WorksheetsHP3 bài Q5-Q8 (end)
Total questions: 87
Worksheet time: 44mins
Khái niệm thuốc nổ:
A. Thuốc nổ là một hợp chất hoặc một hỗn hợp hóa học, khi bị tác động như nhiệt, hóa, cơ,... thì có phản ứng nổ, sinh nhiệt cao, lượng khí lớn tạo thành áp lực mạnh phá hủy các vật thể xung quanh.
B. Thuốc nổ là một hợp chất hữu cơ hoặc một hỗn hợp hóa học, dùng để tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, công sự, vật cản của địch, tăng tốc độ phá đất đá, làm công sự, khai thác gỗ.
C. Thuốc nổ là một loại vũ khí nổ thông thường, tinh thể trắng hoặc màu tro, độc, khi bị tác động như nhiệt, điện, hóa, cơ,... thì có phản ứng nổ, sinh nhiệt cao, áp suất lớn, tạo thành sóng xung kích phá hủy các vật thể xung quanh.
D. Thuốc nổ là một hợp chất hoặc một hỗn hợp hóa học, khi bị tác động như nhiệt, hóa, cơ,... thì có phản ứng nổ, tạo thành sóng xung kích, bức xạ quang, bức xạ xuyên và chất phóng xạ, có khả năng phá hủy các vật thể xung quanh.
Tác dụng chung của thuốc nổ:
A. Dùng để cấu trúc các loại lượng nổ theo hình dạng khác nhau phù hợp với đặc điểm chỗ đặt khi phá vật thể, dùng làm lượng nổ lõm.
B. Dùng để tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, công sự, vật cản của địch, tăng tốc độ phá đất đá, làm công sự, khai thác gỗ,...
C. Dùng nhồi trong bom đạn, mìn, trộn với thuốc nổ mạnh làm dây nổ, ép thành từng bánh 75g, 200g, 400g để cấu trúc các loại lượng nổ.
D. Dùng năng lượng nhiệt, điện, hóa, cơ,... để gây nổ, khi nổ sinh nhiệt cao, lượng khí lớn tạo thành áp lực mạnh phá hủy các vật thể xung quanh.
Đặc điểm nhận dạng của thuốc gây nổ Fulminat thủy ngân:
A. Tinh thể trắng, hạt nhỏ, khó tan trong nước.
B. Gồm 80% hexoghen + 20% chất dính kết, màu trắng đục, dẻo, mùi hắc, vị nhạt.
C. Tinh thể trắng hoặc màu tro, độc, khó tan trong nước lạnh, nhưng tan trong nước sôi.
D. Tinh thể cứng, màu vàng nhạt, tiếp xúc với ánh sáng ngả màu vàng nâu, vị đắng độc, khi
đốt lửa đỏ, khói đen mùi nhựa thông.
Cảm ứng nhiệt của thuốc gây nổ Fulminat thủy ngân:
A. Đốt khó cháy, nhiệt độ nóng chảy ở 79 đến 81 0 C, cháy 300 0 C, nổ 350 0 C, nếu tăng nhiệt độ lên đột ngột 300 0 C nổ. Khi cháy lửa màu nâu, khói đen, độc.
B. Đốt khó cháy, tự cháy và nổ ở nhiệt độ 310 0 C.
C. Rất dễ bắt lửa, khi bắt lửa nổ ngay; ở nhiệt độ 160 đến 170 0 C tự nổ.
D. Đốt khó cháy, 190 0 C cháy, 201 0 C nổ, bắt lửa nhanh, cháy không có khói, khi cháy tập trung 50kg có thể nổ.
Công dụng của thuốc gây nổ Fulminat thủy ngân:
A. Thường gói thành từng thỏi dài, mỗi thỏi 100g đến 200g dùng trong phá đất, đào đường hầm, khai thác mỏ,...
B. Dùng để cấu trúc các loại lượng nổ theo hình dạng khác nhau phù hợp với đặc điểm chỗ đặt khi phá vật thể, dùng làm lượng nổ lõm.
C. Nhồi trong bom đạn, mìn, trộn với thuốc nổ mạnh làm dây nổ, ép thành từng bánh 75g, 200g, 400g để cấu trúc các loại lượng nổ.
D. Nhồi trong kíp nổ, hạt lửa, đầu nổ của các loại đạn, bom, mìn.
Đặc điểm nhận dạng của thuốc gây nổ Azotua chì:
Tinh thể trắng, hạt nhỏ, khó tan trong nước.
Gồm 80% hexoghen + 20% chất dính kết, màu trắng đục, dẻo, mùi hắc, vị nhạt.
Tinh thể trắng hoặc màu tro, độc, khó tan trong nước lạnh, nhưng tan trong nước sôi.
Tinh thể cứng, màu vàng nhạt, tiếp xúc với ánh sáng ngả màu vàng nâu, vị đắng độc, khi
đốt lửa đỏ, khói đen mùi nhựa thông.
Cảm ứng nhiệt của thuốc gây nổ Azotua chì:
A. Đốt khó cháy, nhiệt độ nóng chảy ở 79 đến 81°C, cháy 300°C, nổ 350°C, nếu tăng nhiệt độ lên đột ngột 300°C nổ. Khi cháy lửa màu nâu, khói đen, độc.
B. Đốt khó cháy, tự cháy và nổ ở nhiệt độ 310°C.
C. Rất dễ bắt lửa, khi bắt lửa nổ ngay; ở nhiệt độ 160 đến 170°C tự nổ.
D. Đốt khó cháy, 190°C cháy, 201°C nổ, bắt lửa nhanh, cháy không có khói, khi cháy tập trung 50kg có thể nổ.
Đặc điểm nhận dạng của thuốc nổ vừa TNT:
A. Màu trắng đục, dẻo, mùi hắc, vị nhạt, tỉ trọng 1,4.
B. Tinh thể cứng, màu vàng nhạt, tiếp xúc với ánh sáng ngả màu vàng nâu, vị đắng độc, khi đốt lửa đỏ, khói đen mùi nhựa thông.
C. Tinh thể trắng hoặc màu tro, độc, khó tan trong nước lạnh, nhưng tan trong nước sôi.
D. Tinh thể trắng, hạt nhỏ, khó tan trong nước.
Cảm ứng nhiệt của thuốc nổ vừa TNT:
A. Đốt khó cháy, nhiệt độ nóng chảy ở 79 đến 81°C, cháy 300°C, nổ 350°C, nếu tăng nhiệt độ lên đột ngột 300°C nổ.
B. Đốt khó cháy, tự cháy và nổ ở nhiệt độ 310°C.
C. Rất dễ bắt lửa, khi bắt lửa nổ ngay; ở nhiệt độ 160 đến 170°C tự nổ.
D. Đốt khó cháy, 190°C cháy, 201°C nổ, bắt lửa nhanh, cháy không có khói, khi cháy tập trung 50kg có thể nổ.
Thành phần, đặc điểm nhận dạng của thuốc nổ C4:
Gồm 80% thuốc nổ mạnh hêxôghen và 20% chất dính, màu trắng đục, dẻo, mùi hắc, vị
nhạt.
Gồm 80% thuốc nổ mạnh hêxôghen và 20% parapin, tinh thể trắng hoặc màu tro, độc, khó
tan trong nước lạnh, nhưng tan trong nước sôi.
Gồm 85% thuốc nô mạnh hêxôghen và 15% chất dính, màu trắng đục, dẻo, mùi hắc, không
vị.
Gồm 80% thuốc gây nổ Azôtua chì và 20% chất dính, màu trắng đục, dẻo, mùi hắc, vị nhạt.
Công dụng của thuốc nổ C4:
Nhồi trong bom đạn, mìn. Trộn với thuốc nổ mạnh làm dây nổ, ép thành tim bánh 75g, 200g, 400g để cấu trúc các loại lượng nổ.
Dùng để cấu trúc các loại lượng nổ theo hình dạng khác nhau phù hợp với đặc điểm chỗ đạt khi phá vật thể, dùng làm lượng nổ lõm.
Thường gói thành từng thỏi dài, mỗi thỏi 100g → 200g dùng trong phá đất, đào đường hầm, khai thác mỏ.
Nhồi trong kíp nổ, hạt lửa, đầu nổ của các loại đạn, bom, mìn.
Công dụng của thuốc nổ yếu Nitrát Amôn:
Thường gói thành từng thỏi dải, mỗi thỏi I00g → 200g dùng trong phá đất, đào đường hầm, khai thác mỏ.
Nhồi trong kíp nổ, hạt lửa, đầu nổ của các loại đạn, bom, mìn.
Nhồi trong bom đạn, mìn, trộn với thuốc nổ mạnh làm dây nổ, ép thành từng bánh 75g, 200g, 400g để cấu trúc các loại lượng nổ.
Dùng để cấu trúc các loại lượng nổ theo hình dạng khác nhau phù hợp với đặc điểm chỗ đạt khi phá vật thể, dùng làm lượng nổ lõm.
Cấu tạo kíp nổ thường:
Vỏ kíp; mắt ngỗng; lưới chắn thuốc; dây nổ; thuốc nổ mạnh; bát kim loại.
Vỏ kíp; lưới chắn thuốc; thuốc chảy; thuốc nổ vừa; thuốc nổ mạnh, bát kim loại.
Vỏ kíp; mắt ngỗng; lụa phòng ẩm; thuốc giữ chậm; thuốc gây nổ; thuốc nổ vừa; bát im loại.
Vỏ kíp; thuộc nổ mạnh; thuốc gây nổ; bát kim loại; lụa phòng ấm; mắt ngỗng.
Công dụng của kíp nổ:
A. Dùng để gây nổ thuốc nổ hoặc dây nổ.
B. Dùng để gây nổ thuốc nổ hoặc dây cháy chậm
C. Dùng để gây nổ thuốc nổ, dây nổ và dây cháy chậm.
D. Dùng để gây nổ thuốc nổ, dây nổ, nụ xoè và dây cháy chậm.
Cấu tạo của kíp điện:
A. Vỏ kíp; lưới chắn thuốc thuốc chảy; thuốc nổ vừa; thuốc nổ mạnh; bát kim loại; dây tóc, thuốc cháy; dây cuống kíp; miếng nhựa cách điện
B. Vỏ kíp mắt ngỗng; lưới chắn thuốc; dây nổ; thuốc nổ mạnh; bát kim loại; dây tóc, thuốc chảy; dây cuống kíp; miếng nhựa cách điện
C. Vỏ kíp, mắt ngỗng; lụa phòng ấm; dây chảy chậm; thuốc gây nổ; bát kim loại; dây tóc, thuốc cháy; dây cuống kíp; miếng nhựa cách điện
D. Vỏ kíp; thuốc nổ mạnh; thuốc gây nổ; bát kim loại; lụa phòng ẩm; mắt ngỗng; dây tóc, thuốc chảy; dây cuống kíp; miếng nhựa cách điện
Nguyên lí nổ của kíp điện:
A. Khi có dòng điện (đủ mạnh) chạy qua, dây tóc chảy, đốt cháy thuốc gây nổ, gây nổ thuốc nổ manh, gây nổ kíp
B. Khi có dòng điện (đủ mạnh) chạy qua, thuốc cháy cháy, gây nổ mắt ngỗng, gây nổ thuốc mồi, gây nổ kíp
C. Khi có dòng điện (đủ mạnh) chạy qua, dây tóc nóng đỏ, làm cháy thuốc cháy, lửa phụt qua mắt ngỗng gây nổ kíp
D. Cả a, b, c đều đúng
Công dụng của dây cháy chậm:
A. Đốt chảy nụ xoè, gây nổ kíp, bảo đảm an toàn cho người sử dụng
B. Dẫn lửa gây nổ kíp, bảo đảm cho người gây nó có khoảng thời gian cần thiết cơ động ra khỏi vùng nguy hiểm
C. Dẫn lửa gây nổ thuốc nổ, đốt cháy dây nổ bảo đảm cho người gây nổ có khoảng thời gian cần thiết cơ động ra khỏi vùng nguy hiếm
D. Dẫn lửa đốt cháy nụ xoè, bảo đảm cho người gây nổ có khoảng thời gian cần thiết cơ động ra khỏi vùng nguy hiểm
Tác dụng của nụ xòe:
A. Dùng để gây nổ các đồ dùng gây nổ.
B. Dùng phát lửa đốt cháy dây cháy chậm hoặc gây nổ kíp trực tiếp.
C. Dùng phát lửa đốt cháy đây nó hoặc trực tiếp gây nổ kíp.
D. Dùng để gây nổ thuốc nổ hoặc đốt cháy dây chảy chậm.
Cấu tạo của nụ xoè nhựa:
Vỏ; dây nổ; dây kim loại; phễu kim loại; thuốc nổ mạnh.
Vỏ; thanh giật; dây kim loại; phễu kim loại; thuốc cháy.
Vỏ; dây cháy chậm; dây kim loại; phễu kim loại; thuốc cháy.
Vỏ; thanh giật; dây kim loại; phễu chứa thuốc cháy; thuốc gây nổ.
Khái niệm vũ khí hạt nhân:
A. Là một loại vũ khí hủy diệt lớn mà tác dụng sát thương của nó do độc tính của các chất độc
B. Là một loại vũ khí hủy diệt lớn dựa trên cơ sở sử dụng năng lượng rất lớn được giải
C. Là một loại vũ khí hủy diệt lớn dựa trên cơ sở sử dụng năng lượng rất lớn được giải
D. Là một loại vũ khí hủy diệt lớn dựa trên cơ sở sử dụng năng lượng của chất cháy có nhiệt
Theo đương lượng nổ, vũ khí hạt nhân được phân loại thành:
4 loại: vũ khí nguyên tử, vũ khí khinh khí, vũ khí nơtron, vũ khí hydrogen.
4 loại: vũ khí nguyên tử, vũ khí khinh khí, vũ khí nơtron, chất phóng xạ chiến đấu.
5 loại: cực nhỏ, nhỏ, vừa, lớn, cực lớn.
5 loại: vũ khí nguyên tử, vũ khí khinh khí, vũ khí nơtron, vũ khí hạt nhân chiến thuật,
vũ khí hạt nhân chiến lược.
Sóng xung kích là:
Nhân tố sát thương phá hoại CHỦ YẾU của vũ khí hạt nhân, chiếm 50% năng lượng của vụ nổ.
Nhân tố sát thương phá hoại QUAN TRỌNG của vũ khí hạt nhân, chiếm 35% năng lượng của vụ nổ.
Nhân tố sát thương phá hoại TỨC THỜI của vũ khí hạt nhân, chiếm 15% năng lượng của vụ nổ.
Nhân tố sát thương phá hoại ĐẶC TRƯNG của vũ khí hạt nhân, chiếm 50% năng lượng của vụ nổ.
Bản chất sóng xung kích của vũ khí hạt nhân:
Là dòng năng lượng ánh sáng gồm tia hồng ngoại, tử ngoại và ánh sáng nhìn thấy. Có
nhiệt độ rất cao, trong khu vực tâm nổ lên tới hàng chục triệu độ, có phương truyền
thẳng 300.000km/s. Năng lượng tính bằng calo.
Các phân tử, nguyên tử trong không khí bị ion hóa, tạo thành các phần tử mang điện.
Trong không gian hình thành những vùng điện tích trái dấu, làm xuất hiện từ trường tổng hợp, tạo thành sóng.
Là dòng năng lượng được phóng ra từ cầu lửa và đám mây phóng xạ gồm tia gama và
dòng nơtron, dồn nén lớp không khí bao quanh tạo thành sóng.
Là khối cầu lửa khổng lồ, có nhiệt độ và áp suất cao, không ngừng lan rộng, dồn nén
lớp không khí bao quanh tạo thành sóng.
Bức xạ quang của vũ khí hạt nhân là:
Nhân tố sát thương phá hoại ĐẶC TRƯNG của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 35% năng lượng của vụ nổ.
Nhân tố sát thương phá hoại QUAN TRỌNG của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 35% năng lượng của vụ nổ.
Nhân tố sát thương phá hoại QUAN TRỌNG của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 45% năng lượng của vụ nổ.
Nhân tố sát thương phá hoại ĐẶC TRƯNG của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 45% năng lượng của vụ nổ.
Bản chất bức xạ quang của vũ khí hạt nhân:
Là dòng năng lượng ánh sáng gồm tia hồng ngoại, tử ngoại và ánh sáng nhìn thấy. Có nhiệt độ rất cao, trong khu vực tâm nổ lên tới hàng chục triệu độ, có phương truyền thẳng 300.000km/s. Năng lượng tính bằng calo.
Các phân tử, nguyên tử trong không khí bị ion hóa, tạo thành các phần tử mang điện. Trong không gian hình thành những vùng điện tích trái dấu, làm xuất hiện từ trường tổng hợp, tạo thành sóng.
Là dòng năng lượng được phóng ra từ cầu lửa và đám mây phóng xạ gồm tia gama và dòng nơtron.
Là khối cầu lửa khổng lồ, có nhiệt độ và áp suất cao, không ngừng lan rộng, dồn nén lớp không khí bao quanh tạo thành sóng.
Bức xạ xuyên là:
Nhân tố sát thương phá hoại CHỦ YẾU của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 50% năng lượng của vụ nổ.
Nhân tố sát thương phá hoại ĐẶC TRƯNG của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 5% năng lượng của vụ nổ.
Nhân tố sát thương phá hoại QUAN TRỌNG của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 35% năng lượng của vụ nổ.
Nhân tố sát thương phá hoại ĐẶC TRƯNG, TỨC THỜI của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 10% năng lượng của vụ nổ.
Bản chất bức xạ xuyên của vũ khí hạt nhân:
A. Là dòng năng lượng ánh sáng gồm tia hồng ngoại, tử ngoại và ánh sáng nhìn thấy. Có nhiệt độ rất cao, trong khu vực tâm nổ lên tới hàng chục triệu độ, có phương truyền thẳng 300.000km/s. Năng lượng tính bằng calo.
B. Các phân tử, nguyên tử trong không khí bị ion hóa, tạo thành các phần tử mang điện.
C. Là dòng năng lượng được phóng ra từ cầu lửa và đám mây phóng xạ gồm tia gama và dòng nơtron.
D. Là khối cầu lửa khổng lồ, có nhiệt độ và áp suất cao, không ngừng lan rộng, dồn nén lớp không khí bao quanh tạo thành sóng.
Các nhân tố sát thương phá hoại chủ yếu của vũ khí hạt nhân gồm:
A. Sóng xung kích, bức xạ quang, bức xạ xuyên, tia beta, các dòng nơtron, tia gama.
B. Sóng xung kích, bức xạ xuyên, chất phóng xạ, các dòng nơtron, tia gama.
C. Sóng xung kích, bụi đất bị nhiễm phóng xạ, sóng âm, các xung điện từ.
D. Sóng xung kích, bức xạ quang, bức xạ xuyên, chất phóng xạ, hiệu ứng điện từ.
Chất phóng xạ là:
A. Nhân tố sát thương phá hoại CHỦ YẾU của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 50% năng lượng của vụ nổ.
B. Nhân tố sát thương phá hoại ĐẶC TRƯNG của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 5% năng lượng của vụ nổ.
C. Nhân tố sát thương phá hoại QUAN TRỌNG của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 35% năng lượng của vụ nổ.
D. Nhân tố sát thương phá hoại ĐẶC TRƯNG của vũ khí hạt nhân, chiếm khoảng 10% năng lượng của vụ nổ.
Khi vũ khí hạt nhân nổ, chất phóng xạ được sinh ra:
A. Từ 3 nguồn gốc: mảnh vỡ hạt nhân, chất phóng xạ cảm ứng và chất nổ hạt nhân chưa tham gia phản ứng.
B. Từ 3 nguồn gốc: mảnh vỡ hạt nhân, quả cầu lửa mang điện tích trái dấu và chất nổ hạt nhân chưa tham gia phản ứng.
C. Từ 4 nguồn gốc: mảnh vỡ hạt nhân, chất phóng xạ cảm ứng, các tia alpha và các dòng nơtron.
D. Từ 4 nguồn gốc: mảnh vỡ hạt nhân, chất phóng xạ cảm ứng, bụi phóng xạ và xỉ phóng xạ.
Hiệu ứng điện từ của phản ứng hạt nhân có tác hại:
A. Làm nhiễu các hoạt động của ra-đa, vô hiệu hóa mạng thông tin liên lạc, làm mất tính cách điện của một số vật liệu gây nên cháy và chập điện.
B. Làm nhiễu các hoạt động của máy vô tuyến điện, làm đứt dây dẫn điện, cầu chì,... mất tính cách điện của một số vật liệu gây nên cháy và chập điện.
C. Gây bụi phóng xạ trực tiếp rơi vào người, các tia phóng xạ xuyên vào cơ thể gây nên bệnh bỏng phóng xạ.
D. Gây nên các bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa và làm cho vết thương nhiễm khuẩn.
Khái niệm vũ khí hóa học:
A. Là một loại vũ khí hủy diệt lớn mà tác dụng sát thương của nó do độc tính của các chất độc quân sự để gây cho người, sinh vật và phá hủy môi trường sinh thái.
B. Là một loại vũ khí hủy diệt lớn dựa trên cơ sở sử dụng năng lượng rất lớn được giải phóng ra từ vũ khí hóa học để tiêu diệt các mục tiêu.
C. Là một loại vũ khí hủy diệt lớn dựa trên cơ sở sử dụng độc tính của các chất độc, vi khuẩn, virus để gây cho người, sinh vật và phá hủy môi trường sinh thái.
D. Là một loại vũ khí hủy diệt lớn mà tác dụng sát thương của nó do độc tính của các chất độc quân sự để sát thương sinh lực, thiêu hủy vũ khí, trang bị kỹ thuật, kho tàng, cô
Phân loại theo bệnh lý, chất độc quân sự được chia thành:
Chất độc tiêu diệt sinh lực và chất độc diệt cây.
Chất độc thần kinh, chất độc loét da, chất độc toàn thân, chất độc ngạt thở, chất độc kích thích và chất độc tâm thần.
Chất độc thần kinh, chất độc gây ngạt, chất độc kích thích, chất độc mau tan, chất độc lâu tan, chất độc gây loét da.
Chất độc một thành phần, chất độc hai thành phần, chất độc ba thành phần.
Đặc điểm tác hại cơ bản của vũ khí hóa học được thể hiện:
Sát thương chủ yếu bằng phóng xạ, nhiễm xạ của chất độc có phạm vi tác hại rộng lớn.
Sát thương chủ yếu bằng mầm bệnh và độc tính của chất độc với thời gian ngắn, phạm vi hẹp.
Sát thương chủ yếu bằng độc tính của chất độc có phạm vi tác hại rộng lớn, thời gian tác hại lâu dài.
Sát thương chủ yếu bằng vi trùng độc, tạo ra các bệnh nan y nguy hiểm với thời gian dài, phạm vi rộng.
Tính chất của chất độc thần kinh Vx:
Là một chất kết tinh màu trắng, sản phẩm công nghiệp có màu vàng nhạt, không tan trong nước, tan tốt trong dung môi hữu cơ, rất ổn định trong không khí.
Là một chất kết tinh màu trắng, có mùi hạt tiêu, khả năng bay hơi kém, không tan trong nước, tan tốt trong Axeton, Bezen, Clorofooc.
Là một chất lỏng, không màu, không mùi, sánh như dầu, sản phẩm công nghiệp có màu vàng đến vàng sậm, khi phân hủy có mùi giống mùi tỏi.
Là một chất lỏng, không màu, không mùi, nhiệt độ sôi 300 0 C, ít tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ, nặng hơn nước, bay hơi kém, tồn tại lâu dài.
Cách cấp cứu khi trúng chất độc thần kinh Vx:
Đeo mặt nạ phòng độc, uống thuốc phòng chống chất độc thần kinh, ẩn nấp đầu hướng gió.
Sử dụng ống tiêm tự tiêm vào bắp, làm hô hấp nhân tạo, tiêu độc cho người, vũ khí trang bị kỹ thuật.
Cho uống thuốc phòng chất độc thần kinh, làm hô hấp nhân tạo, tiêu độc cho người, vũ khí trang bị kỹ thuật.
Nhanh chóng đưa người ra khỏi khu vực nhiễm độc, sử dụng ống tiêm tự tiêm vào bắp, làm hô hấp nhân tạo.
Nhóm chất độc thần kinh là:
Là những chất độc quân sự có độc tính cao, gây tác hại đối với hệ thống thần kinh, làm cho người trúng độc mất sức chiến đấu và chết nhanh chóng.
Là những chất độc quân sự có độc tính cao, khi xâm nhập vào cơ thể phá hoại sự trao đổi oxy của tế bào, gây nhiễm độc hệ thần kinh và dẫn đến tử vong nhanh chóng.
Là những chất độc quân sự hủy diệt các loài thực vật, phá hủy màn ngụy trang thiên nhiên, hạn chế sản xuất, gây bùng phát các dịch bệnh thần kinh.
Là những chất độc quân sự có độc tính cao, gây tác hại kích thích các tế bào thần kinh không có màn bảo vệ, làm cho người bị trúng độc có những bất thường về tâm lý.
Tính chất của chất độc loét da Yperit:
Là một chất kết tinh màu trắng, sản phẩm công nghiệp có màu vàng nhạt, không tan trong nước, tan tốt trong dung môi hữu cơ, rất ổn định trong không khí.
Là một chất kết tinh màu trắng, có mùi hạt tiêu, khả năng bay hơi kém, không tan trong nước, tan tốt trong Axeton, Bezen, Clorofooc.
Là một chất lỏng, không màu, không mùi, sánh như dầu, sản phẩm công nghiệp có màu vàng đến vàng sậm, khi phân hủy có mùi giống mùi tỏi.
Là một chất lỏng, không màu, không mùi, nhiệt độ sôi 3000C, ít tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ, nặng hơn nước, bay hơi kém, tồn tại lâu dài.
Tính chất của chất độc thần kinh BZ
A. Là một chất kết tinh màu trắng, sản phẩm công nghiệp có màu vàng nhạt, không tan trong nước, tan tốt trong dung môi hữu cơ, rất ổn định trong không khí.
B. Là một chất kết tinh màu trắng, có mùi hạt tiêu, khả năng bay hơi kém, không tan trong nước, tan tốt trong Axeton, Bezen, Clorofooc.
C. Là một chất lỏng, không màu, không mùi, sánh như dầu, sản phẩm công nghiệp có màu vàng đến vàng sậm, khi phân hủy có mùi giống mùi tỏi.
D. Là một chất lỏng, không màu, không mùi, nhiệt độ sôi 300 0 C, ít tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ, nặng hơn nước, bay hơi kém, tồn tại lâu dài.
Khi trúng chất độc tâm thần BZ ta cấp cứu:
A. Đeo mặt nạ phòng độc, uống thuốc phòng chống chất độc thần kinh, ẩn nấp đầu hướng gió.
B. Nhanh chóng đưa người ra khỏi khu vực nhiễm độc, đặt nơi thoáng gió, tiêm Physosritlin (1 đến 2 ống) hoặc cho uống Metratril (2 đến 3 viên/ngày)
C. Cho uống thuốc phòng chất độc thần kinh, làm hô hấp nhân tạo, tiêu độc cho người, vũ khí trang bị kỹ thuật.
D. Nhanh chóng đưa người ra khỏi khu vực nhiễm độc, sử dụng ống tiêm tự tiêm vào bắp, tiêu độc cho người, vũ khí trang bị kỹ thuật.
Thế nào là chất đầu độc:
A. Là các loại chất độc hóa học được sử dụng để đầu độc nguồn nước, lương thực thực phẩm, thức ăn gia súc, hoa màu, gây tổn thất về người, gia súc, mùa màng.
Là các loại mầm bệnh nguy hiểm do vũ khí sinh học gây ra, được sử dụng để gây ô nhiễm nguồn nước, lương thực thực phẩm, thức ăn gia súc, hoa màu, gây tổn thất về người, gia súc, mùamàng.
Là các loại chất nhiễm xạ của vũ khí hạt nhân, được sử dụng để gây nhiễm xạ nguồn nước, lương thực thực phẩm, thức ăn gia súc, hoa màu.
Tính chất chung của chất đầu độc:
A. Có độc tính cao, màu trắng, có mùi quả thối, vị đắng, dễ tan trong nước và các dung môi hữu cơ, bền vững với nhiệt độ và môi trường, gây tác hại từ từ.
B. Có độc tính cao, không màu, không mùi, không vị, dễ tan trong nước và các dung môi hữu cơ, bền vững với nhiệt độ và môi trường, gây tác hại từ từ.
C. Có độc tính cao, màu xám tro, không mùi, vị ngọt, không tan trong nước và các dung môi hữu cơ, bền vững với nhiệt độ và môi trường, gây tử vong nhanh.
D. Không có độc tính, khi xâm nhập vào cơ thể mới phát độc, không màu, không tanh, không vị, dễ tan trong nước và các dung môi hữu cơ, gặp nhiệt độ dễ bay hơi.
Cách cấp cứu người bị trúng độc các chất đầu độc:
A. Nhanh chóng gây nôn, cho uống sữa, uống các thuốc lợi tiểu nếu nạn nhân mất nước nhiều, cho uống nước đường, nghỉ ngơi yên tĩnh.
B. Đeo mặt nạ, có thể mặc bộ phòng da, đi ủng găng tay, có thể sử dụng khăn mặt ướt, khẩu trang băng miệng để che cơ quan hô hấp và ngửi thuốc chống khói.
C. Súc miệng, rửa mũi bằng dung dịch natribicarbonat 2% hoặc dung dịch cloramin 0,25 đến 0,5%.
D. Nhanh chóng hô hấp nhân tạo, chuyển về cơ sở điều trị.
Các chất độc thường dùng để diệt cây gồm:
Gồm axit phenoxycacboxilic, chất độc da cam, chất độc trắng, chất độc xanh.
Gồm axit phenoxycacboxilic, chất độc da cam, chất phóng xạ, chất độc kích thích.
Gồm chất độc da cam, chất độc siêu da cam, chất độc phootgien.
Gồm chất độc da cam, chất độc gây bệnh, chất độc yperit.
Đối với người, khi ăn uống phải chất độc diệt cây phải:
Nhanh chóng khử trùng quân tư trang, tẩy độc da, súc miệng nhiều lần.
Nhanh chóng hô hấp nhân tạo, uống thuốc đề phòng, đưa về cơ sở quân y để điều trị.
Nhanh chóng gây ói mửa, rửa dạ dày, đưa về cơ sở quân y để điều trị.
Súc miệng, rửa mũi bằng dung dịch natribicarbonat 2% hoặc dung dịch cloramin 0,25 đến 0,5%.
Ngắm bắn là:
Xác định góc bắn và hướng bắn cho súng để đường đạn đi qua điểm định bắn trên mục tiêu
Hướng thẳng trục nòng súng vào mục tiêu, bóp cò.
Hướng súng vào mục tiêu, tạo cho súng một góc bắn về tầm, hướng, cự ly để đưa quỹ đạo đường đạn vào điểm định bắn.
Điểm được xác định trước sao cho khi ngắm vào đó để bắn, thì quỹ đạo của đường đạn sẽ đi qua điểm định bắn trên mục tiêu.
Đường ngắm cơ bản là:
Là đường thẳng được tính từ đỉnh đầu ngắm, sao cho đỉnh đầu ngắm thẳng với điểm định bắn trên mục tiêu.
Là đường thẳng từ mắt người ngắm qua chính giữa mép trên khe thước ngắm đến điểm định bắn trên mục tiêu, với điều kiện mặt súng không bị nghiêng.
Là đường thẳng từ mắt người ngắm qua chính giữa mép trên khe thước ngắm đến điểm chính giữa mép trên đầu ngắm.
Là đường thẳng được tính từ mắt người bắn qua chính giữa tâm thước ngắm đến mục tiêu.
Điểm ngắm đúng là:
Xác định góc bắng và hướng bắn cho súng để đường đạn đi qua điểm định bắn trên mục tiêu.
Hướng thẳng trục nòng súng vào mục tiêu, bóp cò.
Hướng súng vào mục tiêu, tạo cho súng một góc bắn về tầm, hướng, cự ly để đưa quỹ đạo đường đạn vào điểm định bắn.
Điểm được xác định trước sao cho khi ngắm vào đó để bắn, thì quỹ đạo của đường đạn sẽ đi qua điểm định bắn trên mục tiêu.
Đường ngắm đúng là:
Xác định góc bắng và hướng bắn cho súng để đường đạn đi qua điểm định bắn trên mục tiêu.
Đường ngắm cơ bản được dóng vào điểm ngắm đã xác định với điều kiện mặt súng thăng bằng.
Là dóng súng vào mục tiêu, lấy góc bắn và hướng bắn để đưa quỹ đạo đường đạn vào điểm định ngắm.
Là đường thẳng từ mắt người ngắm qua chính giữa mép trên khe thước ngắm đến điểm chính giữa mép trên đầu ngắm.
Thực chất của lấy đường ngắm cơ bản là:
Là hướng thẳng trục nòng súng vào mục tiêu, bóp cò.
Là đưa đường ngắm đúng đến điểm định bắn trên mục tiêu.
Là tạo cho súng một góc bắn về tầm và hướng.
Là tạo cho súng thăng bằng để bắn trúng mục tiêu.
Thực chất của lấy đường ngắm đúng là:
Là đưa đường ngắm cơ bản đến điểm định ngắm trên mục tiêu.
Là đưa đường ngắm đúng đến điểm định bắn trên mục tiêu.
Là tạo cho súng một góc bắn về tầm và hướng.
Là tạo cho súng thăng bằng để bắn trúng mục tiêu.
Khi bắn súng tiểu liên AK, với góc bắn nào dưới đây đường đạn sẽ đi xa nhất?
Góc bắn = 45°
Góc bắn < 45°
Góc bắn = 35°
Góc bắn > 35°
Điểm bắn đúng là:
Là điểm ngắm chính giữa mép dưới mục tiêu mà đạn đi qua.
Là điểm xác định trước trên mục tiêu mà đường ngắm cơ bản chiếu vào.
Là điểm chạm của súng, đạn trên mục tiêu.
Là điểm đã được xác định trên mục tiêu mà đạn đi qua.
Khi mặt súng bị nghiêng thì điểm chạm của đạn trên mục tiêu:
Không sai lệch.
Nghiêng bên nào lệch bên đó và thấp hơn điểm định bắn.
Nghiêng bên nào lệch bên đó và cao hơn điểm định bắn.
Nghiêng bên nào lệch bên đó nhưng không cao, không thấp.
Với mục tiêu cao, lớn ta chọn thước ngắm, điểm ngắm:
Thước ngắm lớn hơn cự ly bắn, chọn điểm ngắm chính giữa mục tiêu.
Thước ngắm tương ứng với cự ly bắn, chọn điểm ngắm chính giữa mục tiêu.
Thước ngắm tương ứng với cự ly bắn, chọn điểm ngắm chính giữa mép dưới mục tiêu.
Thước ngắm nhỏ hơn cự ly bắn, chọn điểm ngắm chính giữa mép dưới mục tiêu.
Sai đường ngắm cơ bản là:
Sai về góc bắn, cự ly bắn.
Sai về hướng bắn, động tác bắn.
Sai về góc bắn và hướng bắn.
Sai lệch về hướng bắn, góc bắn, cự ly bắn và động tác bắn.
Như thế nào là lấy sai đường ngắm cơ bản:
Đỉnh đầu ngắm ở chính giữa và không ngang bằng với hai mép trên của thành khe ngắm.
Đỉnh đầu ngắm không ở chính giữa và ngang bằng với hai mép trên của thành khe ngắm.
Lấy thước ngắm không đúng, đỉnh đầu ngắm ở chính giữa và ngang bằng với hai mép trên của thành khe ngắm.
Là sai góc bắn, điểm ngắm, đồng thời mặt súng bị nghiêng.
Sai điểm ngắm:
Khi bắn, ngắm sai điểm ngắm bao nhiêu, thì điểm chạm trên mục tiêu sai lệch bấy nhiêu.
Khi bắn, nếu ngắm sai điểm ngắm nhưng đường ngắm cơ bản chính xác, thì điểm chạm trên mục tiêu không sai lệch.
Khi bắn, nếu ngắm sai điểm ngắm, thì cự ly bắn càng xa, độ sai lệch càng lớn.
Khi bắn, ngắm sai điểm ngắm bao nhiêu, thì điểm chạm trên mục tiêu thấp và lệch sang trái so với điểm định bắn trúng bấy nhiêu.
Điểm ngắm đúng là:
Là điểm chiếu thẳng từ mắt người ngắm qua chính giữa mép trên khe thước ngắm đến điểm chính giữa mép trên đầu ngắm.
Là điểm được xác định trước sao cho khi ngắm vào đó để bắn, thì quỹ đạo của đường đạn sẽ đi qua điểm định bắn trên mục tiêu.
Điểm được xác định trước sao cho khi ngắm vào đó để bắn, thì quỹ đạo của đường đạn sẽ đi qua điểm định bắn trên mục tiêu.
Là đường thẳng từ mắt người ngắm qua chính giữa mép trên khe thước ngắm đến điểm định bắn trên mục tiêu, với điều kiện mặt súng không bị nghiêng.
Mặt súng nghiêng là:
Mép trên thành khe ngắm không song song với mặt phẳng ngang.
Mép trên thành khe ngắm song song với mặt phẳng ngang.
Đường ngắm đúng không song song với mặt phẳng ngang.
Điểm ngắm đúng không song song với mặt phẳng ngang.
Khi bắn súng tiểu liên AK, nếu có gió dọc xuôi theo hướng bắn thì:
Làm cho đầu đạn bay thấp và gần hơn.
Làm cho đầu đạn bay cao và gần hơn.
Làm cho đầu đạn bay thấp và xa hơn.
Làm cho đầu đạn bay cao và xa hơn.
Khi bắn súng tiểu liên AK, nếu có gió dọc ngược với hướng bắn thì:
Làm cho đầu đạn bay thấp xuống và gần hơn.
Làm cho đầu đạn bay cao lên và gần hơn.
Làm cho đầu đạn bay thấp xuống và xa hơn.
Làm cho đầu đạn bay cao lên và xa hơn.
Khi bắn súng tiểu liên AK, nếu có gió ngang theo hướng bắn thì ảnh hưởng của gió đến đầu đạn:
Làm cho đầu đạn bay thấp và gần hơn.
Làm cho đầu đạn bay cao và gần hơn.
Làm cho đầu đạn bay lệch hướng theo chiều xuôi hướng gió.
Làm cho đầu đạn bay lệch hướng theo chiều ngược hướng gió.
Khi bắn súng tiểu liên AK, chọn thước ngắm như thế nào thì điểm ngắm và điểm bắn trùng nhau:
Chọn thước ngắm tương ứng với cự ly bắn.
Chọn thước ngắm lớn hơn với cự ly bắn.
Chọn thước ngắm nhỏ hơn với cự ly bắn.
Chọn thước ngắm lớn hơn với cự ly bắn, điểm ngắm chính giữa mép dưới mục tiêu.
Bắn mục tiêu bia số 4, cự ly 100m bằng súng tiểu liên AK, ta thường chọn thước ngắm, điểm ngắm:
Thước ngắm 3, điểm ngắm chính giữa mép dưới mục tiêu.
Thước ngắm tương ứng với cự ly bắn, điểm ngắm chính giữa mục tiêu.
Thước ngắm 1, điểm ngắm chính giữa mép dưới mục tiêu.
Thước ngắm 3, điểm ngắm chính giữa mục tiêu.
Muốn bắn được trúng chụm, khi giương súng phải đạt được các yếu tố:
Bằng, chắc, đều, bền.
Giữ súng chắc, ghì súng chặt, tì vào va
Giữ súng chắc, ghì súng chặt, tì vào vai, không cho súng giật.
Giữ súng chắc, ghì súng chặt, tì vào vai, không cho súng nẩy.
Trong chiến đấu tiến công, từng người hoặc cùng với tổ có thể đánh chiếm một số mục tiêu:
Đánh địch trong ụ súng, lô cốt, chiến hào, giao thông hào, căn nhà, xe tăng, xe bọc thép,tên địch, tốp địch ngoài công sự.
Đánh địch phía trước, hai bên sườn, phía sau trận địa, đánh địch đột nhập, tên địch, tốp địch trong công sự.
Đánh tên, tốp địch trong công sự, đánh xe tăng, xe bọc thép địch, đánh địch đột nhập.
Đánh bại địch tấn công phía trước, hai bên sườn, phía sau trận địa phòng ngự, đánh địch trong ụ súng, lô cốt, xe tăng, xe bọc thép.
Chỉ ra đâu là một yêu cầu chiến thuật “từng người trong chiến đấu tiến công”:
Thiết bị bắn chu đáo, phát huy được hỏa lực ngăn chặn và tiêu diệt địch trên các hướng.
Có quyết tâm chiến đấu cao, chuẩn bị mọi mặt chu đáo để đánh địch liên tục dài ngày.
Bí mật, bất ngờ, tinh khôn, mưu mẹo.
Hiệp đồng chặt chẽ với đồng đội tạo thành thế liên hoàn đánh địch.
Chỉ ra đâu là một yêu cầu chiến thuật “từng người trong chiến đấu tiến công”:
Đánh nhanh, sục sạo kỹ, vừa đánh vừa địch vận.
Hiệp đồng chặt chẽ với đồng đội tạo thành thế liên hoàn đánh địch.
Giữ vững trận địa, tiêu diệt địch nhanh, làm chủ trận địa.
Kiên cường, mưu trí, dũng cảm, chủ động, kiên quyết giữ vững trận địa đến cùng.
Chiến sĩ thường nhận nhiệm vụ chiến đấu từ:
Tiểu đoàn trưởng.
Đại đội trưởng.
Trung đội trưởng.
Tổ trưởng hoặc tiểu đội trưởng.
Trong chiến đấu tiến công, cấp trên thường giao nhiệm vụ cho chiến sĩ ở:
Trên bản đồ địa hình sau đó được bổ sung ngoài thực địa.
Trên sa bàn.
Ngay tại thực địa.
Trên sa bàn hoặc bản đồ địa hình.
Nội dung làm công tác chuẩn bị chiến đấu của từng người trong chiến đấu tiến công gồm:
Xác định vị trí phòng ngự, cách đánh, bố trí vũ khí trang bị, chuẩn bị đầy đủ lương thực, thực phẩm,…
Xác định tư tưởng, ý chí quyết tâm chiến đấu, nhận bổ sung vũ khí, trang bị, thuốc quân y, gói buộc lượng nổ,…
Xác định tư tưởng, cách đánh, bố trí vũ khí, làm công sự, vật cản, đường cơ động, chuẩn bị đầy đủ vật chất đảm bảo cho chiến đấu.
Xác định tư tưởng, ý chí quyết tâm chiến đấu, cách đánh, bố trí vũ khí, làm công sự, vật cản, chuẩn bị vật chất bảo đảm cho chiến đấu.
Trong chiến đấu tiến công, trước khi vận động đến gần địch, chiến sĩ phải:
Quan sát tình hình địch, tình hình ta, xem xét địa hình, thời tiết, vận động theo đường nào, đến đâu, thời cơ và động tác vận động trong từng đoạn, vị trí tạm dừng và cách nghi binh lừa địch.
Quan sát địch, triệt để lợi dụng địa hình, thời tiết, ánh sáng, tiếng động,… để vận dụng các tư thế động tác cho phù hợp, bảo đảm vận động nhanh, bí mật, an toàn, đúng thời gian quy định.
Quan sát địch, thời tiết, địa hình, ánh sáng, luôn giữ đúng đường, đúng hướng, tìm mọi cách tiến đến gần mục tiêu.
Nhanh chóng chuẩn bị súng đạn, lựu đạn, pháo tay,… quan sát nắm tình hình địch và hành động của đồng đội, nắm vững thời cơ tiến công tiêu diệt địch.
Trong chiến đấu tiến công, khi vận động đến gần mục tiêu, chiến sĩ phải:
Phải quan sát địch, ta, địa hình, thời tiết, vận động theo đường nào, đến đâu, thời cơ và động tác vận động, vị trí tạm dừng, cách nghi binh lừa địch.
Phải quan sát địch, triệt để lợi dụng địa hình, thời tiết, ánh sáng, tiếng động,… để vận dụng các tư thế động tác cho phù hợp, bảo đảm vận động nhanh, bí mật, an toàn, đúng thời gian quy định.
Quan sát địch, thời tiết, địa hình, ánh sáng, luôn giữ đúng đường, đúng hướng, nắm vững thời cơ tiến công tiêu diệt địch.
Phải nhanh chóng chuẩn bị súng đạn, lựu đạn, pháo tay,… quan sát nắm tình hình địch, hành động của đồng đội, nắm vững thời cơ để xung phong tiêu diệt địch, chiếm mục tiêu.
Trước khi đánh chiếm mục tiêu (ụ súng hoặc lô cốt), người chiến sĩ phải:
Phải quan sát nắm chắc địch, địa hình xung quanh, đường tiếp cận, hình thù, tính chất mục tiêu, nhanh chóng bí mật vận động đến bên sườn phía sau, dùng lựu đạn ném vào bên trong tiêu diệt địch.
Phải quan sát nắm chắc địch, địa hình xung quanh, đường tiếp cận, hình thù, tính chất mục tiêu, đặc điểm hoạt động, chỗ sơ hở yếu điểm như bên sườn, phía sau,… đồng thời căn cứ vào vũ khí hiện có để xác định cách đánh cho phù hợp.
Triệt để tận dụng kết quả hỏa lực của cấp trên, bí mật vận động đến bên sườn phía sau, dùng lựu đạn ném vào bên trong tiêu diệt địch.
Quan sát địch, thời tiết, địa hình, ánh sáng, luôn giữ đúng đường, đúng hướng, nắm vững thời cơ tiến công tiêu diệt địch.
Một trong những nội dung chiến sĩ phải nhớ kỹ khi nhận nhiệm vụ chiến đấu phòng ngự là:
Phương hướng, vật chuẩn, đặc điểm địa hình nơi phòng ngự.
Tình hình địch.
Thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị, thời gian sẵn sàng đánh địch.
Cả 3 phương án trên.
Trong chiến đấu phòng ngự, sau khi hiểu rõ nhiệm vụ, thứ tự các công việc người chiến sĩ phải làm là:
Xác định vị trí phòng ngự, xác định cách đánh, bố trí vũ khí, làm công sự và vật cản.
Xác định vị trí phòng ngự, làm công sự, bố trí vũ khí, xác định cách đánh.
Làm công sự, bố trí vũ khí, xác định cách đánh, bố trí vật cản.
Làm đường cơ động, đào hố bắn, triển khai súng, lựu đạn sẵn sàng đánh địch tập kích phía trước, bên sườn, phía sau.
Trong chiến đấu phòng ngự, vị trí phòng ngự của từng người bao gồm:
Khu vực trên hướng bắn chính, hướng quan trọng, hướng bổ trợ.
Mục tiêu cần giữ và một số địa hình, địa vật xung quanh.
Hố bắn chính, hố bắn phụ, hào chiến đấu, hào giao thông.
Nơi tiện quan sát, tiện tiêu diệt địch.
Cách đánh của chiến sĩ khi địch tiến công vào trận địa là:
Nhanh chóng dùng vũ khí ngăn chặn, tiêu diệt, đẩy lùi địch từ xa.
Lợi dụng địa hình địa vật, cơ động ra phía trước, hiệp đồng với đồng đội đánh chặn địch từ xa, giữ vững vị trí được giao.
Nắm vững thời cơ, chiếm lĩnh vị trí chiến đấu, chờ địch vào tầm bắn hiệu quả, theo lệnh người chỉ huy, hiệp đồng với đồng đội, tiêu diệt địch, giữ vững vị trí được giao.
Cả 3 phương án trên đều đúng.
Trong chiến đấu phòng ngự, vũ khí bắn thẳng thường được bố trí:
Trên hướng bắn chính.
Phía trước mục tiêu cần giữ để tiêu diệt, ngăn chặn không cho địch đánh chiếm.
Tại hố bắn chính của người chiến sĩ.
Ở nhiều vị trí, nơi phát huy hết uy lực của vũ khí, hiểm hóc, bất ngờ, tiện cơ động đánh địch trong mọi tình huống.
Quy định thứ tự làm công sự trong chiến đấu phòng ngự là:
Hố bắn chính, hố bắn phụ, hào chiến đấu, hào giao thông, các loại hầm ẩn nấp, nghỉ ngơi
Hào giao thông, hào chiến đấu, các loại hố bắn, hầm ẩn nấp, nghỉ ngơi.
Hầm cất giấu vũ khí, lương thực thực phẩm, hố bắn chính, hố bắn phụ, hào chiến đấu, hào giao thông, các loại hầm ẩn nấp, nghỉ ngơi.
Hào chiến đấu, hào giao thông, các loại hố bắn, các loại hầm ẩn nấp, nghỉ ngơi.
Để đảm bảo cho chiến đấu phòng ngự, vật chất từng người phải chuẩn bị:
Dụng cụ và vật liệu xây dựng công sự trận địa.
Các loại vũ khí, trang bị, phương tiện, vật chất.
Lương thực, thực phẩm, thuốc men.
Súng đạn, lựu đạn, mìn.
Khi địch dùng hỏa lực bắn phá nhưng chưa tiến công bằng bộ binh hoặc bộ binh cơ giới, hành động của chiến sĩ là:
Báo cáo với cấp trên, thông báo với bạn, nhanh chóng về vị trí chiến đấu để sẵn sàng đánh địch.
Cơ động về vị trí chiến đấu, củng cố công sự trận địa, báo cáo với cấp trên.
Cơ động ra phía trước sẵn sàng đánh chặn địch ở phía trước trận địa.
Nếu không làm nhiệm vụ trực ban, phải triệt để lợi dụng công sự trận địa, địa hình, địa vật để ẩn nấp, tích cực chủ động quan sát nắm chắc tình hình.
Khi địch tiến công bằng bộ binh hoặc bộ binh cơ giới, hành động của chiến sĩ là:
Cơ động ra phía trước, hiệp đồng với đồng đội đánh chặn địch ở phía trước trận địa.
Bố trí vật cản phía trước trận địa để ngăn chặn địch.
Nhanh chóng, bí mật chiếm vị trí chiến đấu, chờ địch đến gần, nắm vững thời cơ, bất ngờ nổ súng tiêu diệt địch.
Nhanh chóng chiếm vị trí chiến đấu, củng cố công sự trận địa, tăng cường quan sát, tiêu diệt địch trên hướng bắn chính.
Khi bị địch chiếm một phần trận địa, hành động của chiến sĩ là:
Lùi về sau, báo cáo với cấp trên chi viện, phản kích lấy lại phần đất đã mất.
Vòng ra bên sườn, phía sau địch, dùng lựu đạn, thủ pháo, bắn găm, bắn gần, bất ngờ tiêu diệt địch, khôi phục lại trận địa, báo cáo với cấp trên.
Kiên quyết giữ vững phần trận địa còn lại, dùng vũ khí tiêu diệt, ngăn chặn không cho địchphát triển, báo cáo với cấp trên, phối hợp với đồng đội khôi phục lại trận địa.
Tùy theo từng tình huống chiến đấu có thể vận dụng một trong 3 phương án trên.
Sau mỗi lần tiến công bị thất bại, địch thường rút lui về phía sau, hành động của chiến sĩ lúc này là:
Bắn truy kích cho đến khi địch chạy ra ngoài tầm bắn XA NHẤT của vũ khí, phán đoán thủ đoạn tiến công mới của địch, cứu chữa thương binh, củng cố công sự, sẵn sàng đánh địch tiến công tiếp theo.
Củng cố công sự, ngụy trang, phán đoán thủ đoạn tiến công mới của địch, báo cáo cấp trên.
Cơ động đuổi theo truy kích địch, cứu chữa thương binh, thu chiến lợi phẩm, bắt tù binh, hàng binh, báo cáo cấp trên.
Bắn truy kích cho đến khi địch chạy ra ngoài tầm bắn HIỆU QUẢ, phán đoán thủ đoạn tiến công mới của địch, cứu chữa thương binh, củng cố công sự, sẵn sàng đánh địch tiến công tiếp theo.
nghỉ ngơi đây nhé! gáng lên sắp dìa gùi
nô
hoi hong nghỉ nữa học tiếp thui!
