Font size
WorksheetsQuiz về Thủy ngân
Total questions: 63
Worksheet time: 33mins
Thủy ngân nguyên tố dễ bốc hơi ở nhiệt độ thường.
Đúng
Sai
Thủy ngân không tan trong dung dịch acid hydrochloric loãng, acid sulfuric nguội và dung dịch kiềm.
Đúng
Sai
Thủy ngân là nguyên tố có tỷ lệ so khối lượng Trái đất chỉ cỡ vài chục ppm.
Đúng
Sai
Một số vi sinh vật có thể biến đổi thủy ngân vô cơ thành methyl thủy ngân tích lũy sinh học trong các loại cá lớn ăn thịt.
Đúng
Sai
Thủy ngân là nguyên tố độc nhưng vẫn được ứng dụng rộng rãi trong đời sống và công nghiệp.
Đúng
Sai
Một lượng khá lớn thủy ngân được sử dụng trong công nghiệp sản xuất Cl₂ và NaOH bằng phương pháp điện phân.
Đúng
Sai
Một số vật liệu phế thải từ các thiết bị điện hay máy do không được xử lý phù hợp gây ô nhiễm thủy ngân cho môi trường.
Đúng
Sai
Các bãi khai thác vàng tự phát nguy cơ gây ô nhiễm thủy ngân cho môi trường rất lớn.
Đúng
Sai
Ở điều kiện thường, thủy ngân có thể từ đất, đá, nước vào không khí rồi theo gió, sông suối vận chuyển đi khắp nơi.
Đúng
Sai
Độc tính của thủy ngân tùy thuộc vào dạng hợp chất có thủy ngân và đường tiếp xúc.
Đúng
Sai
Thủy ngân vô cơ khó xâm nhập vào cơ thể, ít ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương, bào thai.
Đúng
Sai
Nếu ăn phải một lượng lớn thủy ngân vô cơ có thể gây tổn thương thận.
Đúng
Sai
Nhiễm methyl thủy ngân có thể làm nhiễm sắc thể bị phá vỡ và ngăn cản sự phân chia tế bào.
Đúng
Sai
Thủy ngân rất độc và không có mùi vị nên thường được dùng để đầu độc.
Đúng
Sai
Có thể bị ngộ độc thủy ngân theo chuỗi thực phẩm.
Đúng
Sai
Thủy ngân không hấp thu qua da.
Đúng
Sai
Dù xâm nhập vào cơ thể qua đường nào thì thủy ngân cũng qua máu và tích lũy nhiều nhất ở gan.
Đúng
Sai
Thủy ngân làm thoái hóa tổ chức vì tạo nên các phức hợp protein rất tan.
Đúng
Sai
Ethyl thủy ngân có thể gây viêm dạ dày ruột.
Đúng
Sai
Cơ chế gây độc chính của thủy ngân là làm hoạt hóa nhóm SH trong các enzym có chứa nhóm thiol.
Đúng
Sai
Khi bị ngộ trường diễn muối thủy ngân qua đường tiêu hóa có thể gây ra các triệu chứng như: xuất hiện viền đen ở nướu kéo dài, hám run, tay chân run, rối loạn tâm thần nhưng ở mức độ nhẹ.
Đúng
Sai
Tốt nhất nên dùng BAL cho ngộ độc hơi thủy ngân và Hg hữu cơ.
Đúng
Sai
Khi bị ngộ độc thủy ngân hữu cơ nên uống DMSA để làm giảm nồng độ Hg trong mô nhất là mô não.
Đúng
Sai
Tiêm bắp BAL trong vòng vài giờ khi nạn nhân uống phải muối thủy ngân vô cơ có thể giảm được tổn thương trên thận.
Đúng
Sai
Có thể tiến hành nguyên tử hóa mẫu chứa dung dịch chứa Hg²⁺ ở nhiệt độ thường.
Đúng
Sai
Phương pháp định lượng thủy ngân bằng chuẩn độ có thể phát hiện việc thừa Hg²⁺ nhờ tạo màu hồng với chỉ thị diphenylcarbazol.
Đúng
Sai
Nếu chỉ muốn phân tích thủy ngân trong mẫu thì nên dùng phương pháp vô cơ hoá bằng các tác nhân nhẹ nhàng để tránh mất mẫu.
Đúng
Sai
BAL (British anti-Lewisite, dimercaprol, HS-CH₂-CH(SH)-CH₂OH) là chất kháng độc đặc hiệu thường được dùng bằng đường uống khi ngộ độc thủy ngân.
Đúng
Sai
Các xử trí khi ngộ độc thủy ngân theo đường uống chủ yếu là chống viêm thận và tổn thương thận.
Sai
Phương pháp định lượng thủy ngân cho kết quả chính xác nhất là dùng AAS với nguyên tử hóa bằng kỹ thuật ngọn lửa.
Đúng
Sai
Trong tự nhiên thủy ngân có thể tồn tại ở:
Dạng kim loại lỏng.
Dạng hơi kim loại trong không khí.
Dạng hợp chất vô cơ trong các quặng.
Thủy ngân còn có thể tồn tại dưới các dạng khác.
Thủy ngân được sử dụng trong:
Nhiều nhà máy sản xuất thiết bị điện.
Xử lý quặng vàng, bạc.
Các máy và dụng cụ đo.
Có thể được sử dụng một số trong các trường hợp trên.
Hoạt động góp phần gây ô nhiễm thủy ngân một cách đáng kể là:
Khai thác mỏ, sản xuất xi măng.
Ngành công nghiệp sử dụng than làm nguồn nhiên liệu.
Cả 2 hoạt động trên.
Các hoạt động trên không liên quan đến việc gây ô nhiễm thủy ngân.
Hoạt động góp phần gây ô nhiễm thủy ngân một cách đáng kể là:
Hỏa táng, nấu kim loại.
Tinh chế vàng.
Cả 2 hoạt động trên.
Các hoạt động trên không liên quan đến việc gây ô nhiễm thủy ngân.
Thủy ngân kim loại chủ yếu độc ở thể hơi vì:
Thủy ngân kim loại rất ít qua đường tiêu hóa.
Hơi thủy ngân hấp thu nhanh qua đường hô hấp.
Có cả 2 nguyên nhân trên.
Cả 2 lý do trên không phải là nguyên nhân.
Ngộ độc thủy ngân có thể xảy ra do:
Ăn cá biển ở một số vùng biển bị ô nhiễm.
Ăn phải ngũ cốc qua xử lý nấm.
Dùng quá liều một số dược phẩm.
Có thể gặp với cả 3 nguyên nhân trên.
Methyl thủy ngân là hợp chất thủy ngân hữu cơ nguy hiểm vì:
Khi liên kết với cystein dễ dàng hấp thu qua đường tiêu hóa.
Dễ hòa tan trong mỡ nên có thể xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương.
Có cả 2 nguyên nhân trên.
Cả 2 lý do trên không phải là nguyên nhân.
Phụ nữ mang thai cần tránh bị ngộ độc với methyl thủy ngân vì:
Bào thai nhạy cảm với methyl thủy ngân hơn người lớn rất nhiều.
Methyl thủy ngân gây ra sự phá hoại không hồi phục hệ thần kinh trung ương.
Có cả 2 nguy cơ trên.
Cả 2 nội dung trên không phải là nguy cơ với bào thai của methyl thủy ngân.
Trong tự nhiên, Hg là nguyên tố vết nhưng vẫn có nguy cơ ô nhiễm do:
Một số hoạt động công nghiệp không được xử lý chất thải tốt.
Một số hoạt động trong nông nghiệp.
Từ các rác thải sinh hoạt của hộ dân.
Có thể bị ô nhiễm từ 3 nguồn trên.
Cơ chế gây độc của thủy ngân là làm thoái hóa tổ chức vì:
Tạo nên các phức hợp protein rất tan.
Ức chế enzym do tác dụng lên nhóm SH gây rối loạn chuyển hóa màng tế bào.
Có cả 2 nguyên nhân trên.
Cả 2 nội dung trên không phải là cơ chế gây độc của thủy ngân.
Thủy ngân dưới dạng ion Hg²⁺ rất độc do tác động bất hoạt mạnh các enzym cơ bản:
Có chứa 1 nhóm -SH.
Có chứa 2 nhóm -SH.
Có chứa 3 nhóm -SH.
Không chứa nhóm -SH.
Các hợp chất thủy ngân gây độc đối với cơ thể do có thể kết hợp với:
Một số tác nhân chứa 1 nhóm -SH.
Một số tác nhân chứa 2 nhóm -SH.
Có thể xảy ra với cả 2 loại tác nhân trên.
Các loại tác nhân trên không ảnh hưởng đến việc gây độc của thủy ngân.
Hầu hết các hợp chất thủy ngân sau khi xâm nhập vào các tổ chức đều tích lũy dưới dạng:
Ion thủy ngân (II) Hg²⁺.
Ion thủy ngân (I) Hg₂²⁺.
Thủy ngân kim loại.
Cả 3 dạng trên đều không phải là kiểu tích lũy phổ biến.
Hợp chất nào trong các tên sau là chất kháng độc đặc hiệu có thể dùng cho cấp cứu và điều trị nhiễm độc thủy ngân:
BAL
Dimercaprol
Succimer
Cả 3 trường hợp trên đều là các chất kháng độc đặc hiệu với thủy ngân.
Chất kháng độc đặc hiệu nào thường dùng dưới dạng tiêm khi cấp cứu và điều trị nhiễm độc thủy ngân:
Dimercaprol
Succimer
Acid 2,3 dimercapto succinic
Cả 3 trường hợp trên đều thường dùng dưới dạng tiêm bắp.
Chất kháng độc đặc hiệu nào thường dùng dưới dạng uống khi cấp cứu và điều trị nhiễm độc thủy ngân:
BAL
Dimercaprol
Acid 2,3 dimercapto succinic.
Cả 3 trường hợp trên đều thường dùng dưới dạng uống.
Chất kháng độc đặc hiệu đối với thủy ngân nào chỉ được kể tên một lần trong các tên sau:
Dimercaprol
Succimer
DMSA
Acid 2,3 dimercapto succinic
Triệu chứng khi bị ngộ độc cấp do hít phải hơi thủy ngân là:
Gây kích ứng phổi, nồng độ cao có thể viêm phổi nặng và phù phổi.
Viêm nướu cấp.
Có thể có cả 2 triệu chứng trên.
Các triệu chứng trên không phải của ngộ độc cấp do hít phải hơi thủy ngân.
Triệu chứng khi bị ngộ độc cấp do thủy ngân (II) clorid (HgCl₂) qua đường tiêu hóa là:
Có cảm giác cháy rát ở miệng, thực quản và dạ dày, xuất huyết tiêu hóa.
Viêm nướu, tiết nước bọt nhiều, hơi thở hôi, răng bị lung lay.
Có thể có các triệu chứng trên.
Các triệu chứng trên không xuất hiện khi ngộ độc HgCl₂ qua đường tiêu hóa.
Sau khi bị ngộ độc cấp do thủy ngân (II) clorid (HgCl₂) qua đường tiêu hóa vài ngày các tổn thương đối với thận có thể là:
Suy thận cấp do hoại tử ống thận: viêm thận, tiểu ít hay bí tiểu.
Ure huyết tăng, thân nhiệt giảm, hôn mê và chết.
Phù tạng bị huỷ hoại nặng khó hồi phục
Có thể có các nguy cơ trên
Khi ngộ độc trường diễn do hít phải hơi thủy ngân có thể có triệu chứng:
Run tay, đau đầu chi.
Nhức đầu, mệt mỏi, mất ngủ, biếng ăn, bồn chồn, mất trí nhớ, dễ bị kích thích.
Viêm nướu và miệng, tiết nước bọt nhiều.
Có thể có một số trong các triệu chứng trên.
Methyl thủy ngân gây ra tác động chủ yếu là:
Gây hội chứng rối loạn vận động.
Rối loạn phát âm, giảm thính lực.
Gây quái thai mạnh.
Methyl thủy ngân có thể gây ra các tác động trên đối với cơ thể.
Để trung hòa chất độc khi uống phải muối Hg vô cơ cần xử lý:
Tiêm bắp BAL trong vòng vài giờ.
Uống DMSA nên kết hợp với sử dụng BAL.
Truyền hay tiêm tĩnh mạch chậm rongalit.
Có thể chọn lựa một trong các cách xử trí trên.
Các muối Hg²⁺ tạo với dithizon:
Một phức màu vàng cam.
Một phức màu đỏ tía.
Một tủa màu vàng cam.
Một tủa màu đỏ tía.
Trong phản ứng định tính Hg²⁺ bằng tạo hỗn hống trên bề mặt mảnh đồng sạch, để khẳng định lớp sáng bóng là hỗn hống của thủy ngân người ta làm thêm phản ứng tạo tạo sản phẩm màu hồng với:
Iod tinh thể.
Đồng (I) iodid (Cu₂I₂).
Có thể sử dụng một trong các tác nhân trên.
Các tác nhân trên chưa giúp nhận diện hỗn hống thủy ngân.
Các muối Hg²⁺ cho kết tủa màu đỏ HgI₂ với dung dịch KI với đặc điểm:
Phản ứng diễn ra ở môi trường trung tính hay acid nhẹ.
Tủa tan trong thuốc thử thừa.
Có cả 2 đặc điểm trên.
Cả 2 đặc điểm trên không phải của phản ứng trên.
Quá trình vô cơ hóa để chuyển lượng thủy ngân có mặt trong mẫu về dạng Hg²⁺ hòa tan không nên dùng tác nhân oxy hóa nào sau đây:
HNO₃ đặc.
Hỗn hợp H₂SO₄ và HNO₃
Dung dịch H₂O₂ 30%
Dung dịch KMnO₄ 5%
Trong kỹ thuật hóa hơi lạnh, với môi trường acid mạnh, người ta sẽ chuyển Hg²⁺ thành thủy ngân kim loại bằng cho tác dụng với tác nhân:
SnCl₂.
NaBH₄.
Có thể dùng một trong 2 tác nhân trên.
Cả 2 tác nhân trên không chuyển được Hg²⁺ thành thủy ngân kim loại.
Người ta có thể định lượng Hg²⁺ bằng đo quang sau khi làm phản ứng tạo màu với:
Dung dịch KI trong môi trường acid nhẹ, sau đó với Cu₂I₂.
Dithizon ở pH từ 0,5 - 1 trong dung môi CCl₄.
Có thể dùng một trong 2 tác nhân trên.
Cả 2 tác nhân trên không tạo được sản phẩm màu với Hg²⁺.
Rongalit (natri oxymethylen sulfoxylat) được dùng trong ngộ độc muối thủy ngân để:
Để tạo kết tủa.
Hấp phụ bớt tác nhân gây độc.
Để tạo hợp chất ít hấp thu.
Cả 3 yếu tố trên.
Anh (chị) hãy điền từ (hay một số từ) vào chỗ còn thiếu (...)
(a)
Các muối Hg²⁺ tạo với (...) một hợp chất phức màu vàng cam bền vững.
(a)
Nguyên tắc của phương pháp định lượng bằng chuẩn độ là Hg²⁺ kết hợp với anion Cl⁻ tạo thành hợp chất HgCl₂ ít phân ly và khi đạt đến điểm tương đương, phát hiện việc thừa Hg²⁺ bằng chỉ thị (...) (xuất hiện màu tím xanh).
(a)
