Font size
WorksheetsÔn Tập Cuối HKII Môn GDKTPL 12
Total questions: 64
Worksheet time: 34mins
Hành vi nào sau đây vi phạm quyền và nghĩa vụ của công dân về bảo vệ di sản văn hóa?
Mua bán, tàng trữ cổ vật trái phép.
tham gia lễ hội văn hóa của dân tộc.
bảo tồn di tích lịch sử của địa phương.
giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa.
Hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đại diện cho nhà nước thực hiện sự giúp đỡ về mọi mặt cho công dân nước mình đang ở nước ngoài được gọi là
bảo hộ công dân.
an ninh công dân.
quản lý công dân.
giám sát công dân.
Trong vùng nào quốc gia ven biển thực hiện quyền chủ quyền về thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn các tài nguyên của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển?
Đặc quyền kinh tế.
Nội thủy.
Tiếp giáp lãnh hải.
Lãnh hải.
Mỗi quốc gia độc lập đều được cấu thành từ 3 yếu tố cơ bản là
văn hoá, lịch sử và con người.
lãnh thổ, dân cư và chủ quyền.
văn hoá, tôn giáo và kinh tế.
lãnh thổ, pháp luật và lịch sử.
Vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với vùng tiếp giáp lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở gọi là
vùng đặc biệt quốc gia.
vũng lãnh hải chiến lược.
vùng tiếp giáp lãnh hải.
vùng đặc quyền kinh tế.
Đối với di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do mình tìm được công dân có nghĩa vụ
khai thác và sử dụng hợp lí.
khai thác và sử dụng có hiệu quả.
khai thác và sử dụng tiết kiệm.
giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Vùng biển nằm giữa nội thuỷ và vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển được gọi là
thềm lục địa.
nội thuỷ.
lãnh hải.
vùng đặc quyền kinh tế.
vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển được gọi là
thềm lục địa.
nội thuỷ.
lãnh hải.
vùng đặc quyền kinh tế.
Hành vi nào sau đây phù hợp trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường?
Sử dụng tiết kiệm điện, nước sinh hoạt.
Sử dụng kích điện để bắt cá.
Vứt xác chết động vật xuống sông.
Đốt rừng, phá rừng làm rẫy.
Trong cộng đồng dân cư của mỗi quốc gia thường bao gồm hai bộ phận là công dân của quốc gia sở tại và
khách du lịch.
người di cư.
người địa phương.
người nước ngoài.
Việc chi trả, bồi thường thiệt hại, khắc phục, xử lý và chịu trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật nếu gây sự cố môi trường, huỷ hoại tài nguyên thiên nhiên là
quyền của công dân.
hậu quả tiêu cực.
nghĩa vụ của công dân.
vai trò của công dân.
Nội dung nào dưới đây không phải là nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế?
Hợp tác thiện chí với các quốc gia khác.
Bình đẳng về chủ quyền các quốc gia.
Tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế.
Giải quyết tranh chấp bằng sử dụng vũ lực.
Văn bản pháp luật quốc tế do các quốc gia và chủ thể khác của pháp luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể là
công ước quốc tế.
thoả thuận quốc tế.
điều ước quốc tế.
hiệp định quốc tế.
Đường biên giới được xác định trên đất liền, trên đảo, trên sông, hồ, kênh, biển nội địa… được quy định trong các điều ước quốc tế là
biên giới quốc gia trong lòng đất.
biên giới quốc gia trên không.
biên giới quốc gia trên bộ.
biên giới quốc gia trên biển.
Các chế độ pháp lí với người nước ngoài bao gồm
chế độ đãi ngộ quốc gia, chế ngộ đãi ngộ tối huệ quốc, chế độ đãi ngộ cá biệt.
chế độ đãi ngộ quốc gia, chế ngộ đãi ngộ không phân biệt, chế độ đãi ngộ đặc biệt.
chế độ đãi ngộ quan trọng, chế ngộ đãi ngộ tối huệ quốc, chế độ đãi ngộ đặc biệt.
chế độ đãi ngộ quốc gia, chế ngộ đãi ngộ tối huệ quốc, chế độ đãi ngộ đặc biệt.
Đối tượng người nước ngoài nào khi ở nước sở tại được hưởng chế độ đối xử đối xử đặc biệt?
Người đi xuất khẩu lao động.
Viên chức ngoại giao.
Người tị nạn.
Người đi du lịch.
Hành vi nào dưới đây là bảo vệ di sản văn hoá?
Mặc trang phục hở hang khi đi chùa.
Lấn chiếm đất của đình, chùa làng.
Nghiên cứu kỹ về lễ hội dân gian.
Tự ý bê đồ vật trong chùa về nhà cất.
Nội dung nào sau đây không phải là nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế?
Không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác.
Cấm dùng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Dùng biện pháp quân sự để các quốc gia khác lệ thuộc vào mình.
Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.
Việc làm nào sau đây không vi phạm quyền và nghĩa vụ của công dân về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên?
Khai thác, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên.
Săn bắt động vật quý hiếm về nuôi dưỡng.
Đốt rừng để trồng trọt, chăn nuôi.
Vào rừng khai thác các loại gỗ quý.
Đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong bảo vệ di sản văn hóa công dân có quyền
khởi tố và điều tra.
khiếu nại và tố cáo.
xử lí vi phạm.
phê phán và xử lí.
Các tàu thuyền nước ngoài muốn hoạt động đều phải xin phép và chỉ được lưu thông, hoạt động khi được cấp phép thuộc vùng biển nào dưới đây?
Vùng có tranh chấp.
Vùng lãnh hải.
Vùng đặc quyền kinh tế.
Vùng nội thủy.
Được hưởng thụ và tiếp cận văn hóa là
nghĩa vụ của công dân.
quyền của công dân.
trách nhiệm của công dân.
vai trò của công dân.
Phát biểu nào sau đây không đúng khi nói về chế độ pháp lí của người không quốc tịch?
Người không quốc tịch có những quyền và nghĩa vụ tương tự công dân nước sở tại.
Người không quốc tịch không được hưởng một số quyền về dân sự, lao động.
Người không quốc tịch có những quyền và nghĩa vụ tương tự người có quốc tịch nước ngoài.
Người không quốc tịch không được hưởng chế độ bảo hộ về ngoại giao.
Ranh giới phân định lãnh thổ quốc gia này với lãnh thổ của quốc gia khác hoặc với các vùng mà quốc gia đó có chủ quyền trên biển gọi là
biên giới quốc gia.
chủ quyền quốc gia.
đặc khu kinh tế.
đặc khu hành chính.
Tôn trọng, bảo vệ và giữ gìn các di sản văn hóa là
quyền của công dân.
trách nhiệm của công dân.
vai trò của công dân.
nghĩa vụ của công dân.
Việc làm nào sau đây không vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa?
Buôn bán cổ vật quốc gia.
Cất kĩ các cổ vật quốc gia trong nhà.
Tôn tạo, bảo tồn các di sản văn hóa.
Xây dựng mới đối với những di tích quá cũ.
Việc làm nào sau đây gây ảnh hưởng xấu đến môi trường?
Nộp thuế, phí bảo vệ môi trường.
Xả chất thải chưa qua xử lí ra môi trường.
Tắt các loại thiết bị điện khi không sử dụng.
Trồng nhiều cây xanh trong khuôn viên trường học.
Theo luật biển Việt Nam 2012, vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam được gọi là
nội thuỷ.
vùng tiếp giáp lãnh hải.
lãnh hải.
thềm lục địa.
Các bộ phận của dân cư của quốc gia có chế độ pháp lí riêng, phụ thuộc vào
tín ngưỡng và tôn giáo lựa chọn.
quy định pháp luật của mỗi quốc gia.
nguồn gốc xuất thân của người dân.
thành phần và địa vị xã hội.
Tổng hợp những người sinh sống, cư trú trên lãnh thổ của quốc gia, chịu sự quản lí bằng pháp luật của nhà nước ở quốc gia đó được gọi là
dân cư quốc gia.
dân số thổ cư.
dân cư địa phương.
dân số nội địa.
Cơ sở pháp lý quan trọng nhất để thiết lập và phát triển các quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế là
pháp luật quốc tế.
hiệp định quốc tế.
công ước quốc tế.
thoả thuận quốc tế.
Được sống trong môi trường trong lành, không bị ô nhiễm là
trách nhiệm của công dân.
vai trò của công dân.
quyền của công dân.
nghĩa vụ của công dân.
Người nước ngoài được hưởng các ưu đãi mà ngay cả công dân nước sở tại cũng không được hưởng (được quy định tại các Công ước quốc tế về quan hệ ngoại giao và lãnh sự) thuộc chế độ ưu đãi nào dưới đây?
Chế độ đãi ngộ quốc gia.
Chế độ đãi ngộ đặc biệt.
Chế độ với người đa quốc tịch.
Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc.
Toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là một phần của Trái Đất bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng lòng đất và
vùng biên giới.
vùng kinh tế.
vùng đặc khu.
vùng nước.
Việc một quốc gia cho phép người nước ngoài đang bị truy nã nhập cảnh do những hoạt động và quan điểm không phù hợp với nước sở tại được quyền nhập cảnh và cư trú trên lãnh thổ nước mình (được ghi nhận trong các văn kiện pháp lí quốc tế) thuộc hình thức cư trú nào dưới đây?
Cư trú có thời hạn.
Cư trú bất hợp pháp.
Cư trú chính trị.
Cư trú theo diện bảo lãnh.
Biên giới trên bộ được đánh dấu như thế nào?
Bằng các cột mốc quốc gia.
Bằng các thỏa thuận quốc tế.
Bằng tọa độ trên hải đồ.
Bằng tập tục quốc tế.
Lãnh thổ quốc gia là toàn vẹn và
có quyền xâm phạm.
bất khả xâm phạm.
có thể xâm phạm.
dễ dàng xâm phạm.
Ở nước sở tại, người nước ngoài khi tham gia hoạt động thương mại, hàng hải được hưởng chế độ đối xử quốc gia và chế độ đối xử
tối huệ quốc.
đặc biệt.
bình đẳng.
quốc gia.
Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó đến một giới hạn theo quy định. Nội dung này được quy định tại văn bản quốc tế nào dưới đây?
Hiến pháp Hòa bình về Biển (UN Charter)
Công ước về Đa dạng sinh học Biển (CBD).
Hiến pháp Vùng Biển Nam Cực (Antarctic Treaty)
Công ước LHQ về luật biển 1982 (UNCLOS)
Mọi người có thể tiếp cận, hưởng thụ các giá trị văn hóa bằng hình thức
tham quan hoặc biểu diễn.
trình diễn hoặc sử dụng.
trực tiếp hoặc gián tiếp.
sưu tầm hoặc hưởng ứng.
a) Người không quốc tịch sẽ không phải thực hiện các nghĩa vụ mà công dân nước sở tại phải thực hiện.
b)Các quốc gia thành viên sẽ dành cho người không quốc tịch sự đối xử tương tự như dành cho công dân của mình liên quan đến vấn đề giáo dục tiểu học
c)Người không quốc tịch không được hưởng chế độ đầy đủ như người nước ngoài đãi ngộ tối huệ quốc hay chế độ đãi ngộ đặc biệt như người nước ngoài.
d)Người không quốc tịch không được hưởng chế độ đầy đủ như người nước ngoài đãi ngộ tối huệ quốc hay chế độ đãi ngộ đặc biệt như người nước ngoài.
Có bao nhiêu nhận định đúng?
3
2
1
4
Một trong những vai trò cơ bản của pháp luật quốc tế là cơ sở
quyết định vấn đề nội bộ của mỗi quốc gia.
giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia.
đảm bảo dân chủ trên thế giới.
thúc đẩy công bằng trên thế giới.
Nếu một quốc gia thành viên dành cho một quốc gia thành viên khác các ưu đãi về hàng hoá, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ thì cũng phải dành cho tất cả các quốc gia thành viên khác những ưu đãi tương tự. Điều này là thể hiện chế độ đối xử
pháp nhân.
quốc tế.
quốc gia.
tối huệ quốc.
Mọi công dân được tiếp cận, tìm hiểu các thông tin về bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên theo
điều kiện, hoàn cảnh của mình.
khả năng của mình.
quy định của pháp luật.
năng khiếu và sở thích.
Ngôi chùa cổ ở xã H bị các đối tượng xấu đột nhập vào trộm một số lượng lớn cổ vật có giá trị. Các lực lượng chức năng và người dân địa phương nhiều lần tìm kiếm nhưng chưa bắt được thủ phạm và chưa thu hồi được các cổ vật. Một lần sang nhà bạn K chơi, H vô tình thấy anh trai của K đang lau chùi các đồ vật giống các cổ vật đã bị đánh cắp ở ngôi chùa cổ. H liền hỏi và được biết anh trai của K đã mua lại các vật cổ này từ một số người lạ, H liền khuyên anh trai của K đem ra nộp cho chính quyền địa phương nhưng anh trai của K không đồng ý và cho rằng, anh không biết đó là cổ vật bị đánh cắp nên đã bỏ tiền ra mua, bây giờ nó là sở hữu của anh không ai có quyền thu hồi nếu anh không đồng ý.
Trong trường hợp này anh trai K cần phải làm gì cho phù hợp?
Giao nộp cổ vật cho cơ quan có thẩm quyền.
Có quyền sỡ hữu vì đã bỏ tiền ra mua.
Trả lại cho người bán và đòi lại số tiền đã mua.
Bán lại cho người khác để lấy lại tiền.
Ngôi chùa cổ ở xã H bị các đối tượng xấu đột nhập vào trộm một số lượng lớn cổ vật có giá trị. Các lực lượng chức năng và người dân địa phương nhiều lần tìm kiếm nhưng chưa bắt được thủ phạm và chưa thu hồi được các cổ vật. Một lần sang nhà bạn K chơi, H vô tình thấy anh trai của K đang lau chùi các đồ vật giống các cổ vật đã bị đánh cắp ở ngôi chùa cổ. H liền hỏi và được biết anh trai của K đã mua lại các vật cổ này từ một số người lạ, H liền khuyên anh trai của K đem ra nộp cho chính quyền địa phương nhưng anh trai của K không đồng ý và cho rằng, anh không biết đó là cổ vật bị đánh cắp nên đã bỏ tiền ra mua, bây giờ nó là sở hữu của anh không ai có quyền thu hồi nếu anh không đồng ý.
Các cổ vật mà anh trai của anh trai K đang giữ là?
Anh trai K có quyền sở hữu.
Di sản văn hóa của Nhà nước.
Anh trai K có quyền bán lại.
Tài sản của anh trai K.
Ngôi chùa cổ ở xã H bị các đối tượng xấu đột nhập vào trộm một số lượng lớn cổ vật có giá trị. Các lực lượng chức năng và người dân địa phương nhiều lần tìm kiếm nhưng chưa bắt được thủ phạm và chưa thu hồi được các cổ vật. Một lần sang nhà bạn K chơi, H vô tình thấy anh trai của K đang lau chùi các đồ vật giống các cổ vật đã bị đánh cắp ở ngôi chùa cổ. H liền hỏi và được biết anh trai của K đã mua lại các vật cổ này từ một số người lạ, H liền khuyên anh trai của K đem ra nộp cho chính quyền địa phương nhưng anh trai của K không đồng ý và cho rằng, anh không biết đó là cổ vật bị đánh cắp nên đã bỏ tiền ra mua, bây giờ nó là sở hữu của anh không ai có quyền thu hồi nếu anh không đồng ý.
Anh trai của K vi phạm nội dung nào sau đây?
Quyền của công dân trong bảo vệ tài nguyên.
Nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ tài nguyên.
Quyền của công dân trong bảo vệ di sản văn hóa.
Nghĩa vụ của công trong bảo vệ di sản văn hóa.
Khi đi làm rẫy, vợ chồng ông N và bà M phát hiện một khu rừng phòng hộ bị các đối tượng xấu phá để trồng keo. Ông N muốn trình báo sự việc với chính quyền địa phương, nhưng bà M ngăn cản vì cho rằng đó là việc của cán bộ nhà nước không liên quan đến người dân như gia đình bà.
Việc phá rừng phòng hộ để trồng keo là vi phạm quyền và nghĩa vụ của công dân về
bảo vệ kì quan thiên nhiên.
bảo vệ tài sản nhà nước.
bảo vệ di sản văn hóa.
bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Khi đi làm rẫy, vợ chồng ông N và bà M phát hiện một khu rừng phòng hộ bị các đối tượng xấu phá để trồng keo. Ông N muốn trình báo sự việc với chính quyền địa phương, nhưng bà M ngăn cản vì cho rằng đó là việc của cán bộ nhà nước không liên quan đến người dân như gia đình bà.
Vợ chồng ông N bà K có quyền
xử phạt đối với hành vi phá rừng phòng hộ.
tố cáo hành vi phá rừng phòng hộ.
khiếu nại hành vi phá rừng phòng hộ.
tìm hiểu thông tin về rừng.
Cho đến nay, Việt Nam chủ yếu mới sử dụng biện pháp đàm phán để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước ven Biển Đông. Nhiều tranh chấp về phân định biển của Việt Nam với các nước đã được giải quyết hoà bình và các bên ký kết được các hiệp định phân định và hợp tác thông qua đàm phán. Điển hình như: Hiệp định phân định ranh giới trên biển trong Vịnh Thái Lan giữa Việt Nam và Thái Lan năm 1997, Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2000, Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc năm 2000, Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia năm 2003, Hiệp định phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa Việt Nam và Indonesia năm 2022.
(Theo trang Thông tin Đối ngoại)
Việc giải quyết các tranh chấp về phân chia lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước trong khu vực được thực hiện bằng văn bản pháp lí nào sau đây?
Tòa án quốc tế.
Pháp lệnh của các nước.
Luật pháp của mỗi nước.
Hiệp định chung.
Cho đến nay, Việt Nam chủ yếu mới sử dụng biện pháp đàm phán để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước ven Biển Đông. Nhiều tranh chấp về phân định biển của Việt Nam với các nước đã được giải quyết hoà bình và các bên ký kết được các hiệp định phân định và hợp tác thông qua đàm phán. Điển hình như: Hiệp định phân định ranh giới trên biển trong Vịnh Thái Lan giữa Việt Nam và Thái Lan năm 1997, Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2000, Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc năm 2000, Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia năm 2003, Hiệp định phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa Việt Nam và Indonesia năm 2022.
(Theo trang Thông tin Đối ngoại)
a) Việc phân định biên giới trên biển giữa Việt Nam và Thái Lan được thực hiện bằng Hiệp định phân định vùng nội thủy.
b) Việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông của Việt Nam bằng biện pháp đàm phán đã thể hiện đúng đường lối của Đảng và Nhà nước, phù hợp với Luật pháp Quốc tế.
c) Giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay mới thỏa thuận chung được một hiệp định.
d) Quan điểm giải quyết tranh chấp và phân định biên giới được thực hiện đồng thời các biện pháp đàm phán, dùng vũ lực và sự can thiệp của các nước lớn.
đ) Việc phân định biên giới trên biển giữa Việt Nam và Indonesia đã thực hiện thành công bởi Hiệp định phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế.
Có bao nhiêu nhận định đúng; sai với thông tin trên?
1
2
3
4
Cho đến nay, Việt Nam chủ yếu mới sử dụng biện pháp đàm phán để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước ven Biển Đông. Nhiều tranh chấp về phân định biển của Việt Nam với các nước đã được giải quyết hoà bình và các bên ký kết được các hiệp định phân định và hợp tác thông qua đàm phán. Điển hình như: Hiệp định phân định ranh giới trên biển trong Vịnh Thái Lan giữa Việt Nam và Thái Lan năm 1997, Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2000, Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc năm 2000, Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia năm 2003, Hiệp định phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa Việt Nam và Indonesia năm 2022.
(Theo trang Thông tin Đối ngoại)
Nước ta giải quyết các tranh chấp về phân định biển chủ yếu bằng biện pháp nào sau đây?
Đấu tranh vũ trang.
Dựa vào nước lớn.
Nhượng bộ.
Đàm phán.
Điều 1 của UDHR tuyên bố "Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu". Điều 3 của UDHR năm 1948 khẳng định: "Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân". Tiếp theo đó, Điều 5 của UDHR khẳng định “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm”. Tinh thần này tiếp tục được khẳng định tại các Điều 7 và 17 của ICCPR, theo đó, không ai bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm. ICCPR đặt ra các nghĩa vụ chính đối với các quốc gia thành viên, cụ thể là:
- Một là, các quốc gia cần ghi nhận và có quy định nhằm bảo đảm không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc nhục hình. Đặc biệt, không một người nào có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó.
- Hai là, những người bị tước đoạt tự do phải được đối xử nhân đạo và với sự tôn trọng nhân phẩm và tự do vốn có của con người.
- Ba là, trừ những hoàn cảnh đặc biệt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải được giam giữ riêng, cách ly khỏi những người đã thành án và phải được đối xử theo chế độ riêng phù hợp với quy chế đối với người bị tạm giam.
- Bốn là, các quốc gia cần có những quy chế pháp lý dành riêng cho người chưa thành niên để bảo đảm việc giam giữ được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phù hợp lứa tuổi của họ cũng như phải được đưa ra xét xử càng nhanh càng tốt.
Có thể thấy, đây là những chuẩn mực mà Công ước đặt ra cho các quốc gia thành viên để bảo vệ nhóm quyền không bị tra tấn, được đối xử nhân đạo, không bị giam giữ độc đoán, tra tấn, nhục hình. Các nước thành viên Công ước, dựa trên các nguyên tắc nền này và tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của nước mình có thể đưa ra những quy định riêng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Công ước.
(Những nội dung cơ bản của công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị)
Công ước UDHR quy định như thế nào đối với người chưa thành niên phạm tội?
Được đối xử phù hợp với lứa tuổi, trì hoãn càng lâu càng tốt.
Được đối xử nhân đạo, không bị giam giữ và bị nhục hình.
Đảm bảo nguyên tắc vô tội vì chưa đến tuổi thành niên.
Được đối xử phù hợp với lứa tuổi, xét xử càng nhanh càng tốt.
Điều 1 của UDHR tuyên bố "Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu". Điều 3 của UDHR năm 1948 khẳng định: "Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân". Tiếp theo đó, Điều 5 của UDHR khẳng định “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm”. Tinh thần này tiếp tục được khẳng định tại các Điều 7 và 17 của ICCPR, theo đó, không ai bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm. ICCPR đặt ra các nghĩa vụ chính đối với các quốc gia thành viên, cụ thể là:
- Một là, các quốc gia cần ghi nhận và có quy định nhằm bảo đảm không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc nhục hình. Đặc biệt, không một người nào có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó.
- Hai là, những người bị tước đoạt tự do phải được đối xử nhân đạo và với sự tôn trọng nhân phẩm và tự do vốn có của con người.
- Ba là, trừ những hoàn cảnh đặc biệt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải được giam giữ riêng, cách ly khỏi những người đã thành án và phải được đối xử theo chế độ riêng phù hợp với quy chế đối với người bị tạm giam.
- Bốn là, các quốc gia cần có những quy chế pháp lý dành riêng cho người chưa thành niên để bảo đảm việc giam giữ được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phù hợp lứa tuổi của họ cũng như phải được đưa ra xét xử càng nhanh càng tốt.
Có thể thấy, đây là những chuẩn mực mà Công ước đặt ra cho các quốc gia thành viên để bảo vệ nhóm quyền không bị tra tấn, được đối xử nhân đạo, không bị giam giữ độc đoán, tra tấn, nhục hình. Các nước thành viên Công ước, dựa trên các nguyên tắc nền này và tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của nước mình có thể đưa ra những quy định riêng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Công ước.
(Những nội dung cơ bản của công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị)
a) Chỉ những quốc gia luật phap chưa hoàn chỉnh mới phải gia nhập Công ước.
b) Các nước là thành viên tùy theo điều kiện của mình để đưa ra những quy định riêng nhưng không trái với nguyên tắc của Công ước.
c) Không một người nào có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó.
d) Công ước UDHR có giá trị pháp lí cao nhất trong việc bảo vệ quyền con người.
Có bao nhiêu nhận định đúng; sai với thông tin trên?
1
2
3
4
Điều 1 của UDHR tuyên bố "Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu". Điều 3 của UDHR năm 1948 khẳng định: "Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân". Tiếp theo đó, Điều 5 của UDHR khẳng định “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm”. Tinh thần này tiếp tục được khẳng định tại các Điều 7 và 17 của ICCPR, theo đó, không ai bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm. ICCPR đặt ra các nghĩa vụ chính đối với các quốc gia thành viên, cụ thể là:
- Một là, các quốc gia cần ghi nhận và có quy định nhằm bảo đảm không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc nhục hình. Đặc biệt, không một người nào có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó.
- Hai là, những người bị tước đoạt tự do phải được đối xử nhân đạo và với sự tôn trọng nhân phẩm và tự do vốn có của con người.
- Ba là, trừ những hoàn cảnh đặc biệt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải được giam giữ riêng, cách ly khỏi những người đã thành án và phải được đối xử theo chế độ riêng phù hợp với quy chế đối với người bị tạm giam.
- Bốn là, các quốc gia cần có những quy chế pháp lý dành riêng cho người chưa thành niên để bảo đảm việc giam giữ được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phù hợp lứa tuổi của họ cũng như phải được đưa ra xét xử càng nhanh càng tốt.
Có thể thấy, đây là những chuẩn mực mà Công ước đặt ra cho các quốc gia thành viên để bảo vệ nhóm quyền không bị tra tấn, được đối xử nhân đạo, không bị giam giữ độc đoán, tra tấn, nhục hình. Các nước thành viên Công ước, dựa trên các nguyên tắc nền này và tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của nước mình có thể đưa ra những quy định riêng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Công ước.
(Những nội dung cơ bản của công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị)
Công ước UDHR không đề cập đến nội dung nào sau đây đối với người phạm tội?
Không b��� sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học.
Không áp dụng hình phạt tù vô thời hạn đối với người phạm tội.
Không bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo.
Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo.
Điều 1 của UDHR tuyên bố "Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu". Điều 3 của UDHR năm 1948 khẳng định: "Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân". Tiếp theo đó, Điều 5 của UDHR khẳng định “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm”. Tinh thần này tiếp tục được khẳng định tại các Điều 7 và 17 của ICCPR, theo đó, không ai bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm. ICCPR đặt ra các nghĩa vụ chính đối với các quốc gia thành viên, cụ thể là:
- Một là, các quốc gia cần ghi nhận và có quy định nhằm bảo đảm không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc nhục hình. Đặc biệt, không một người nào có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó.
- Hai là, những người bị tước đoạt tự do phải được đối xử nhân đạo và với sự tôn trọng nhân phẩm và tự do vốn có của con người.
- Ba là, trừ những hoàn cảnh đặc biệt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải được giam giữ riêng, cách ly khỏi những người đã thành án và phải được đối xử theo chế độ riêng phù hợp với quy chế đối với người bị tạm giam.
- Bốn là, các quốc gia cần có những quy chế pháp lý dành riêng cho người chưa thành niên để bảo đảm việc giam giữ được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phù hợp lứa tuổi của họ cũng như phải được đưa ra xét xử càng nhanh càng tốt.
Có thể thấy, đây là những chuẩn mực mà Công ước đặt ra cho các quốc gia thành viên để bảo vệ nhóm quyền không bị tra tấn, được đối xử nhân đạo, không bị giam giữ độc đoán, tra tấn, nhục hình. Các nước thành viên Công ước, dựa trên các nguyên tắc nền này và tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của nước mình có thể đưa ra những quy định riêng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Công ước.
(Những nội dung cơ bản của công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị)
a) Những hoàn cảnh đặc biệt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải được giam giữ riêng, cách ly khỏi những người đã thành án.
b) Tội phạm chiến tranh, tù binh bị bắt có thể sử dụng vào mục đích y học hoặc nghiên cứu khoa học. (S)
c) Các nước thành viên có thể đưa ra những quy định riêng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Công ước.
d) Công ước không đề cập đến nội dung mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền.
e) Các quốc gia cần có những quy chế pháp lý dành riêng cho người chưa thành niên mà không cần dưa trên quy định trong Công ước.
Có bao nhiêu nhận định đúng; sai với thông tin trên?
1
2
3
4
Công ước UDHR đề cập đến nội dung nào sau đây?
Chủ quyền quốc gia.
Quyền con người.
Quyền tự do cá nhân.
Chính trị, xã hội.
Câu 1. Đọc đoạn thông tin sau: Tối 19/7/2019, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng xác nhận: tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc đã có hành vi vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía nam Biển Đông. Đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên Hiệp Quốc (LHQ) về Luật biển 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên. Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực. Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều biện pháp phù hợp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam.
Tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc đã có hành vi vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa việt Nam ở khu vực phía Nam biển Đông là hành vi vi phạm quy định của luật biển quốc tế
Các lực lượng chấp pháp pháp của nhà nước Việt Nam không có quyền yêu cầu chấm dứt các hành vi của tàu khảo sát hải dương 8 của trung quốc
việt nam trao công hàm phản đối các hành vi của tàu khảo sát hải dương 8 của trung quốc và thực hiện đúng quy định của công ước LHQ về Luật Biển
Trung Quốc cần tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của việt nam vì quan hệ hai nước và ổn định hòa bình ở khu vực
Câu 2. Đọc đoạn thông tin sau: Từ ngày 13 - 17/6/2022, tại Thủ đô Phnom Penh, Campuchia đã diễn ra Cuộc họp hai Chủ tịch Ủy ban liên hợp biên giới Việt Nam - Campuchia, Campuchia - Việt Nam. Tại Cuộc họp, hai bên đã trao đổi một số nội dung liên quan đến việc bảo đảm sự ổn định của đường biên, mốc giới nhằm góp phần củng cố và xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác cùng phát triển giữa hai nước như: kế hoạch xử lý các cột mốc cũ còn tồn tại trên thực địa tại các khu vực đã hoàn thành phân giới cắm mốc (bao gồm việc dỡ bỏ và giữ lại một số cột mốc để làm chứng tích lịch sử và tạo thuận lợi cho công tác quản lý biên giới); xử lý, khắc phục một số mốc biên giới bị hư hỏng, sạt lỡ ; khảo sát thực địa, cắm thêm một số cọc đánh dấu điểm đặc trưng làm rõ hướng đi của đường biên giới trên thực địa tại một số khu vực đã hoàn thành phân giới cắm mốc nhưng vẫn có khó khăn trong việc nhận biết.
Hai bên khẳng định quyết tâm và nỗ lực tìm giải pháp công bằng, hợp lý mà hai bên cùng chấp nhận được để phân giới cắm mốc đối với 16% đường biên giới còn lại; đồng thời, nhất trí về sự cần thiết xây dựng Hiệp định về quy chế biên giới mới để thay thế cho Hiệp định về quy chế biên giới ký năm 1983 nhằm tạo thuận lợi cho công tác phối hợp quản lý biên giới chung.
xây dựng đường biên giới hòa bình ổn định hữu nghị và hợp tác cùng phát triển giữa hai nước việt nam và campuchia là trách nhiệm của nhà nước và nhân dân của hai nước
Hai nước Việt Nam - Campuchia phối hợp với nhau trong công tác quản lý biên giới chung là thực hiện đúng quy định của pháp luật quốc tế.
Khảo sát thực địa, cắm thêm một số cọc đánh dấu điểm đặc trưng làm rõ hướng đi của đường biên giới trên thực địa là việc làm cần thiết.
Đường biên giới trên đất liền giữa hai nước không cần thể hiện trên bản đồ.
Đọc đoạn thông tin sau:
Là Quốc gia thành viên Công ước Luật Biển 1982, ngày 12/11/1982 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam…Là một quốc gia có nhiều lợi ích gắn với biển và là thành viên có trách nhiệm của Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam luôn đi đầu và không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện Công ước, kể từ khi chấp nhận sự ràng buộc và trở thành một quốc gia thành viên của Công ước. Với chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả Công ước Luật Biển 1982 để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng. Tại các khu vực chưa phân định, Việt Nam cùng các bên đã có những biện pháp để quản lý các vấn đề trên biển cũng như đang tiến hành đàm phán, đối thoại với các quốc gia ven biển để giải quyết các khu vực chồng lấn còn lại.
Việt Nam luôn đề cao mục tiêu, tôn chỉ và các quy định của Công ước, nỗ lực triển khai các biện pháp để thực thi Công ước; đồng thời kiên trì, kiên quyết yêu cầu các quốc gia khác tuân thủ các nghĩa vụ của Công ước, qua đó đóng góp vào bảo vệ trật tự pháp lý trên biển.
(Nguồn: http://biengioilanhtho.gov.vn)
VN xác định đường cơ sở của Quốc gia trên biển căn cứ vào Công ước Luật Biến 1982.
Việt Nam không đề cao mục tiêu, tôn chỉ và các quy định của Công ước.
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả Công ước Luật Biển 1982 để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng.
Việt Nam không có vai trò gì trong việc bảo vệ trật tự pháp lý trên
Đọc đoạn thông tin sau:
Trong những năm gần đây, Việt Nam không ngừng nâng cao vị thế trong pháp điển dân pháp lí đa phương, như Ủy ban các vấn đề pháp lí (Ủy ban VI) của Đại Hội đồng Liên hợp quốc và Tổ chức Tham vấn pháp luật Á – Phi (AALCO). Đáng chú ý, Việt Nam đã cử nhiều đại diện tham gia với tư cách thành viên cao, giành được quyền hiện diện tại các cơ chế pháp lí quốc tế quan trọng như Ủy ban Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) và Ủy ban Pháp luật Quốc tế Liên hợp quốc (ILC).
Tại các diễn đàn này, Việt Nam kịp thời đưa ra các quan điểm phù hợp với lợi ích, chủ trương của mình, bảo vệ lợi ích quốc gia từ sớm, từ xa, đồng thời thể hiện trách nhiệm tích cực đóng góp vào lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, việc Việc Nam thúc đẩy các chủ đề pháp lí thực tiễn, sát sao với lợi ích của các nước đang phát triển như môi trường, dịch bệnh, biến đổi khí hậu,…được các nước ủng hộ, đánh giá cao và ngày càng tín nhiệm.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã không ngừng tham gia và xây dựng pháp luật quốc tế để nâng cao vị thế và ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế.
Pháp luật quốc tế là cơ sở để xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác phát triển giữa các quốc gia.
Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật khác nhau, các quốc gia không có mối quan hệ mật thiết với nhau, không tác động qua lại và không ảnh hưởng lẫn nhau.
Để giữ gìn hoà bình, chống chiến tranh, bảo vệ quyền con người, chống lại mọi hình thức phân biệt chủng tộc, sắc tộc trên thế giới, Việt Nam luôn để cao các quốc gia tuân thủ một trong bảy nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế.
Đọc đoạn thông tin sau:
Mặc dù Việt Nam có nhiều loại khoáng sản nhưng trữ lượng hầu hết không nhiều. Do địa hình hẹp, nhiều vùng dốc ra biển, đặc biệt hơn 60% lượng nước mặt có nguồn gốc từ nước ngoài, cho nên tình trạng thiếu nước cục bộ theo vùng, theo mùa vẫn thường xuyên xảy ra, có lúc, có nơi hết sức gay gắt tại nhiều địa phương. Số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy: Cả nước có hơn 1.000 mỏ lớn, nhỏ đang khai thác, nhưng do các mỏ khoáng sản nhỏ nằm phân tán không được quản lý thống nhất, đồng bộ dẫn đến tình trạng thất thoát nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường thêm trầm trọng, nhất là việc khai thác bằng công nghệ lạc hậu đã gây ra tình trạng mất rừng, xói lở đất, bồi lắng và ô nhiễm sông suối, ven biển.
(https://nhandan.vn/khai-thac-su-dung-hop-ly-tai-nguyen-thien-nhien-post244795.html)
Công dân được khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp trả tiền thuê đất và được sở hữu tài nguyên thiên nhiên ở đó.
Doanh nghiệp tự do khai thác tài nguyên thiên nhiên và đăng kí quyền sở hữu.
Công dân được khai thác mọi tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ Việt Nam.
Đọc đoạn thông tin sau:
Nước C là quốc gia có vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lí, tự xác định theo Công ước Luật Biển năm 1982. Nước C khai thác tài nguyên khoáng sản và ban hành pháp luật quy định công dân nước C được đánh bắt hải sản được trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, còn công dân các nước khác không có quyền này. Bên cạnh việc quy định cho phép các tổ chức, cá nhân của mình thực hiện các hoạt động vì mục đích kinh tế, nước C còn quy định tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài được hưởng các quyền tự do biển cả và các quyền khác khi hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982.
Việc xác định vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia phải do một tổ chức quốc tế công nhận
Nước C khai thác tài nguyên khoáng sản trong vùng đặc quyền kinh tế của mình là đúng theo Công ước Luật Biển năm 1982
Nước C không cho các nước khác được khai thác đánh bắt thủy sản trong vùng đặc quyền kinh tế của mình là vi phạm nguyên tắc tự do hóa thương mại.
Tàu thuyền và phương tiện bay của các quốc gia khác có quyền được ra vào vùng đặc quyền kinh tế của nước C mà không cần xin phép.
Đọc đoạn thông tin sau:
Trên cơ sở Đề án được phê duyệt theo Quyết định số 1867/QĐ-UBND ngày 19/8/2017 của Ủy ban nhân dân Tỉnh Thừa Thiên Huế, ngày 12/4/2019, Sở Văn hóa - Thể thao và Sở Giáo dục và Đào tạo đã ký kết Chương trình phối hợp số 577/CTPH-SGDĐT-SVHTT về việc Đẩy mạnh tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho học sinh giai đoạn 2019 - 2021. Từ đó, Sở Văn hóa - Thể thao đã xây dựng và triển khai có hiệu quả Chương trình đưa di sản Ca Huế vào các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Huế và dạy hát Ca Huế cho học sinh theo hình thức câu lạc bộ Ca Huế tại các Trường Trung học cơ sở. Chương trình đưa Ca Huế vào trường học không chỉ đơn thuần là dạy cho học sinh tập hát Ca Huế mà còn giúp các em nhận ra những giá trị nhân văn ẩn chứa trong loại hình di sản này.
Thông tin đề cập việc truyền bá, lưu giữ tư liệu về di sản văn hóa.
Quá trình xây dựng nền văn hóa tiếp thu tất cả các nền văn hóa trên thế giới.
Kế thừa mọi phong tục, tập quán của dân tộc trong xây dựng nền văn hóa hiện nay.
Mỗi người dân Việt Nam đều có nghĩa vụ bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa.
