Font size
WorksheetsCâu hỏi về hợp đồng
Total questions: 113
Worksheet time: 57mins
Hợp đồng uỷ quyền:
Là hợp đồng mà bên được uỷ quyền nhân danh bên uỷ quyền xác lập giao dịch với người thứ ba vì lợi ích của bên uỷ quyền.
Là hợp đồng có mục đích chuyển giao quyền yêu cầu cho người thứ ba.
Là hợp đồng phụ.
Là hợp đồng có đền bù.
Hợp đồng gia công là:
Hợp đồng có đền bù.
Hợp đồng thực tế.
Hợp đồng đơn vụ.
Hợp đồng có điều kiện.
Đối tượng của hợp đồng vận chuyển hành khách là:
Công việc vận chuyển hành khách.
Hành khách.
Hành lý.
Hành khách và hành lý.
Đối tượng của hợp đồng vận chuyển tài sản là:
Công việc vận chuyển tài sản.
Tài sản.
Tài sản không bị cấm lưu thông, hạn chế lưu thông.
Tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bên thuê vận chuyển.
Hình thức của hợp đồng vận chuyển tài sản:
Có thể bằng văn bản, bằng lời nói hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
Phải bằng văn bản.
Phải bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực.
Vận đơn.
Trong hợp đồng uỷ quyền, bên uỷ quyền:
Đương nhiên phải thanh toán chi phí hợp lý mà bên được ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc được ủy quyền và chỉ phải trả thù lao cho bên được ủy quyền, nếu có thỏa thuận.
Đương nhiên phải thanh toán chi phí hợp lý và phải trả thù lao cho bên được ủy quyền.
Chỉ phải thanh toán chi phí hợp lý mà bên được ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc được ủy quyền nếu các bên có thoả thuận.
Đương nhiên phải trả thù lao cho bên được uỷ quyền.
Trong hợp đồng uỷ quyền, bên được uỷ quyền:
Đương nhiên được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc ủy quyền và chỉ được hưởng thù lao nếu có thỏa thuận.
Đương nhiên được trả thù lao và được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc ủy quyền.
Đương nhiên được trả thù lao và chỉ được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc ủy quyền nếu các bên có thoả thuận.
Nếu đã được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc ủy quyền thì không được trả thù lao nữa.
Trong hợp đồng uỷ quyền có thù lao, bên uỷ quyền:
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được ủy quyền tương ứng với công việc mà bên được ủy quyền đã thực hiện
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả toàn bộ thù lao cho bên được ủy theo thoả thuận trong hợp đồng.
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào chỉ cần báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý.
Không được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu công việc uỷ quyền chưa thực hiện xong.
Trong hợp đồng gửi giữ tài sản, tài sản gửi giữ phải là:
Vật đặc định.
Vật đặc định, không tiêu hao.
Vật cùng loại, tiêu hao hoặc không tiêu hao.
Vật chính, không tiêu hao.
Trong hợp đồng gửi giữ tài sản, bên gửi tài sản:
Phải báo ngay cho bên giữ biết tình trạng tài sản và biện pháp bảo quản thích hợp đối với tài sản gửi giữ.
Phải trả tiền công cho bên giữ.
Được lấy lại tài sản bất cứ lúc nào.
Tất cả các phương án đều dúng.
Trong hợp đồng gửi giữ tài sản, bên gửi tài sản:
Được bồi thường thiệt hại, nếu bên giữ làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng.
Được lấy lại tài sản bất cứ lúc nào.
Phải trả tiền công cho bên giữ.
Tất cả các phương án đều dúng.
Trong hợp đồng gửi giữ tài sản, nếu các bên không có thoả thuận khác thì bên giữ tài sản:
Phải trả lại chính tài sản đã nhận và cả hoa lợi nếu có.
Nếu chậm giao tài sản thì không được yêu cầu bên gửi trả tiền công.
Nếu yêu cầu bên gửi lấy lại tài sản trước thời hạn thì được nhận tiền công đến thời điểm bên gửi nhận tài sản.
Tất cả các phương án đều dúng.
Trong hợp đồng gửi giữ tài sản, nếu các bên không có thoả thuận khác thì bên gửi tài sản:
Nếu lấy lại tài sản trước thời hạn thì vẫn phải trả đủ tiền công và thanh toán chi phí cần thiết phát sinh từ việc bên giữ phải trả lại tài sản trước thời hạn.
Nếu lấy lại tài sản trước thời hạn thì chỉ cần trả tiền công đến thời điểm nhận tài sản.
Được bồi thường thiệt hại, nếu bên giữ làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ.
Được nhận lại chính tài sản đã gửi và một nửa hoa lợi phát sinh trong thời gian gửi.
Trong hợp đồng gửi giữ tài sản, bên giữ tài sản được bán tài sản gửi giữ:
Nếu tài sản gửi giữ có nguy cơ bị hư hỏng hoặc tiêu hủy nhằm bảo đảm lợi ích cho bên gửi.
Nếu bên gửi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Nếu đến hạn mà bên gửi không đến nhận tài sản.
Tất cả các phương án trên đều đúng.
Trong hợp đồng gửi giữ tài sản, việc thay đổi cách bảo quản tài sản:
Bên giữ được thay đổi cách bảo quản tài sản nếu việc thay đổi là cần thiết nhằm bảo quản tốt hơn tài sản đó, nhưng phải báo ngay cho bên gửi biết về việc thay đổi.
Bên giữ không được thay đổi cách bảo quản tài sản nếu không được sự đồng ý của bên gửi.
Bên giữ chỉ được thay đổi cách bảo quản tài sản nếu trong hợp đồng các bên có thoả thuận.
Tất cả các phương án đều đúng.
Trong hợp đồng gửi giữ tài sản, nếu các bên không có thoả thuận khác thì địa điểm trả tài sản gửi giữ là:
Nơi gửi tài sản.
Nơi cư trú của bên gửi nếu bên gửi là cá nhân, hoặc nơi có trụ sở chính của bên gửi nếu bên gửi là tổ chức.
Nơi cư trú của bên giữ nếu bên giữ là cá nhân, hoặc nơi có trụ sở chính của bên giữ nếu bên giữ là tổ chức.
Theo yêu cầu của bên gửi.
Thời hạn của hợp đồng uỷ quyền:
Do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 01 năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền.
Do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định nhưng tối đa không quá 01 năm kể từ ngày xác lập việc ủy quyền.
Do các bên thoả thuận nhưng tối đa không quá 01 năm kể từ ngày xác lập việc uỷ quyền.
Do pháp luật quy định nhưng tối đa không quá 01 năm kể từ ngày xác lập việc ủy quyền.
Trong hợp đồng uỷ quyền, bên được uỷ quyền được ủy quyền lại cho người khác nếu:
Có sự đồng ý của bên ủy quyền.
Do sự kiện bất khả kháng.
Do tình thế cấp thiết.
Tất cả các phương án đều đúng.
Trong hợp đồng vận chuyển hành khách:
Vé là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng vận chuyển hành khách giữa các bên.
Vé là hình thức của hợp đồng.
Bên vận chuyển chỉ phải thực hiện nghĩa vụ vận chuyển nếu hành khách xuất trình vé.
Hợp đồng được giao kết tại thời điểm hành khách mua vé.
Trong hợp đồng vận chuyển hành khách, bên vận chuyển không phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và hành lý của hành khách nếu:
Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của hành khách, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bên vận chuyển chứng minh được là mình không có lỗi.
Hành khách cũng có lỗi trong việc xảy ra thiệt hại.
Tất cả các phương án đều đúng.
Trong hợp đồng uỷ quyền có thù lao, bên được uỷ quyền:
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi thường thiệt hại cho bên ủy quyền, nếu có.
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên ủy quyền biết một thời gian hợp lý.
Không được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu công việc uỷ quyền chưa thực hiện xong.
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi thường thiệt hại cho bên ủy quyền
Trong hợp đồng uỷ quyền không có thù lao:
Các bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên kia một thời gian hợp lý.
Bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được uỷ quyền.
Bên được ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi thường thiệt hại cho bên ủy quyền, nếu có.
Các bên không được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu công việc uỷ quyền chưa thực hiện xong.
Trong hợp đồng vận chuyển tài sản, nếu bên thuê vận chuyển tự trông coi tài sản trên đường vận chuyển mà tài sản bị mất, hư hỏng thì:
Bên thuê vận chuyển phải tự chịu trách nhiệm.
Bên vận chuyển phải bồi thường.
Thiệt hại được bù trừ vào chi phí vận chuyển trả cho bên vận chuyển.
Bên vận chuyển và bên thuê vận chuyển phải liên đới chịu trách nhiệm
Trong hợp đồng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ có quyền:
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho mình nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý và trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, miễn là báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải trả tiền công nếu việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho mình.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho mình nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý và trả toàn bộ tiền công theo thoả thuận.
Trong hợp đồng dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ có quyền:
Thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên sử dụng dịch vụ mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của bên sử dụng dịch vụ, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nhưng phải báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ.
Thay đổi điều kiện dịch vụ mà không cần chờ ý kiến của bên bên sử dụng dịch vụ miễn là việc thay đổi đó có lợi hco bên sử dụng dịch vụ
Thay đổi điều kiện dịch vụ bất cứ lúc nào nhưng phải báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ.
Thay đổi điều kiện dịch vụ mà không cần chờ ý kiến của bên bên sử dụng dịch vụ.
Trong hợp đồng gia công, nếu các bên không có thoả thuận khác, bên đặt gia công phải trả đủ tiền công vào thời điểm:
Bên đặt gia công nhận sản phẩm.
Giao kết hợp đồng.
Hợp đồng có hiệu lực.
Bên nhận
X và Y giao kết hợp đồng gia công quần áo, theo đó, X có nghĩa vụ cung cấp nguyên vật liệu và may theo mẫu mã do Y cung cấp. Hai bên thoả thuận ngày 15/8, X phải giao sản phẩm cho Y, tuy nhiên, ngày 14/8, nhà của X bị chập điện, toàn bộ số quần áo bị cháy hỏng. Trong tình huống này:
X phải chịu rủi ro.
Y phải chịu rủi ro.
X và Y mỗi người chịu một nửa rủi ro.
Tất cả các phương án đều sai.
X và Y giao kết hợp đồng gia công quần áo, theo đó, Y có nghĩa vụ cung cấp nguyên vật liệu và mẫu mã cho X để X thực hiện việc gia công. Hai bên thoả thuận ngày 15/8, X phải giao sản phẩm cho Y, tuy nhiên, ngày 14/8, nhà của X bị chập điện, toàn bộ số quần áo bị cháy hỏng. Trong tình huống này:
Y phải chịu rủi ro.
X phải chịu rủi ro.
X và Y mỗi người chịu một nửa rủi ro.
Tất cả các phương án đều sai.
X và Y giao kết hợp đồng gia công quần áo, theo đó, X sẽ cung cấp nguyên vật liệu và may theo mẫu mã do Y yêu cầu. Hai bên thoả thuận ngày 15/8, X phải giao sản phẩm cho Y, tuy nhiên, khi đến hạn Y lại không đến nhận hàng. Ngày 16/8, nhà của X bị chập điện, toàn bộ số quần áo bị cháy hỏng. Trong tình huống này:
X phải chịu rủi ro.
Y phải chịu rủi ro bởi vì nguyên vật liệu là của Y.
Việc chập điện xảy ra không phải do lỗi của X hay Y nên mỗi người chịu một nửa rủi ro.
Tất cả các phương án đều sai
X và Y giao kết hợp đồng gia công quần áo, theo đó, X sẽ cung cấp nguyên vật liệu và may theo mẫu mã do Y yêu cầu. Hai bên thoả thuận ngày 15/8, X phải giao sản phẩm cho Y, tuy nhiên, khi đến hạn Y lại không đến nhận hàng. Ngày 16/8, nhà của X bị chập điện, toàn bộ số quần áo bị cháy hỏng. Trong tình huống này:
X phải chịu rủi ro.
Y phải chịu rủi ro bởi vì nguyên vật liệu là của Y.
Việc chập điện xảy ra không phải do lỗi của X hay Y nên mỗi người chịu một nửa rủi ro.
Tất cả các phương án đều sai.
Y đặt X gia công một số quần theo mẫu mã và nguyên vật liệu do Y cung cấp.. Khi đã thực hiện được một nửa công việc, nếu nhận thấy việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình thì X:
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhưng X sẽ không được trả tiền công.
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và sẽ được trả tiền công tương ứng với công việc đã làm.
Vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng sẽ được tăng tiền công.
Có quyền huỷ bỏ hợp đồng.
Y đặt X gia công một số quần theo mẫu mã và nguyên vật liệu do Y cung cấp. Khi X đã thực hiện được một nửa công việc, nếu nhận thấy việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho mình thì Y:
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và phải trả cho X tiền công tương ứng với công việc X đã làm.
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và phải trả cho X toàn bộ tiền công theo hợp đồng đã giao kết.
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải trả tiền công do Y chưa nhận sản phẩm.
Có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và chỉ cần báo cho X biết trước một thời gian hợp lý.
Y đặt X gia công một số quần theo mẫu mã và nguyên vật liệu do Y cung cấp nhưng trong hợp đồng các bên lại không có thoả thuận về tiền công. Trong tình huống này:
Tiền công được xác định theo mức trung bình đối với việc tạo ra sản phẩm cùng loại tại địa điểm gia công và vào thời điểm trả tiền.
Hợp đồng vô hiệu.
Y không phải thanh toán tiền công cho X.
Tiền công được xác định theo mức trung bình đối với việc tạo ra sản phẩm cùng loại tại địa điểm gia công và vào thời điểm giao kết hợp đồng.
X thuê Y vận chuyển 5 tấn hàng từ Hà Nội lên Lào Cai. Trên đường vận chuyển, xe của Y bị nổ lốp, lao xuống vực khiến toàn bộ số hàng bị hư hỏng nặng. Trong tình huống này, nếu hợp đồng không có thoả thuận khác thì:
Y phải bồi thường thiệt hại cho X.
Y không phải bồi thường thiệt hại cho X do đây là sự kiện bất khả kháng.
X phải tự chịu vì đây là rủi ro.
X và Y mỗi người chịu một nửa thiệt hại.
X và Y giao kết hợp đồng dịch vụ, thời hạn hợp đồng là 01 năm. Tuy nhiên, đã hết thời hạn hợp đồng mà Y vẫn chưa hoàn thành xong công việc đã thoả thuận. Nếu Y vẫn tiếp tục thực hiện công việc thì:
Hợp đồng dịch vụ đương nhiên được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận cho đến khi công việc được hoàn thành nếu X biết nhưng không phản đối.
Hợp đồng dịch vụ đương nhiên được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận cho đến khi công việc được hoàn thành nếu X không phản đối.
Hợp đồng dịch vụ đương nhiên kéo dài thêm 01 năm theo nội dung đã thỏa thuận nếu X biết mà không phản đối.
Hợp đồng dịch vụ đương nhiên đã chấm dứt kể từ thời điểm hết hạn.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng KHÔNG bao gồm:
Lỗi.
Thiệt hại.
Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật.
Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi gây thiệt hại trái pháp luật.
Nhận định nào dưới đây là SAI, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Nếu người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có lỗi hoặc có lỗi vô ý thì họ đương nhiên sẽ được giảm mức bồi thường.
Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.
Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Nhận định nào dưới đây là đúng, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì trong mọi trường hợp cha, mẹ phải dùng tài sản của mình để bồi thường.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì trong mọi trường hợp đều phải bồi thường bằng tài sản của chính mình
Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ dùng tài sản của mình để bổi thường.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại thì:
Không phải bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại trong thời gian trường học trực tiếp quản lý.
Phải dùng tài sản riêng của mình để bồi thường.
Cha, mẹ của người đó phải bồi thường thay trong mọi trường hợp.
Người giám hộ của người đó phải dùng tài sản của mình để bồi thường thay.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì:
Phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Không phải bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại trong thời gian trường học trực tiếp quản lý.
Cha, mẹ của người đó phải dùng tài sản của mình để bồi thường.
Người giám hộ của người đó phải dùng tài sản của mình để bồi thường thay.
Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ:
Được dùng tài sản của người mất năng lực hành vi dân sự để bồi thường.
Phải dùng tài sản của mình để bồi thường do đã có lỗi trong việc giám hộ, để người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại.
Không phải bồi thường nếu chứng minh được người mất năng lực hành vi dân sự không có lỗi trong việc gây thiệt hại.
Phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cùng người mất năng lực hành vi dân sự.
Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ:
Được dùng tài sản của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để bồi thường.
Phải dùng tài sản của mình để bồi thường do đã có lỗi trong việc giám hộ, để người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại.
Không phải bồi thường nếu chứng minh được người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không có lỗi trong việc gây thiệt hại.
Phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cùng người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Người chưa thành niên gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ:
Được dùng tài sản của chưa thành niên để bồi thường.
Phải dùng tài sản của mình để bồi thường do đã có lỗi trong việc giám hộ, để người chưa thành niên gây thiệt hại.
Không phải bồi thường nếu chứng minh được người chưa thành niên không có lỗi trong việc gây thiệt hại.
Phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cùng người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu:
Họ có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
Họ không có lỗi.
Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của họ.
Họ không có lỗi hoặc có lỗi vô ý hoặc thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của họ.
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
03 năm, kể từ ngày hành vi gây thiệt hại xảy ra.
03 năm, kể từ ngày thiệt hại xảy ra.
03 năm, kể từ ngày có thiệt hại.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khi tài sản bị xâm phạm, thiệt hại được bồi thường không bao gồm:
Thiệt hại về tinh thần.
Thiệt hại do tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng
Thiệt hại do lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khi sức khoẻ bị xâm phạm, thiệt hại được bồi thường không bao gồm:
Tổn thất về tinh thần mà người thân thích của người bị thiệt hại phải gánh chịu.
Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại
Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.
Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khi tính mạng bị xâm phạm, thiệt hại được bồi thường không bao gồm:
Tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu.
Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Chi phí hợp lý cho việc mai táng.
Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu các bên không thoả thuận được mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm:
Không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Không quá một trăm lần mức lương
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu các bên không thoả thuận được mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm:
Không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu các bên không thoả thuận được mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm thì mức tối đa cho một người có sức khoẻ bị xâm phạm:
Không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm thì người bị thiệt hại:
Được bồi thường cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Chỉ được bồi thường chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Không được bồi thường thiệt hại vật chất.
Chỉ được bồi thường tổn thất về tinh thần.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại cần người chăm sóc thì người chăm sóc người bị thiệt hại:
Được bồi thường chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại lúc điều trị.
Được bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần.
Được bồi thường cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Chỉ được bồi thường phần thu nhập thực tế bị mất trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại lúc điều trị.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khi sức khoẻ bị xâm phạm:
Người bị thiệt hại được bồi thường cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại được bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần.
Người bị thiệt hại được bồi thường tối đa không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Người bị thiệt hại chỉ được bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khi tính mạng của một người bị xâm phạm:
Những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại được bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần.
Người bị thiệt hại được bồi thường tối đa không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định
Chỉ những người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng mới được bồi thường thiệt hại về tinh thần.
Thiệt hại được bồi thường bao gồm cả chi phí cúng tế, xây mộ, bốc mộ.
Nhận định nào dưới đây là SAI, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Khi tài sản bị xâm phạm, thiệt hại được bồi thường bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Khi sức khoẻ bị xâm phạm, thiệt hại được bồi thường bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Khi tính mạng bị xâm phạm, thiệt hại được bồi thường bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, thiệt hại được bồi thường bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Nhận định nào dưới đây là SAI, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Người gây thiệt hại có thể không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại.
Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
Nhận định nào dưới đây là SAI, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Khi nhiều người gây ra thiệt hại cho một người thì phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người đó.
Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại.
Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người.
Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại nhưng không xác định được mức độ lỗi của từng người cùng gây thiệt hại thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
Nhận định nào dưới đây là đúng, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.
Để được bồi thường thiệt hại thì người bị thiệt hại phải chứng minh lỗi của người gây thiệt hại.
Nếu người gây thiệt hại chứng minh được là mình không có lỗi thì họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì người gây thiệt hại đương nhiên phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Nhận định nào dưới đây là đúng, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
Nếu bên bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường.
Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại.
Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi.
Nhận định nào dưới đây là đúng, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Khi con dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì có thể cha, mẹ không phải bồi thường.
Con chưa đủ 15 tuổi mà gây thiệt hại thì không phải dùng tài sản riêng để bồi thường mà bồi thường bằng tài sản của cha, mẹ.
Cha, mẹ không phải bồi thường thiệt hại do con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây ra.
Cha, mẹ chỉ phải bồi thường thiệt hại do con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây ra nếu cha, mẹ có lỗi.
Nhận định nào dưới đây là đúng, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì không phải bồi thường.
Người có khó khăn trong việc nhận thức gây thiệt hại thì không phải bồi thường.
Trong mọi trường hợp, nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình.
Nhận định nào dưới đây là đúng, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình.
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình
Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì được giảm mức bồi thường.
Hộ gia đình, cá nhân nghèo gây thiệt hại thì được giảm mức bồi thường.
Nhận định nào dưới đây là đúng, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Cha, mẹ không phải bồi thường thiệt hại do con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây ra.
Nếu nhiều người cùng gây thiệt hại thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm kể từ ngày thiệt hại xảy ra.
Nhận định nào dưới đây là SAI, khi nhận xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
Cha, mẹ không phải bồi thường thiệt hại do con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây ra.
Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại.
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng:
Phải bồi thường toàn bộ cho người bị thiệt hại.
Chỉ phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Tất cả các đáp án đều sai
Người gây thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết:
Phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.
Không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Phải bồi thường toàn bộ cho người bị thiệt hại
Tất cả các đáp án đều sai.
Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác:
Phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Không phải bồi thường do họ gây thiệt hại trong lúc không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
Không phải bồi thường do họ không có lỗi.
Chỉ phải bồi thường nếu họ có lỗi cố ý
Khi một người dùng rượu làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì:
Phải bồi thường cho người bị thiệt hại nếu có lỗi cố ý
Không phải bồi thường cho người bị thiệt hại vì họ không phải là người trực tiếp gây ra thiệt hại.
Phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại vì họ đã gián tiếp gây ra thiệt hại.
Chỉ phải bồi thường cho người bị thiệt hại nếu có lỗi.
Khi người của pháp nhân gây thiệt hại thì:
Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao.
Đương nhiên pháp nhân phải bồi thường thiệt hại thay cho người của pháp nhân.
Người của pháp nhân chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, sau đó có thể yêu cầu pháp nhân hỗ trợ một khoản tiền.
Pháp nhân và người của pháp nhân cùng liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại.
Khi người của pháp nhân gây thiệt hại, nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền:
Yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Yêu cầu người gây thiệt hại phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền mình đã bồi thường thay cho người đó.
Yêu cầu người gây thiệt hại phải liên đới chịu trách nhiệm với mình.
Chỉ được yêu cầu người gây thiệt hại phải hoàn trả lại nếu người gây thiệt hại có lỗi cố ý.
Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì:
Trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
Trường học cùng cha, mẹ của người chưa đủ mười lăm tuổi phải liên đới bồi thường thiệt hại xảy ra
Trường học cùng người giám hộ của người chưa đủ mười lăm tuổi phải liên đới bồi thường thiệt hại xảy ra.
Cha, mẹ của người chưa đủ mười lăm tuổi phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì:
Trường học không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý.
Trường học không phải bồi thường nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người chưa đủ mười lăm tuổi.
Trường học không phải bồi thường nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra là do lỗi của người bị thiệt hại.
Tất cả các phương án đều đúng.
Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện trực tiếp quản lý thì:
Bệnh viện phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phát sinh do người mất năng lực hành vi dân sự không có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Bệnh viện và người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện trực tiếp quản lý thì:
Bệnh viện không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phát sinh do người mất năng lực hành vi dân sự không có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Bệnh viện không phải bồi thường nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra là do lỗi của người bị thiệt hại.
Tất cả các phương án đều đúng.
Khi người làm công, người học nghề gây thiệt hại thì:
Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao.
Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại thay cho người làm công, người học nghề.
Người làm công, người học nghề phải tự bồi thường thiệt hại.
Cá nhân, pháp nhân và người làm công, người học nghề phải cùng liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại.
Khi người làm công, người học nghề gây thiệt hại, nếu cá nhân, pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì:
Chỉ được yêu cầu người làm công, người học nghề phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật nếu người này có lỗi trong việc gây thiệt hại.
Được yêu cầu người làm công, người học nghề phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền mình đã bồi thường thay cho người đó.
Được yêu cầu người làm công, người học nghề phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại với mình.
Chỉ được yêu cầu người làm công, người học nghề phải hoàn trả lại nếu người đó có lỗi cố ý.
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015, nguồn nguy hiểm cao độ KHÔNG bao gồm:
Rắn độc
Phương tiện giao thông vân tải cơ giới
Hổ
Chất độc
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015, nguồn nguy hiểm cao độ KHÔNG bao gồm:
Cá sấu
Chất phóng xạ
Nhà máy công nghiệp đang hoạt động
Oto
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015, nguồn nguy hiểm cao độ KHÔNG bao gồm:
Ong vò vẽ
Chất cháy
Chất độc
Ô tô
Khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại:
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường nếu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ luôn phải bồi thường.
Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì:
Người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
Chủ sở hữu, người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải liên đới bồi thường thiệt hại.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại nếu có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật.
Tất cả các phương án đều sai.
Khi súc vật gây thiệt hại thì:
Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác ngay cả khi không có lỗi.
Người thứ ba phải bồi thường thiệt hại nếu người thứ ba có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác
Người đang chiếm hữu, sử dụng súc vật chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi.
Tất cả các phương án đều đúng.
Khi súc vật gây thiệt hại thì:
Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường theo tập quán (nếu đó là súc vật thả rông theo tập quán) nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Chủ sở hữu súc vật không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được mình không có lỗi.
Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật và chủ sở hữu súc vật phải liên đới bồi thường thiệt hại.
Tất cả các phương án đều đúng.
Khi súc vật gây thiệt hại thì:
Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Người thứ ba và chủ sở hữu phải liên đới bồi thường thiệt hại nếu người thứ ba có lỗi.
Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi.
Khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại:
Nếu người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường cùng chủ sở hữu.
Chủ sở hữu chỉ phải bồi thường nếu có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại.
Chủ sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng khác không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi
Nếu người bị thiệt hại cũng có lỗi thì chủ sở hữu không phải bồi thường.
Khi cây cối gây thiệt hại thì chủ sở hữu:
Phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi chứng minh được mình không có lỗi.
Không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được là mình không có lỗi.
Không phải bồi thường thiệt hại nếu người bị thiệt hại cũng có lỗi.
Phải liên đới bồi thường thiệt hại cùng người được giao quản lý cây cối.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể
Thiệt hại được bồi thường bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Mức bồi thường tối đa đối với mỗi thi thể bị xâm phạm không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Thiệt hại được bồi thường chỉ bao gồm những chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Tất cả các phương án đều đúng.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể:
Nếu không thỏa thuận được mức bồi thường thiệt hại về tinh thần thì mức tối đa đối với mỗi thi thể bị xâm phạm không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Chỉ những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết mới được bồi thường thiệt hại về tinh thần.
Chỉ người trực tiếp nuôi dưỡng người chết mới được bồi thường thiệt hại về tinh thần.
Thiệt hại được bồi thường chỉ gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể:
Do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi thi thể bị xâm phạm không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Luôn theo sự thoả thuận của các bên.
Do Toà án ấn định.
Tối đa không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Người được bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trường hợp mồ mả bị xâm phạm là:
Những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết.
Những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết.
Tất cả những người thân thích thuộc ba hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết.
Những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người mà người chết trực tiếp nuôi dưỡng.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả:
Thiệt hại được bồi thường bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Mức bồi thường tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Thiệt hại được bồi thường chỉ bao gồm những chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Tất cả các phương án đều đúng.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả:
Nếu không thỏa thuận được mức bồi thường thiệt hại về tinh thần thì mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Chỉ những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết mới được bồi thường thiệt hại về tinh thần.
Chỉ người trực tiếp nuôi dưỡng người chết mới được bồi thường thiệt hại về tinh thần.
Thiệt hại được bồi thường chỉ gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả:
Do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Luôn theo sự thoả thuận của các bên.
Do Toà án ấn định.
Tối đa không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả:
Cá nhân, pháp nhân xâm phạm đến mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại.
Cá nhân, pháp nhân xâm phạm đến mồ mả của người khác chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi.
Người chưa thành niên xâm phạm đến mồ mả của người khác thì không phải bồi thường thiệt hại.
Người mất năng lực hành vi dân sự xâm phạm đến mồ mả của người khác thì không phải bồi thường thiệt hại.
Anh A đang đi trên vỉa hè thì bị anh B đi xe máy phóng nhanh lao lên vỉa hè đâm vào khiến anh A bị thương nặng. Trong tình huống này:
Anh B phải bồi thường thiệt hại cho anh A ngay cả khi anh B chứng minh được mình không có lỗi
Anh A chỉ được bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được anh B có lỗi.
Anh B không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được mình không có lỗi.
Anh B không phải bồi thường thiệt hại nếu anh A cũng có lỗi.
A là sinh viên, đi làm thêm tại nhà hàng X. Một lần, khi đang bê đồ phục vụ khách hàng, không may A bị trượt chân khiến toàn bộ nồi lẩu đổ vào người khách là B, làm B bị bỏng nặng. Trong tình huống này:
Nhà hàng X chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra.
Nhà hàng X chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
A chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vì thiệt hại là do A gây ra.
Nhà hàng X và A cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
M là sinh viên, đi làm thêm tại nhà hàng X. Trong thời gian làm việc, do có mâu thuẫn với N – là nhân viên của nhà hàng X – nên M đã đánh N ngay tại nhà hàng, khiến N bị thương nặng. Trong tình huống này:
M chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho N.
Nhà hàng X chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho N. Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra.
Nhà hàng X chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho N. Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
M không phải bồi thường thiệt hại cho N nếu chứng minh được N cũng có lỗi.
Do có mâu thuẫn với N nên M đã lợi dụng đêm tối để đốt nhà của N. Khi xe cứu hoả vào chữa cháy, do ngõ bé nên đã phải đập bớt một phần tường nhà anh X để lấy lối cho xe vào. Trong tình huống này:
M phải bồi thường thiệt hại cho anh X.
N phải bồi thường thiệt hại cho anh X vì xe cứu hoả vào là để chữa cháy cho nhà N; sau đó N có quyền yêu cầu M hoàn trả.
Bên cứu hoả phải bồi thường thiệt hại cho anh X.
Anh X không được bồi thường thiệt hại vì thiệt hại xảy ra là do tình thế cấp thiết.
Cháu X – 16 tuổi – trên đường đi học về bằng xe đạp đã va phải cụ Y, làm cụ ngã ra đường, gãy tay. Trong tình huống này:
Cháu X phải bồi thường cho cụ Y bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ X phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Cha, mẹ X phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho cụ Y; nếu tài sản của cha, mẹ X không đủ để bồi thường mà X có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.
Cha, mẹ X phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho cụ Y nhưng nếu cha, mẹ X chứng minh được mình không có lỗi thì không phải bồi thường.
Cụ Y không được bồi thường do X chưa thành niên.
Anh M bị mất năng lực hành vi dân sự, đã dùng đá ném vào cửa kính nhà hàng xóm, khiến anh N bị thương. Trong tình huống này:
Người giám hộ của anh M được dùng tài sản của anh M để bồi thường cho anh N; nếu anh M không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Người giám hộ của anh M dùng tài sản mình để bồi thường cho anh N; nếu người giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì được lấy tài sản của anh M để bồi thường phần còn thiếu; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phát sinh; anh N không được bồi thường vì anh M gây thiệt hại trong lúc bị mất năng lực hành vi dân sự, không có lỗi.
Anh M phải bồi thường thiệt hại cho anh N nhưng anh M sẽ được giảm mức bồi thường do bị mất năng lực hành vi dân sự.
Cháu K – 14 tuổi – trên đường đi học về bằng xe đạp đã va phải cụ H, làm cụ ngã ra đường, gãy tay. Trong tình huống này:
Cha, mẹ K phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho cụ H; nếu tài sản của cha, mẹ K không đủ để bồi thường mà K có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.
Cháu K phải bồi thường cho cụ H bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ K phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Cha, mẹ K phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho cụ H nhưng nếu cha, mẹ K chứng minh được mình không có lỗi thì không phải bồi thường.
Cụ H không được bồi thường do K chưa thành niên.
X và Y cùng nhau dàn cảnh để cướp xe của chị M. Khi X áp sát, đạp chị N khiến chị ngã ra đường thì Y leo lên xe chị N và tẩu thoát. Trong lúc ngã, chiếc điện thoại chị N bị văng lên vỉa hè. Z thấy vậy đã nhặt lên, cất giấu rồi mang đi bán. Trong tình huống này:
Trách nhiệm của X và Y là trách nhiệm liên đới; trách nhiệm của Z là riêng rẽ.
X, Y và Z chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho chị N.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của X, Y, Z được xác định tương ứng theo mức độ lỗi của từng người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì ba người phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
X, Y và Z đều phải bồi thường thiệt hại cho chị N; ba người phải bồi thường theo phần bằng nhau.
Trên đường đi làm đồng về, do anh X bấm còi xe ô tô khiến con trâu của anh Y bị giật mình, lồng lên húc vào anh M khiến anh M bị thương. Trong tình huống này:a
Anh Y phải bồi thường thiệt hại cho anh M. Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra.
Anh X phải bồi thường thiệt hại cho anh M. Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Anh X và anh Y phải liên đới bồi thường thiệt hại cho anh M do cả hai anh cùng có lỗi.
Anh X phải bồi thường thiệt hại cho anh M, do anh X có lỗi.
Trên đường đi làm về, chị M dừng xe máy bên đường để mua hoa quả. Khi xuống xe để trả tiền, do sơ suất chị M quên không rút chìa khoá. Thấy vậy, N đã leo lên xe máy của chị M và tẩu thoát. Trên đường đi, N đã gây tai nạn cho anh X (đang đi ngược chiều). Trong tình huống này:
Chị M và N phải cùng liên đới bồi thường thiệt hại cho anh X.
N phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh X.
Chị M phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh X.
Anh X không được bồi thường thiệt hại do anh X có lỗi khi đi ngược chiều.
H mượn xe máy của M để về quê. Mặc dù biết H chưa có bằng lái nhưng vì nể bạn nên M vẫn cho mượn. Trên đường đi, H đâm vào anh K đang đi ngược chiều khiến anh K bị thương nặng. Trong tình huống này:
H và M phải cùng liên đới bồi thường thiệt hại cho anh K
H phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh K.
M phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh K
Anh K không được bồi thường do anh K có lỗi khi đi ngược chiều.
Lợi dụng đêm tối, M đã đột nhập vào nhà anh N lấy đi chiếc xe máy của anh N. Trên đường tẩu thoát, M đã đâm phải anh K, khi anh K đang vượt đèn đỏ, khiến anh K bị thương nặng. Trong tình huống này:
M phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh K.
N phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh K.
M và N phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh K.
Anh K không được bồi thường thiệt hại do anh K có lỗi khi vượt đèn đỏ.
Anh X thuê chiếc ô tô của anh Y để về quê. Khi về quê, anh Z là bạn của anh X đã mượn chiếc xe để đưa vợ con về bên ngoại. Mặc dù biết bạn chưa có bằng lái nhưng vì nể bạn, anh X vẫn cho bạn mượn. Trên đường đi, anh Z đâm vào cụ M làm cụ M bị thương nặng. Trong tình huống này:
Anh X và anh Z phải liên đới bồi thường thiệt hại cho cụ M.
Anh Z và anh Y phải liên đới bồi thường thiệt hại cho cụ M.
Anh Z phải bồi thường thiệt hại cho cụ M.
Anh X phải bồi thường thiệt hại cho cụ M.
Cháu X (15 tuổi) lấy xe máy của bố (là anh Y) để đi đến nhà bà nội. Khi đi được nửa đường thì bị chị Z, điều khiển xe máy đâm phải, khiến cháu X bị chấn thương sọ não. Trong tình huống này:
Chị Z chỉ phải bồi thường một phần thiệt hại do cháu X cũng có lỗi.
Chị Z phải bồi thường thiệt hại toàn bộ thiệt hại cho cháu X.
Cháu X không được bồi thường thiệt hại do có lỗi vì điều khiển xe máy khi chưa đủ tuổi và không có giấy phép lái xe
Cha, mẹ cháu X phải chịu trách nhiệm do để cháu X điều khiển xe máy khi chưa đủ tuổi và không có giấy phép lái xe
Trên đường đi làm về, khi đi ngang qua nhà anh K, bất ngờ con chó nhà anh K chạy băng qua đường khiến anh M phải phanh gấp, chiếc xe bị đổ xuống, anh M ngã ra đường. Đúng lúc ấy chiếc xe máy do anh H điều khiển phía sau chạy tới, đâm vào anh M khiến anh M bị đa chấn thương. Trong tình huống này:
Anh K và anh H phải liên đới bồi thường thiệt hại cho anh M.
Anh K phải bồi thường thiệt hại cho anh M.
Anh H phải bồi thường thiệt hại cho anh M.
Anh M không được bồi thường thiệt hại.
Trong lúc đang uống nước chè trên vỉa hè, thấy X đi xe máy đang cố giật chiếc túi xách của chị Y, anh Z đã cầm chiếc mũ bảo hiểm ném vào X để X buông tay. Bị ném trúng, X ngã ra đường và bị gãy tay. Trong tình huống này:
Anh Z không phải bồi thường thiệt hại cho X do đây là phòng vệ chính đáng.
Anh Z không phải bồi thường thiệt hại cho X do đây là tình thế cấp thiết.
Anh Z không phải bồi thường thiệt hại cho X do đây là trường hợp bất khả kháng.
Anh Z phải bồi thường thiệt hại vì đã gây thiệt hại cho X.
Nghỉ hè, cháu X (10 tuổi) được bố mẹ cho về nhà ông bà nội chơi. Trong lúc chơi đá bóng, quả bóng của cháu đã đập trúng cụ K đang đi xe đạp khiến cụ K ngã ra đường, bị gãy tay. Trong tình huống này:
Cha, mẹ của cháu X phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho cụ K; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà cháu X có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.
Ông, bà nội của cháu X phải bồi thường thiệt hại cho cụ K do ông bà đang là người giám hộ cháu.
Cháu X phải dùng tài sản riêng của mình để bồi thường thiệt hại cho cụ K.
Cha, mẹ và ông bà nội của cháu X phải liên đới bồi thường thiệt hại cho cụ K
Cháu Q được mẹ mua cho một đôi dép mới. Mỗi lần đi đôi dép lại nháy đèn và phát ra tiếng “chíp chíp” rất vui tai. Cháu rất thích nên đi đôi dép mới ra ngoài đường chơi. Khi đi ngang qua nhà ông H, con chó nhà ông H nghe thấy tiếng dép cháu kêu, bất ngờ vùng lên, nhảy qua tường rào, cắn vào chân cháu Q. Trong tình huống này:
Ông H phải bồi thường thiệt hại cho cháu Q. Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra.
Ông H không phải bồi thường thiệt hại cho cháu Q, bởi ông H không có lỗi, ông đã nhốt con chó trong nhà, không thả rông.
Ông H không phải bồi thường thiệt hại cho cháu Q, việc con chó tấn công cháu Q là do bị kích thích bởi tiếng dép kêu, không phải lỗi của ông.
Cháu Q không được bồi thường thiệt hại.
