Font size
WorksheetsĐề Giữa Kỳ Tín Chỉ 1
Total questions: 150
Worksheet time: 1hrs 15mins
Thi pháp học là bộ môn nghiên cứu:
Các nguyên tắc sáng tác âm nhạc
Các nguyên tắc sáng tác thơ
Các nguyên tắc sáng tác văn học nói chung
Các nguyên tắc sáng tác văn xuôi
Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học là:
Cách nhìn nhận, suy nghĩ, đánh giá về con người đã hóa thân thành các nguyên tắc nghệ thuật.
Cách nhìn nhận, cách suy nghĩ cách đánh giá về con người
Cách nhìn nhận về con người
Cách suy nghĩ về con người
Chữ "thi pháp" có nguồn gốc từ hiện tượng:
Người cổ đại chỉ coi trọng nghiên cứu thơ
Tất cả các sáng tác văn học thời điểm thi pháp học xuất hiện đều được làm bằng hình thức thơ
Tác phẩm đầu tiên được nghiên cứu có tên là "thi"
Ngẫu nhiên
Thời gian nghệ thuật là:
Thời gian tồn tại riêng của nhân vật
Thời gian được miêu tả trong tác phẩm văn học
Thời gian được miêu tả trong tác phẩm văn học, mang tính quan niệm
Thời gian tồn tại riêng của người kể chuyện
Các giai đoạn của văn học trung đại Việt Nam thường được chia theo các mốc:
Thế kỷ X đến thế kỷ XIV, thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, nửa cuối thế kỷ XIX
Thế kỷ X đến thế kỷ XV, thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, nửa cuối thế kỷ XIX
Thế kỷ X đến thế kỷ XIV, thế kỷ XV đến thế kỷ XVI, thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, nửa cuối thế kỷ XIX
Thế kỷ X đến thế kỷ XIV, thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX.
Thơ thiền là loại hình thơ phổ biến nhất trong giai đoạn:
Văn học nửa cuối thế kỷ XIX
Văn học thế kỷ XV đến thế kỷ XVII
Văn học thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Văn học thế kỷ X đến thế kỷ XIV
Thi pháp học hiện đại hướng đến hoạt động:
Tiếp nhận
Sáng tạo
Quảng bá
Bảo tồn
Theo cách phân chia của Nguyễn Huệ Chi, phú trong văn học trung đại Việt Nam thuộc thể loại:
Tạp văn
Thơ ca
Biền văn
Tản văn
Theo cách phân chia của Nguyễn Huệ Chi, văn thư tín trong văn học trung đại Việt Nam thuộc thể loại:
Biền văn
Tản văn
Tạp văn
Văn xuôi tự sự
Thể nào sau đây thuộc hệ thống thể loại nội sinh
Song thất lục bát
Thất ngôn bát cú
Cổ thể
Chiếu
Thể loại văn học chữ Hán xuất hiện trong văn học trung đại Việt Nam trước hết là để đáp ứng nhu cầu:
Miêu tả hiện thực
Bày tỏ tư tưởng
Thể hiện tâm tình
hoạt động trong đời sống chính trị, xã hội, bang giao.
Thi pháp học ra đời từ:
Thời cận đại
Thời trung đại
Thời cổ đại
Thời hiện đại
Quan niệm về con người có trong:
Nhiều ngành khoa học, có cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
chỉ có trong khoa học tự nhiên
Chỉ có trong khoa học xã hội
Chỉ có trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Việc nghiên cứu thi pháp và khái niệm "thi pháp" trước hết bắt đầu từ:
Các nhà triết học La Mã cổ đại
Các nhà triết học Trung Quốc cổ đại
Các nhà triết học Ai Cập cổ đại
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
Thời trung đại Việt Nam được tính từ
Thế kỷ X đến thế hết kỷ XIX
Thế kỷ V đến thế hết kỷ XV
Thế kỷ X đến thế hết kỷ XVI
Thế kỷ X đến thế hết kỷ XVII
Văn chương Lý - Trần là khái niệm dùng chỉ
Các sáng tác văn chương hai triều Lý - Trần
Các sáng tác văn chương của các tác giả họ Lý và họ Trần
Các sáng tác văn chương của các cao tăng Lý - Trần
Các sáng tác văn chương của các nhà Nho đời Lý - Trần
Cảm hứng chủ đạo của văn học giai đoạn thế kỷ X đến thế kỷ XIV là:
Cảm hứng nhân đạo
Cảm hứng yêu nước
Cảm hứng thế sự
Cảm hứng tôn giáo
Nghệ văn chí là tác phẩm của:
Phạm Quý Thích
Ngô Thì Chí
Lê Quý Đôn
Phạm Nguyễn Du
Cuốn Nghệ thuật thi ca là của:
Aristotles
Socrates
D.Diderot
N.Boileau
Quan niệm nghệ thuật về con người có trong:
Mọi tác phẩm nghệ thuật
Chỉ có trong các tác phẩm văn học
Chỉ có trong các tác phẩm âm nhạc
Chỉ có trong các tác phẩm hội họa
"Bắt chước" học thuyết là học thuyết sáng tác gắn liền với tên tuổi của:
Aristotles
Lưu Hiệp
Phlaton
Socrates
"Văn học trung đại Việt Nam" là khái niệm quen thuộc để chỉ:
Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Văn học viết Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỉ XIX
Văn học viết của người Kinh từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Tác phẩm văn chương được coi là "bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên" của Việt Nam là:
Nam quốc sơn hà
Dụ chư tì tướng hịch văn
Bạch Đằng giang phú
Tụng giá hoàn kinh sư
Tác giả của bài Nam quốc sơn hà là:
Lý Thường Kiệt
Chưa xác định được
Lý Công Uẩn
Trương Hống, Trương Hát.
Cảm hứng chủ đạo của văn học giai đoạn thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX là:
Nhân đạo
Yêu nước
Thế sự
Tôn giáo
Nghệ An văn chí - sách nghiên cứu về văn học Nghệ An - là tác phẩm của:
Phan Huy Ích
Lê Quý Đôn
Ngô Thì Nhậm
Ban Cố
Thứ tự xuất hiện của hệ thống thể loại trong văn học trung đại Việt Nam là:
Hệ thống thể loại ngoại nhập có trước, hệ thống thể loại nội sinh có sau
Hệ thống thể loại nội sinh có trước, hệ thống thể loại ngoại nhập có sau
Cả hai xuất hiện cùng thời điểm
Chưa xác định được
Tác giả của Văn tâm điêu long là:
Khâu Chấn Thanh
Viên Mai
Lưu Hiệp
Lỗ Tấn
Thi pháp là:
Nguyên tắc sáng tác trong văn học nghệ thuật nói chung
Nguyên tắc sáng tác thơ
Nguyên tắc sáng tác tiểu thuyết
Nguyên tắc sáng tác truyện ngắn
Không gian nghệ thuật là:
Không gian được miêu tả trong tác phẩm văn học
Không gian được miêu tả trong tác phẩm văn học, mang tính quan niệm
Không gian tồn tại riêng của nhân vật.
Không gian tồn tại riêng của người kể chuyện
Kiểu tác giả trong sáng tác văn học là:
Nghiên cứu mối quan hệ giữa kiểu, loại hình tác giả với đặc trưng về nội dung tư tưởng và hình thức nội dung của tác phẩm văn học.
Nghiên cứu cứu mối quan hệ, sự chi phối giữa kiểu, loại hình tác giả với đặc trưng về nội dung tư tưởng và hình thức nội dung của tác phẩm văn học.
Mối quan hệ, sự chi phối giữa kiểu, loại hình tác giả với đặc trưng về nội dung tư tưởng và hình thức nội dung của tác phẩm văn học.
Khái niệm nghiên cứu mối quan hệ, sự chi phối giữa kiểu, loại hình tác giả với đặc trưng về nội dung tư tưởng và hình thức nội dung của tác phẩm văn học.
Khi nói đến nhà văn "lúc nào cũng có quyển sổ tay và ngòi bút để ghi lại các tư liệu đời sống" là để chỉ:
Kiểu tác giả lãng mạn
Kiểu tác giả hiện thực
Kiểu tác giả trung đại
Kiểu tác giả hậu hiện đại
"gắn văn với đạo cho cho nên sáng tác là nghiêm túc, kể cả khi đặt thơ trong "cầm, kỳ, thi, tửu" họ cũng đặt "văn" trong quan hệ với "đức" của con người là biểu hiện của
Kiểu tác giả cách mạng
Kiểu tác giả trung cổ phương Tây
Kiểu tác giả cổ điển
Kiểu tác giả trung đại phương Đông
Văn học trung đại Việt Nam gồm có:
Hệ thống thể loại ngoại nhập và hệ thống thể loại nội sinh
Hệ thống thể loại ngoại nhập, hệ thống thể loại nội sinh và hệ thống thể loại hỗn hợp
Hệ thống thể loại ngoại nhập
Hệ thống thể loại nội sinh
Theo cách phân chia của Nguyễn Huệ Chi, thơ tự sự trong văn học trung đại Việt Nam thuộc thể loại:
Biền văn
Thơ ca
Tạp văn
Tản văn
Chức năng ban đầu của phú là:
Tụng ca
Phê phán
Tự tình
Kể chuyện
Chức năng ban đầu của lục bát là
Tụng ca
Giãi bày
Tự sự
Tự biểu hiện
Sự tiếp thu các thể loại chữ Hán của văn học trung đại Việt Nam ban đầu diễn ra ở mức độ:
Toàn diện
Một phần lớn
Một phần nhỏ
Khó đánh giá
Kiểu tác giả văn học là:
Biểu hiện của thái độ của một thế hệ tác giả trước cuộc sống và con người
Sự thể hiện các phẩm chất của một phương pháp sáng tác
Tổng hòa tất cả những đặc điểm loại hình trong quan hệ với thế giới vật liệu đời sống, ngôn ngữ, truyền thống nghệ thuật, sáng tác, tác giả khác, bạn đọc và nhà phê bình văn học
Hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật được nhà văn sử dụng để văn bản có được phẩm chất nghệ thuật.
Theo cách phân chia của Nguyễn Huệ Chi, văn ngữ lục trong văn học trung đại Việt Nam thuộc thể loại:
Tạp văn
Biền văn
Tản văn
Truyện kể
Thể nào sau đây thuộc hệ thống thể loại nội sinh:
Lục bát
Thất ngôn bát cú
Cổ phong
Thất ngôn tứ tuyệt
Đơn vị cơ bản của câu thơ lục bát là:
Hai (2) dòng
Bốn (4) dòng
Ba (3) dòng
Sáu (6) dòng
Thứ tự tiếp nhận các thể loại văn học chữ Hán ở Việt Nam lần lượt là:
Các thể loại sử học và thể loại hành chính, sau đó là truyền kì, tiểu thuyết, thơ, phú.
Các thể loại sử học và các thể loại hành chính, sau đó là các loại thơ, phú và truyền kì, tiểu thuyết
Các thể loại sử học và truyền kì, tiểu thuyết, sau đó là các thể loại hành chính và thơ.
Thơ, sau đó là các thể loại sử học và hành chính, truyền kì, tiểu thuyết, phú.
Nhắc đến kiểu tác giả văn học trung đại là nhắc đến:
Một con người luôn hướng đến các vẻ cao quý, thanh nhã, quy phạm của văn chương.
Một con người luôn tuân thủ các quy phạm sáng tác
Một con người luôn cố gắng dùng văn nghệ để chuyển tải các vấn đề đạo đức, luân lí.
Một con người lí trí, thích mức độ, ưa tao nhã, cao thượng, quy phạm trí thức uyên bác.
"Tác giả trung đại, dù ở phương Đông hay phương Tây", trong một mức độ lớn đều xây dựng tác phẩm của mình bằng công thức tu từ và cốt truyện có sẵn" là nhận định của:
Bakhtin
Likhachop
Riptin
Kundera
Tác giả đầu tiên của văn học chữ Hán Việt Nam là:
Chưa thể xác định
Nguyễn Nhân Khí
Ngô Chân Lưu
Lý Công Uẩn
Tác giả đầu tiên của văn học chữ Hán Việt Nam là:
Chưa thể xác định
Nguyễn Nhân Khí
Ngô Chân Lưu
Lý Công Uẩn
Thông thường, văn học trung đại Việt Nam được chia làm:
Bốn (4) giai đoạn
Hai (2) giai đoạn
Ba (3) giai đoạn
Năm (5) gian đoạn.
"Hào khí Đông A" là khái niệm dùng để chỉ một nét tinh thần đặc trưng của;
Văn học thời Trần
Văn học thời Lê Sơ
Văn học Tây Sơn
Văn học triều Nguyễn
Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về:
Lý luận về văn chính luận của một giai đoạn văn học lịch sử cụ thể.
Lý luận văn học của một giai đoạn văn học lịch sử cụ thể
Lý luận về thơ của một giai đoạn văn học lịch sử cụ thể
Lý luận về thi pháp của một giai đoạn văn học lịch sử cụ thể
Thi pháp học truyền thống là "những cẩm nang sắp xếp những lời dạy" về:
Sự sáng tạo
Sự tiếp nhận
Sự phát hành
Sự bảo tồn
Hệ thống thể loại ngoại nhập trong văn học trung đại Việt Nam trung đại có nguồn gốc chủ yếu từ:
Đông Nam
Ấn Độ
Nhật Bản
Trung Quốc
Theo cách phân chia của Nguyễn Huệ Chi, hịch trong văn học trung đại Việt Nam thuộc thể loại:
Tản văn
Biền văn
Tạp văn
Văn thư tín
Thể nào sau đây thuộc hệ thống thể loại nội sinh
Kệ
Phú
Ngâm khúc
Hịch
Thứ tự xuất hiện của văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm trong văn học Việt Nam chính xác là:
Văn học chữ Hán có trước
Văn học chữ Nôm có trước
Cả hai thứ xuất hiện cùng lúc
Hiện chưa thể xác định
Khái niệm "văn" thời trung đại dùng để chỉ:
Các sáng tác văn học nói chung
Văn chương, học vấn, giáo dục, văn hóa.
Hệ thống thể loại văn học phi quan phương
Thể loại văn
Người được tôn là đại thi hào dân tộc là
Nguyễn Du
Nguyễn Trãi
Cao Bá Quát
Nguyễn Công Trứ
Đặng Dung là tác giả của bài thơ nào dưới đây
Cảm hoài
Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão
Ngôn hoài - Không lộ thiền sư
Tính hoài
"Chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hoang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích về thơ thanh cao, chí ở chỗ uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thi làm ra điệu thơ ai oán". Đoạn lập luận trên hàm ý bàn về:
Tiếp nhận thi ca
Sáng tạo ca
Nhân cách, cá tính của con người
Đánh giá thi ca
"Người làm văn quý ở mực thước, thanh nhã, hồn nhiên, biết nắm lấy cái thực làm cốt tử, rồi dùng đẹp để trang sức thêm, làm thơ cũng phải như thế" là nhằm ý:
Đề cao cái thực và phủ nhận cái mỹ
Đề cao cái mỹ
Đề cao cả hai
Đề cao cái thực và khuyến khích cái mỹ
Số bài thơ chữ Nôm hiện còn của Nguyễn Trãi là:
254
255
256
257
Tác giả của Chinh phụ ngâm khúc là:
Đoàn Thị Điểm
Đặng Trần Côn
Phan Huy Ích
Cao Bá Nhạ
Việt điện u linh là sách ghi chép lại:
Lịch sử triều đại
Chuyện cao tăng
Lai lịch chư thần
Các chuyện kỳ lạ nói chung
"Người dùng nghệ thuật như một vũ khí để thay đổi xã hội" là cách nói để chỉ:
Kiểu tác giả cách mạng
Kiểu tác giả hiện thực
Kiểu tác giả lãng mạn
Kiểu tác giả cổ điển
Tác giả văn học trung đại Việt Nam xuất hiện
Đồng thời với nền văn học dân tộc viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
Đồng thời với nền văn học dân tộc viết bằng chữ Nôm
Đồng thời với nền văn học dân tộc
Đồng thời với nền văn học dân tộc viết bằng chữ Hán
"Thiên cổ hùng văn" là cụm từ dùng để ca ngợi:
Bình Ngô Đại cáo
Dụ chư tỳ tướng hịch văn
Bạch Đằng giang phú
Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc
Câu thơ "Tam vạn quyển thư vô dụng xứ
Bạch đầu không phụ ái dân tâm" Là của:
Nguyễn Trãi
Nguyễn Phi Khanh
Trần Nguyên Đán
Hồ Quý Ly
"Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập
Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm"
Nhân dân bốn cỏi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào
Là hai câu trong bài:
Bình Ngô đại cáo
Dụ chư tì tướng hịch văn
Bạch Đằng giang phú
Chí Linh sơn phú
"Các nhà thơ đều có sở trường riêng. Người đài các thị tụng thì thơ êm ái dồi dào; kẻ ở nơi quán thành biên thú thì thơ hoang lạnh mà hào tráng" là nhận định của
Cao Bá Nhạ
Ngô Thì Sĩ
Phan Huy Chú
Lê Quý Đôn
Thơ Thiền thường thể hiện:
Miêu tả cảnh vật với quan niệm sắc là không, không là sắc
Tuyên truyền Phật pháp
Sự ngộ đạo, biểu hiện thiền lí, thiền thú và thiền cảnh
Khuyến thiện trừng dâm
"Thiên cổ kỳ bút" là cụm từ dùng để ca ngợi:
Truyền kỳ mạn lục
Lục Vân Tiên
Chinh phụ ngâm
Cung oán ngâm khúc
Bui một tấc lòng trung liễn hiếu
Mài chăng… nhuộm chăng đen
Vẹt
Khuyết
Sắc
Héo
"Văn là gì? Văn là vẻ đẹp. Chương là gì? Chương là vẻ sáng. Lời của người ta rực rỡ, bóng bẩy, tựa như ta có vẻ đẹp vẻ sáng, cho nên gọi là văn chương" là câu được trích dẫn từ
Việt Nam văn học
Vân Đài loại ngữ
Việt Hán văn khảo
Chương Dân thi thoại
Các nhà thơ trung đại hết sức đề cao cái thực, cái trung hậu là chính, xem cái đẹp, cái điểm tô là cái phụ, cái thêm vào, vì:
Do bản chất lương thiện
Do hạn chế về tưởng tượng
Do họ coi thường những điều hoa mỹ
Do làm thơ lấy việc tỏ lòng là chính
Nhà thơ trung đại Việt Nam làm thơ ngôn chí là để
Bày tỏ tình cảm với đất nước
Biểu hiện tình cảm thật, thân phận thật của mình
Bày tỏ tình cảm đối với vua
Bày tỏ tình cảm với nhân dân
Thiền uyển tập anh là sách ghi chép về:
Các cao tăng
Các thần
Các anh hùng
Các vua chúa
Việt điện u linh là sách được biên soạn vào:
Đời Trần
Đời Lý
Đời Đinh
Đời Tiền Lê
Hiệu úy Uy mãnh Anh liệt Phụ tín đại vương là truyện kể về:
Trần Hưng Đạo
Lý Thường Kiệt
Lý Ông Trọng
Cao Lỗ
Tư tưởng chính của Chuyện hai ông Phật cãi nhau là:
Phê phán những kẻ nói đạo đức mà không có hành động gì thực tế giúp đời
Bày tỏ thái độ ruồng rẫy Phật giáo
Hạ thấp Phật giáo, qua đó ngầm đề cao Nho giáo
Chỉ là chuyện phiếm để giải trí
Truyền kỳ mạn lục được viết vào:
Thế kỷ XVI
Thế kỷ XVII
Thế kỷ XVIII
Thế kỷ XV
Sự không nhất thiết xuất hiện của chất thực lục trong các tác phẩm truyền kỳ trung đại chứng tỏ sự thắng thế của
Văn học
Lịch sử
Triết học
Văn hóa
Truyện hoa tiên là của:
Nguyễn Huy Nhu
Nguyễn Huy Oánh
Nguyễn Huy Tự
Nguyễn Huy Nhuận
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Thúy Kiều gảy đàn tất cả:
9 (chín) lần
8 (tám) lần
7 (bảy) lần
10 (mười lần)
Câu thơ sau đây là của ai: Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược Có nhân, có trí, có anh hùng
Nguyễn Trãi
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trần Nguyên Đán
Nguyễn Bểu
Câu thơ Hoành sóc giang san cáp kỉ thâu diễn đạt ý
Công lao của nhân vật trữ tình
Tư thế cụ thể của nhân vật trữ tình
Hành động của nhân vật trữ tình
Tư thế, tầm vóc sử thi của nhân vật trữ tình
Các nhan đề bài thơ như Đêm thu khách cảm (Thu dạ khách cảm), Sau loạn đến Côn Sơn cảm tác (Hậu loạn đáo Côn Sơn cảm tác), Đêm đậu thuyền ở Lâm Cảng (Lâm Cảng dạ bạc), Làm trong thuyền hộ giá tiết thượng nguyên (Thượng nguyên họ giá chu trung tác), Xem duyệt thủy trận (Quan duyệt thủy trận)… cho thấy điều gì ở thơ trung đại:
Rất chú trọng ghi chép cảm xúc trong mối quan hệ với không gian, thời điểm tâm trạng, là biểu hiện của việc bộc lộ tình cảm và thân phận cá nhân
Ưa tả cảnh vì người xưa thường dùng cảnh để ngụ tình
Đánh dấu kỷ niệm vì người xưa thiếu phương tiện, ít có cơ hội xê dịch
Chú trọng tính chân thật của sự việc do quan niệm văn dĩ tải đạo.
Người được mệnh danh "Bà chúa thơ Nôm" là:
Hồ Xuân Hương
Đoàn Thị Điểm
Bà Huyện Thanh Quan
Nguyễn Thị Lộ.
Lĩnh Nam chích quái là sách ghi chép:
Hành trạng vua chúa
Những truyện kỳ lạ
Chuyện về thần
Sự tích anh hùng
Tác giả của Thiền uyển tập anh là:
Chưa rõ
Lý Tế Xuyên
Vũ Quỳnh
Kiều Phú
Trong bài tựa Lĩnh Nam chích quái, Vũ Quỳnh xem các bài viết "là sử trong truyện chăng". Điều đó thể hiện đặc điểm nào của văn học trung đại:
Tính nguyên hợp
Tính sùng cổ
Tính quy phạm
Tính phi ngã
Truyền kỳ mạn lục là sáng tác của
Nguyễn Dữ
Đoàn Thị Điểm
Phạm Đình Hổ
Phạm Thái
Giá trị nội dung cơ bản của Thánh Tông di thảo là:
Bày tỏ lòng yêu nước thương dân
Ghi lại được những chuyện về thần tiên ma quái
Những ghi chép về hiện thực
Những dụ ngôn sâu sắc
Số tác phẩm của Nguyễn Dữ được biết cho đến ngày nay?
1 (một)
2 (hai)
3 (ba)
4 (bốn)
Việc dựa vào kinh nghiệm, cảm thụ và tri thức về đời sống để tạo ra một thế giới sống trong nghệ thuật bắt đầu ở giai đoạn thứ mấy trong văn học Việt Nam trung đại?
Giai đoạn thứ ba
Giai đoạn thứ hai
Giai đoạn thứ nhất
Không có
Truyện Kiều của Nguyễn Du là trường hợp
Sáng tạo mới trên cơ sở cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân.
Phỏng tác từ cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân.
Sao chép có chỉnh sửa Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân.
Chuyển thể từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân
Sự quan tâm đến thân phận con người phổ biến trong văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ:
Thế kỷ XVII
Thế kỷ XVI
Thế kỷ XIX
Thế kỷ XVIII
Người kết hợp một cách tài tình cả hai thể Hán - Nôm trong sáng tạo thơ ca, với những tác phẩm đặc biệt dù di sản văn chương còn lại không nhiều là:
Bà Huyện Thanh Quan
Hồ Xuân Hương
Nguyễn Thị Lộ
Đoàn Thị Điểm
Tác giả của Lĩnh Nam chích quái là:
Trần Thế Pháp
Vũ Quỳnh
Kiều Phú
Lý Tế Xuyên
Thiền uyển tập anh ra đời vào:
Đời
Đời Trần
Đời Tiền Lê
Đời hậu Lê
Tác giả của Việt điện u linh là:
Lý Tế Xuyên
Trần Thế Pháp
Vũ Quỳnh
Kiều Phú
Chuyện người con gái Nam Xương thể hiện:
Sự quan tâm đến số phận người phụ nữ trong thời đại gia trưởng
Sự quan tâm đến người phụ nữ nói chung
Sự quan tâm đến số phận người phụ nữ làm lẽ
Sự quan tâm đến số phận người phụ nữ mất chồng
Chữ "Thẹn" trong Bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão thể hiện:
Sự thất vọng về bản thân
Khát vọng công danh
Sự thất vọng trước hiện thực cuộc sống
Sự thất vọng trước thực trạng triều đình
Truyện Tử Hư lên chơi thiên tào thuộc tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục
Thánh Tông di thảo
Truyền kỳ tân phả
Tang thương ngẫu lục
Việc dựa vào kinh nghiệm, cảm thụ và tri thức về đời sống để tạo ra một thế giới sống trong nghệ thuật bắt đầu ở giai đoạn nào của văn học Việt Nam trung đại?
Thế kỷ XVIII đến hết thế kỉ XIX
Thế kỷ XV đến hết thế kỉ XVII
Thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV
Nửa cuối thế kỷ XIX
"Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tả sự đã khéo, có tâm tình tha thiết… Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, thương tiếc những người tài gặp trắc trở, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái 'lục phong tình' thì cũ, mà cái tiếng 'đoạn trường' thì lại là cái tiếng mới vậy" là nhận xét của:
Lê Quý Đôn
Phạm Quý Thích
Nguyễn Đăng Tuyển
Phan Huy Ích
"Nhà văn trung đại không sáng tạo ra cốt truyện, anh ta dường như chỉ kể lại và tổ hợp các mô típ đã có từ lâu bằng văn xuôi hoặc văn vần." là nhận định của:
B.A.Gripốp
N.Konrat
A. Ja Gurevich
N.I.Culin
Khi nói đến kiểu tác giả mơ màng, giàu tưởng tượng là nói đến:
Kiểu tác giả lãng mạn
Kiểu tác giả hiện thực
Kiểu tác giả cổ điển
Kểu tác giả cách mạng.
Khi nói đến kiểu tác giả xem sáng tác 'là công việc trân trọng, thành kính', Riptin muốn nhắc đến:
Kiểu tác giả trung đại
Kiểu tác giả cổ điển
Kiểu tác giả dân gian
Kiểu tác giả thiền
Theo nghĩa rộng, văn trung đại Việt Nam là khái niệm chỉ:
Văn học quan phương, hành chính, hành đạo, học thuật, làm theo chức trách, phận vị, liên can đến đời sống nhà vua và thần dân
Văn học phi quan phương, gồm các tác phẩm mang tính nghệ thuật
Các sản phẩm văn hóa tinh thần được thể hiện bằng văn tự nói chung
Văn học quan phương, hành chính, hành đạo, học thuật, làm theo chức trách, phận vị, liên can đến đời sống nhà vua và thần dân, văn học phi quan phương, và tất cả các tác phẩm mang tính nghệ thuật
Chữ nào còn thiếu trong câu thơ: "… tâm thượng quang khuê tảo"
Ức Trai
Thanh Hiên
Chu An
Xuân Hương
Câu thơ sau thuộc bài thơ nào của Nguyễn Trãi Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông
Thuật hứng (5)
Trại đầu xuân độ
Thính vũ
Mạn thuật
"Chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hoang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích về thơ thanh cao, chí ở chỗ uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thi làm ra điệu thơ ai oán" Nhận định trên là của:
Ngô Thì Nhậm
Lê Quý Đôn
Phùng Khắc Hoan
Phan Huy Ích
Năm sinh của Trương Hán Siêu là:
Chưa xác định được
1254
1255
1256
Câu thơ "Đầu tiếc đội mòn khăn Đỗ Phủ" trong bài Mạn thuật, số 9 (Nguyễn Trãi) nhằm diễn tả ý:
Tiếc là đã lỡ mang nỗi niềm, tư tưởng nhà nho, dấn thân vào chốn quan trường với khát vọng kinh bang tế thế.
Tiếc là đã bắt chước lối hành xử, lối sống của Đỗ Phủ khiến lòng thương dân không bao giờ nguôi ngoai.
Tiếc là như Đỗ Phủ, sinh ra nhằm thời loạn lạc, mà bất lực trước thời cuộc, đành dùng khăn lau nước mắt của tấm lòng thương dân.
Là một tuyên ngôn nghệ thuật của tác giả.
Tên gọi tập thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm là:
Bạch Vân Am thi
Bạch Vân quốc ngữ thi
Bạch Vân Am thi tập
Bạch Vân quốc ngữ thi tập
Ý nghĩa của hình tượng cành mai trong câu thơ:
"Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai" là:
Là hình tượng vô ngôn của niềm lạc quan vô biên mà tĩnh tại
Là biểu hiện của niềm cảm khái trước vẻ đẹp rạng rỡ của mùa xuân qua cành mai buổi sớm
Là ẩn dụ của tinh thần luôn hướng về phía bình minh
Là ẩn dụ về một dân tộc trong buổi bình minh của kỷ nguyên độc lập
Cao Bá Quát thuộc kiểu tác giả:
Nhà nho tài tử
Nhà nho quân tử
Thiền tông
Không thuộc kiểu nào
Trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục, chất "thực lục" của sử học là:
Rất đậm đặc
Vừa phải
Đậm đặc
Không có
Nên hiểu hai câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau
Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao:
Nói về hằng sản địa phương
Miêu tả hiện thực cuộc sống của chủ thể trữ tình trong tình thế nghèo khốn, nơi hẻo l
Nói về vẻ đẹp cuộc sống và thiên nhiên nơi thôn dã
Cách nói ước lệ về vòng thời gian và cách ứng xử của một người lựa chọn cảnh sống "nhàn"
Chọn phương án trả lời chính xác nhất Chữ còn thiếu trong đoạn hịch của vua Quang Trung khi ra Bắc đánh đuổi quân Thanh xâm lược nước ta là: "Đánh cho để dài tóc Đánh cho để đen răng Đánh cho chúng chích luân bất phản Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn Đánh cho (…) tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ"
Sứ
Sử
Xứ
Xử
Chọn phương án trả lời chính xác nhất Câu thơ sau đây thuộc bài thơ: Thế sự du du nại lão hà Vô cùng thiên địa nhập hàm ca (Việc đời trôi mãi mà ta già rồi Trời đất mênh mông nhập vào trong một bài hát)
Cảm hoài
Thuật hoài
Ngôn hoài
Tình hoài
Chọn phương án trả lời chính xác nhất Tử Mỹ được nhắc tới trong hai câu thơ Tử Mỹ cô trung Đường nhật nguyệt Bá Nhân song lệ Tấn sơn hà là:
Lý Bạch
Đỗ Phủ
Thôi Hiệu
Mạnh Hạo Nhiên
Chọn phương án trả lời chính xác nhất Năm sinh của Nguyễn Trãi là
1380
1381
1382
1383
Tác phẩm được xem là đỉnh cao nghệ thuật của phú chữ Hán trong văn học Việt Nam là
Tụng Tây hồ phú
Chí Linh sơn phú
Bạch Đằng giang phú
Chiến Tụng Tây hồ phú
Người nhận định Văn chính luận của Nguyễn Trãi "có sức mạnh hơn mười vạn quân" là:
Ngô Thì Nhậm
Lê Quý
Phan Huy Chú
Ngô Thì Du
Ai là tác giả của câu thơ sau đây?
Văn chương chép lấy đòi câu thánh
Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung
Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược
Có nhân có trí có anh hùng
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Lê Thánh Tông
Trần Nhân Tông
Nguyễn Trãi
Người nhận định Nguyễn Trãi “có tài viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời” là:
Phan Huy Ích
Lê Quý Đôn
Phạm Nguyễn Du
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Điểm “thất luật” của bài cây chuối là
(CÂY CHUỐI)
(Nguyễn Trãi)
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm
Đầy buồng lạ mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem)
“Lỗi” về số câu
“Lỗi” về số chữ
“Lỗi” về hiệp vần
“Lỗi” về đối
Câu thơ sau đây thuộc bài thơ nào?
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
(Chọn được mảnh đất long xà là nơi có thể ở được
Tình cảm nơi làng quê vui vẻ suốt ngày
Tình hoài
Thuật hoài
Ngôn hoài
Cảm hoài
Hình tượng cung nữ, chinh phụ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm
Là những hình tượng được sáng tạo mới hoàn toàn trên cơ sở những sự việc, kinh nghiệm và tâm trạng của thời đại, gần như là sản phẩm hư cấu của nghệ thuật thuần túy.
Là sản phẩm sao chép từ hình mẫu trong nhạc phủ và thơ Đường, thơ Tống nhưng đã được Việt hóa cho phù hợp với tâm lí tiếp nhận bản địa.
Là sản phẩm sao chép từ hình mẫu trong nhạc phủ và thơ Đường, thơ Tống.
Tuy có sử dụng chất liệu trong nhạc phủ, thơ Đường, Tống nhưng là những hình tượng được sáng tạo mới hoàn toàn trên cơ sở những sự việc, kinh nghiệm và tâm trạng của thời đại, gần như là sản phẩm hư cấu của nghệ thuật thuần túy.
Hai câu thơ sau
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
là của:
Trần Thái Tông
Trần Nhân Tông
Trần Thánh Tông
Trần Minh Tông
Các bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan gồm
Qua đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà, Thăng long thành hoài cổ, Qua chùa Trấn Bắc
Qua đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà, Thăng long thành hoài cổ
Qua đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà
Chiều hôm nhớ nhà, Thăng long thành hoài cổ, Qua chùa Trấn Bắc
Cả 4 bài
Cảm hứng nổi bật của bài Bạch Đằng giang phú là
. Ca ngợi cảnh đẹp hùng vĩ của non sông đất nước và thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết.
Tụng ca những chiến công lịch sử trên sông Bạch Đằng và tà năng của những người làm nên chiến thắng
Thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào về truyền thống anh hùng, truyền thống nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam
Sự bùi ngùi trước vẻ đẹp lãng mạn, tráng lệ nhưng buồn thảm của mùa thu và nỗi hoài nhớ về những anh hùng đã khuất.
Tác giả của câu thơ
Sầu nặng Thiếu Lăng, biên đã bạc
Hứng nhiều Bắc Hải chén chưa không
là:
Nguyễn Du
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Trãi
Lương Thế Vinh
Quê hương của Đặng Trần Côn, tác giả của Chinh phụ ngâm khúc, hiện nay thuộc:
Phường Phương Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội
Phường Láng Trung, Đống Đa, Hà Nội
Phường Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội
Phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội
“Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩa phải hàm súc, lời thơ phải giản dị. Còn việc tô điểm cho đẹp đẽ, trau dồi cho khéo lạ lùng… chỉ nên coi là việc thừa của năm mối” là phát ngôn của:
Lê Quý Đôn
Phan Huy Chú
Chu Văn An
Nguyễn Cư Trinh
Số bài thơ chữ Hán hiện còn của Nguyễn Trãi là:
100
102
99
101
Tác giả của Cung oán ngâm khúc là
Nguyễn Du
Đoàn Thị Điểm
Đặng Trần Côn
Nguyễn Gia Thiều
Bài tựa Lĩnh Nam chích quái là của
Vũ Quỳnh
Trần Thế Pháp
Kiều Phú
Lý Tế Xuyên
Lĩnh Nam chích quái được biên soạn vào:
Đời Lý
Đời Lê Sơ
Đời Trần
Đời Lê Trung Hưng
“Lỗi” của câu thơ
Phận hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
là:
Lỗi ngắt dòng
Lỗi hài thanh
Lỗi về số câu
Lỗi ngắt nhịp
Truyện Nhị Trưng phu nhân thuộc sách:
Lĩnh Nam chích quái
Việt Điện u linh
Truyền kỳ mạn lục
Thiền uyển tập anh
Chuyện hai ông Phật cãi nhau thuộc tác phẩm:
Truyền kỳ mạn lục
Tang thương ngẫu lục
Vũ trung tùy bút
Thánh tông di thảo
Tên gọi chính xác bài Hịch của Trần Quốc Tuấn là:
Hịch tướng sĩ
Dụ chư tì tướng hịch văn
Hịch tướng sĩ văn
Dụ tỳ tướng hịch văn
“Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tả sự đã khéo, có tâm tình tha thiết… Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, thương tiếc những người tài gặp trắc trở, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái “lục phong tình” thì cũ, mà cái tiếng “đoạn trường” thì lại là cái tiếng mới vậy”.
Nhận định trên
Không thỏa đáng vì Truyện Kiều là sáng tạo mới trên cơ sở cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân
Thỏa đáng vì Truyện Kiều đúng là bản dịch từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân
Nhìn chung thỏa đáng vì các nhận định cơ bản chính xác nhưng có chỗ không thỏa đáng: Truyện Kiều không phải là bản dịch mà là sáng tạo mới trên cơ sở cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân
Thỏa đáng vì các nhận định đều chính xác.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
Tiếp thu hoàn toàn tư tưởng Nho giáo
Là sự kế tiếp thu những điểm ưu việt của tư tưởng nho giáo, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn hành động, thực tiễn cuộc sống và tình cảm của người Việt
Tiếp thu tư tưởng Nho giáo, kết hợp tư tưởng Lão – Trang
Tiếp thu tư tưởng Nho giáo, kết hợp với Phật giáo
Nên hiểu câu thơ sau trong bài Cảm hoài (Đặng Dung) như thế nào:
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Quan niệm về số phận con người
Thể hiện tư tưởng thiên mệnh
Thể hiện quan niệm “tài mệnh tương đố”
Thể hiện nỗi đau tâm trạng bất lực trước thời cuộc
Truyện Kiều có tất cả:
3256 câu
3254 câu
3255 câu
3253
Tác giả của Quốc âm thi tập là
Nguyễn trãi
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trần Nhân Tông
Lê Thánh Tông
Tác giả của câu thơ
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
là:
Không Lộ Thiền sư
Mãn Giác Thiền sư
Tuệ Trung Thượng sĩ
Quảng Nghiêm Thiền sư
