng thế trận phòng thủ trên các vùng lãnh thổ
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với xây dựng các tổ chức chính trị, tổ chức quần chúng trên các vùng lãnh thổ
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh trong công nghiệp, cần chú trọng:
Những ngành có tính lưỡng dụng
Phát triển đồng bộ các ngành
Những ngành công nghệ cao
Phát triển các ngành xuất khẩu
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với
tăng cường, củng cố QP&AN đối với nước ta là:
Một tất yếu
Một yêu cầu
Rất cần thiết
Rất quan trọng
Ông cha ta đã thể hiện kết hợp
kinh tế với quốc phòng bằng kế sách:
Ngụ nông ư binh
Ngụ binh ư nông
Nông binh cư ngụ
Ngụ binh công nông
Kinh tế, quốc phòng, an ninh là ba mặt hoạt động cơ bản nhất của một quốc gia, mỗi lĩnh vực có mục đích, cách thức hoạt động riêng và chịu sự chi phối của:
Hệ thống quy luật riêng
Hệ thống quy tắc riêng
Hệ thống quy luật chung
Hệ thống pháp quy chung
Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh ở Việt Nam đã có:
Từ lâu đời
Thời phong kiến
Khi chống Pháp
Thời chống Mỹ
Đối với vùng kinh tế trọng điểm, hiện nay nước ta xác định:
4 vùng kinh tế trọng điểm
3 vùng kinh tế trọng điểm
5 vùng kinh tế trọng điểm
6 vùng kinh tế trọng điểm
Trên thế giới việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được thực hiện ở:
Tất cả các nước
Những nước nghèo
Các nước phát triển
Những nước giàu
Trong kháng chiến chống Mỹ, việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh ở nước ta đã thể hiện trong việc xác định:
Miền Bắc là hậu phương, miền Nam là tiền tuyến
Miền Bắc là căn cứ, miền Nam là chiến trường
Miền Bắc xây dựng, miền Nam chiến đấu
Miền Bắc chống Mỹ, miền Nam diệt ngụy
Một trong những đặc điểm đối với vùng kinh tế trọng điểm là
Mật độ dân cư, tính chất đô thị hóa cao
Tính chất phức tap bởi đô thị hóa cao
Dân cư đông đúc, an ninh phức tạp
Dân số đông, đô thị phát triển nhanh
Kinh tế quyết định đến quốc phòng, an ninh, trong đó có
Quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho quốc phòng, an ninh
Cung cấp cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị chiến đấu cho các lực lượng vũ trang nhân dân
Bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cho mọi hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân
Quyết định việc tổ chức khu vực phòng thủ, cơ sở vật chất kỹ thuật cho quân đội, công an nhân dân
Chủ trương của Đảng ta đã từng thực hiện trong kháng chiến chống Pháp về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh là
Vừa kháng chiến vừa kiến quốc
Kết hợp chiến đấu với xây dựng
Kết hợp sản xuất với thực hành tiết kiệm
Vừa xây dựng làng xã vừa kháng chiến
Tại các địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh, thành phần dân quân tự vệ còn có lực lượng:
Dân quân tự vệ thường trực
Dân quân tự vệ thường xuyên
Dân quân tự vệ trực ban
Dân quân tự vệ trực chiến
Một trong những biện pháp xây dựng
lực lượng dân quân tự vệ hiện nay là:
Xây dựng lực lượng dân
quân tự vệ vững mạnh,
sẵn sàng chiến đấu cao
Phát huy sức mạnh
của toàn dân trên tất cả các
lĩnh vực hoạt động xã hội
Xây dựng lực lượng dân
quân tự vệ gắn với xây dựng
cơ sở vững mạnh toàn diện
Xây dựng lực lượng dân
quân tự vệ rộng khắp ở các
ngành và địa phương
Xây dựng lực lượng dân
quân tự vệ rộng khắp ở các
ngành và địa phương
2 năm
3 năm
4 năm
5 năm
Một trong những nguyên tắc sắp xếp quân nhân dự bị vào các đơn vị dự bị động viên là:
Theo trình độ chuyên nghiệp quân sự, chuyên môn kỹ thuật
Theo khả năng về sức khỏe, tuổi đời và nơi cư trú
Theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ, theo nghề nghiệp
Theo trình độ kỹ thuật, chiến thuật, chức vụ và sức khỏe
Thời hạn phục vụ của lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt theo Luật Dân quân tự vệ năm 2020 là:
4 năm
3 năm
2 năm
5 năm
Tổ chức đơn vị dân quân tự vệ cao nhất là:
Tiểu đoàn, hải đoàn
Lữ đoàn, hải đoàn
Đại đội, hải đội
Trung đội, hải đội
Để xây dựng lực lượng dân quân tự vệ có hiệu quả, chúng ta phải:
Thường xuyên giáo dục , quán triệt sâu rộng các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước về công tác dân quân tự vệ
Phát huy sức mạnh của các cấp, các ngành, các địa phương và các tầng lớp nhân dân để thực hiện công tác dân quân tự vệ
Phát huy sức mạnh của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng dân quân tự vệ
Thường xuyên củng cố sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của các tầng lớp nhân dân để thực hiện tốt công tác dân quân tự vệ
Dân quân tự vệ “là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong thời bình”, là một trong những nội dung cùa:
Vị trí vai trò của dân quân tự vệ
Nội dung, nhiệm vụ của dân quân tự vệ
Chức năng cơ bản của dân quân tự vệ
Nhiệm vụ, chức trách của dân quân tự vệ
Nhiệm vụ của dân quân tự vệ được quy định trong Luật Dân quân tự vệ 2020, là những nhiệm vụ:
Cơ bản, thường xuyên trong mọi giai đoạn cách mạng đối với mọi tổ chức dân quân tự vệ
Chủ yếu, thường xuyên của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong thời chiến
Quan trọng nhất của dân quân tự vệ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Cơ bản, thường xuyên xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong thời bình
Nhiệm vụ của lực lượng dân quân tự vệ cơ động là:
Chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt địch, chi viện cho lực lượng chiến đấu tại chỗ
Chiến đấu, tiêu diệt địch, đánh bại địch tiến công trên địa bàn địa phương
Chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn địa phương theo phương án
Chiến đấu, cơ động chiến đấu trên địa bàn địa phương theo kế hoạch
Nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng dự bị động viên nhằm mục đích:
Bảo đảm sức mạnh của quân đội, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Duy trì sức mạnh chiến đấu của lực lượng dự bị động viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới
Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo và tăng cường chất lượng cho lực lượng vũ trang nhân dân
Hoàn thiện và tăng cường số lượng, chất lượng cho lực lượng vũ trang khi có chiến tranh
Quyền hạn bổ nhiệm các chức vụ trong ban chỉ huy quân sự xã là:
Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện
Chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự huyện
Chính trị viên ban chỉ huy quân sự huyện
Bí thư đảng ủy huyện
Thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng dân quân tự vệ hiện nay, chúng ta phải:
Coi trọng chất lượng là chính
Chú trọng chất lượng chính trị
Tăng cường sức mạnh chiến đấu
Xây dựng vững mạnh toàn diện
Quân nhân dự bị động viên được đăng ký, quản lý tại:
Nơi cư trú
Nơi công tác
Đơn vị dự bị động viên
Nơi tập trung động viên
Đối tượng tạo nguồn sỹ quan dự bị:
Sỹ quan xuất ngũ
Binh sỹ xuất ngũ
Thanh niên chuẩn bị nhập ngũ
Dân quân tự vệ thường trực
Khi tổ chức lực lượng dự bị động viên, sắp xếp quân nhân dự bị hạng một trước, nếu thiếu thì sắp xếp:
Quân nhân dự bị hạng hai
Dân quân tự vệ hạng một
Quân nhân dự bị hạng ba
Dân quân tự vệ cơ động
Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lực lượng dự bị động viên là:
Trách nhiệm của toàn xã hội
Thực hiện lợi ích xã hội
Thực hiện chính sách xã hội
Trách nhiệm của các địa phương
Dân quân được tổ chức ở:
Xã, phường, thị trấn
Cơ quan, tổ chức nhà nước
Xã, phường, cơ quan nhà nước
Xã, Phường, đơn vị sự nghiệp
Khó khăn cho thực hiện động viên công nghiệp quốc phòng trong kinh tế thị trường phát triển và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế:
Bảo đảm bí mật quân sự
Bảo đảm an sinh xã hội
Bảo đảm an ninh trật tự
Bảo đảm nguồn nhân lực
Độ tuổi của công dân Việt Nam tham gia lực lượng dân quân tự vệ là:
Nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi
Nam từ đủ 20 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi
Nam từ đủ 18 tuổi đến hết 50 tuổi, nữ từ đủ 20 tuổi đến hết 45 tuổi
Nam từ đủ 20 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ từ đủ 20 tuổi đến hết 40 tuổi
Một trong những quan điểm, nguyên tắc xây dựng lực lượng dự bị động viên là:
Phát huy sức mạnh của các bộ, ngành và địa phương
Phát huy sức mạnh của toàn dân trên tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội
Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu cao
Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị ở địa phương
Dân quân tự vệ Việt Nam thành lập ngày, tháng, năm nào?
28/03/1935
19/08/1945
22/12/1944
23/09/1945
