Font size
WorksheetsGHK1 KTPL 12 năm 24-25 | Link 2
Total questions: 28
Worksheet time: 52mins
Đọc thông tin và trả lời câu hỏi: Hiệp định thương mại EVFTA được ký kết giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) là biểu hiện của hình thức hợp tác
Đọc thông tin và trả lời câu hỏi: Thông tin trên đề cập đến sự tác động tích cực của phát triển kinh tế đến việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nội dung nào dưới đây?
Đọc thông tin và trả lời câu hỏi: Nội dung nào dưới đây vừa là chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế xã hội vừa nội dung cơ bản của chính sách an sinh xã hội được thể hiện trong thông tin trên?
Đọc thông tin và trả lời câu hỏi: Nội dung nào dưới đây thể hiện ý nghĩa của phát triển kinh tế đối với việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội của nhà nước ta?
Đọc thông tin và trả lời câu hỏi: Nguyên nhân cơ bản giúp Việt Nam có tiềm lực để hoàn thành các mục tiêu Thiên niên kỷ được đề cập trong thông tin trên bắt nguồn từ
Đọc thông tin và trả lời câu hỏi: Loại hình bảo hiểm mà chị T tham gia là loại hình
Đọc thông tin và trả lời câu hỏi: Nội dung nào dưới đây vừa thể hiện vai trò của bảo hiểm vừa thể hiện vai trò của chính sách an sinh xã hội đối với người lao động?
Đọc thông tin và trả lời câu hỏi: Nội dung nào dưới đây không thể hiện vai trò của bảo hiểm đối với chị T?
Đọc đoạn thông tin sau và CHỌN NHỮNG ĐÁP ÁN ĐÚNG:
Quy mô nền kinh tế Việt Nam ngày càng mở rộng, GDP/người và GNI/người tăng liên tục trong nhiều năm. Năm 1991, GNI/người đạt 110 USD/người, tăng lên 4010 USD/người năm 2022. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyến dịch tích cực theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp trong GDP và giảm tỉ trọng lao động ngành nông nghiệp trên tổng lao động xã hội. Tỉ trọng giá trị sản lượng của ngành công nghiệp - xây dựng trong GDP tăng từ 33,02% năm 2010 lên 38,17% năm 2022: tỉ trọng lao động trong nông nghiệp giảm từ 73,2% năm 1990 xuống còn 27,5% vào năm 2022. Đến năm 2022 số lao động có việc trong các ngành kinh tế là 50,6 triệu người, tăng 1.532,7 nghìn người so với năm 2021. Năm 2021, số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 16.546,8 nghìn người, tăng 2,4% so với năm 2020; có 88.837,2 nghìn người tham gia bảo hiểm y tế, tăng 1% và có 13.394,9 nghìn người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, tăng 0,5% so với năm 2020. Năm 1990, HDI của Việt Nam đạt 0,477 điểm, đến năm 2022 là 0,703 điểm; tuổi thọ trung bình đã gắn tiệm cận mục tiêu 75 tuổi. Tuy trình độ phát triển con người có sự cải thiện nhưng chưa thực sự ổn định và thiếu bền vững, Việt Nam vẫn là quốc gia có điểm số HDI thấp nhất trong nhóm các quốc gia có HDI cao, xếp thứ 115/191 (năm 2021) quốc gia và vùng lãnh thổ.
Tốc độ tăng trưởng GDP tỷ lệ thuận với GDP/ người nhưng tỷ lệ nghịch với chất lượng sống của người dân.
Chỉ số phát triển con người xếp 115/191 quốc gia và vùng lãnh thổ phản ánh vai trò của chính sách an sinh xã hội của nước ta chưa thực sự hiệu quả còn mang tính hình thức.
Thông tin trên thể hiện Việt Nam đã và đang thực hiện phương châm phát triển bền vững, không đánh đổi mục tiêu tăng trưởng mà bỏ qua các vấn đề xã hội.
Thông tin trên cho thấy tốc độ phát triển kinh tế tỷ lệ nghịch với việc phát triển bền vững và thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Đọc đoạn thông tin sau và CHỌN NHỮNG ĐÁP ÁN ĐÚNG:
Trong những năm qua, sản xuất và xuất khẩu nông sản đã tạo nên những dấu ấn quan trọng, giúp khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ xuất khẩu nông sản thế giới. Nếu năm 2010, các mặt hàng nông sản chính được xuất khẩu đến 72 quốc gia và vùng lãnh thổ, thì đến năm 2020 đã được xuất khẩu đến 180 quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong đó, hai thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ (chiếm 27,46% tổng giá trị xuất khẩu năm 2020) và Trung Quốc (chiếu 20,9%). Cùng thời gian này, Việt Nam còn xuất khẩu nông sản sang các thị trường đối tác lớn khác như EU (9,15%), ASEAN (8,58%), Nhật Bản (8,34%), Hàn Quốc (5,02%), Anh (2%), Úc (1,68%), Canada (1,62%).
Xuất nhập khẩu hàng hóa nông sản là một hình thức cơ bản của hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế là nhân tố quyết định đến kết quả xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020.
Việt Nam và Hoa kỳ đã ký kết một số hiệp định thương mại về xuất khẩu hàng hóa là biểu hiện của hình thức hội nhập khu vực.
Phát triển kinh tế của Việt Nam chỉ dựa vào xuất khẩu nông sản là sự phát triển không bền vững và không đóng góp chung vào GDP cho nền kinh tế.
Đọc đoạn thông tin sau và CHỌN NHỮNG ĐÁP ÁN ĐÚNG:
Chị T có 2 con nhỏ trong đó cháu thứ hai không may bị bệnh bẩm sinh, chồng mất sớm khiến gia đình gặp nhiều khó khăn. Sau khi nộp hồ sơ xin việc, chị được nhận vào làm nhân viên kế toán cho công ty H. Chị đã kí hợp đồng làm việc xác định thời hạn với công ty và đã đóng bảo hiểm thất nghiệp được 5 năm theo quy định của Luật Việc làm. Khi công việc kinh doanh khó khăn, chị T bị chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn do công ty cắt giảm nhân viên. Vì chưa tìm được việc làm mới, đời sống khó khăn, chị T đã đến Trung tâm Dịch vụ việc làm trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để nộp hồ sơ nhận bảo hiểm thất nghiệp và được thanh toán tiền hỗ trợ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định. Biết được hoàn cảnh của chị, Ngân hàng chính sách xã hội huyện đã hỗ trợ chị vay vốn để chuyển đổi nghề nghiệp, phòng Lao động và thương binh xã hội Huyện đã lập danh sách con gái thứ 2 của chị vào diện được hưởng trợ cấp hàng tháng nhằm giảm bớt khó khăn cho gia đình chị.
Hoạt động hỗ trợ con gái của chị T bị bệnh bẩm sinh là phù hợp với chính sách trợ giúp xã hội trong hệ thống các chính sách an sinh xã hội của nhà nước.
Ngân hàng chính sách xã hội huyện hỗ trợ chị T vay vốn chuyển đổi nghề nghiệp là phù hợp với chính sách an sinh xã hội về đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản.
Khoản tiền hưởng trợ cấp thất nghiệp mà chị T được hưởng giúp chị tạm thời ổn định cuộc sống và có thể tiếp tục tìm kiếm việc làm mới trong thời gian thất nghiệp.
Loại hình bảo hiểm thất nghiệp mà chị T tham gia là loại hình bảo hiểm thương mại, mang tính tự nguyện tự thỏa thuận.
Đọc đoạn thông tin sau và CHỌN NHỮNG ĐÁP ÁN ĐÚNG:
Nhờ sự hội nhập quốc tế, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng mạnh qua các năm, từ 10 tỉ USD (năm 1995) lên 38 tỉ USD (năm 2019). Năm 2019, Việt Nam xếp thứ 21 về thu hút vốn FDI toàn thế giới, đứng thứ ba ở khu vực, chỉ sau Singapore và Indonesia. Khu vực FDI góp phần không nhỏ trong việc tạo việc làm cho người lao động. Theo Tổng cục Thống kê (2019), kết quả Điều tra Lao động - Việc làm quý 1/2019, khu vực doanh nghiệp FDI đã và đang tạo công ăn việc làm cho 3,8 triệu người lao động, chiếm trên 7% trong tổng lực lượng lao động (trên 54 triệu lao động), chiếm trên 15% trong tổng lao động làm công ăn lương (25,3 triệu người) ở Việt Nam. Bên cạnh tạo việc làm trực tiếp, khu vực FDI cũng gián tiếp tạo việc làm cho rất nhiều lao động trong các ngành công nghiệp phụ trợ hay các doanh nghiệp khác nằm trong chuỗi cung ứng hàng hoá cho các doanh nghiệp FDI.
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài là kết quả của việc thực hiện các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế.
Hoạt động thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài là kết quả của hình thức hợp tác song phương.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vừa có tác động tích cực đồng thời cũng tiềm ẩn nhưng hệ lụy tiêu cực đối với hệ thống an sinh xã hội ở nước ta hiện nay.
