Font size
WorksheetsBỘ CÂU HỎI PHÁT TRIỂN TỪ ĐỀ MINH HỌA NĂM 2025
Total questions: 95
Worksheet time: 55mins
Địa hình của miền chủ yếu là dải núi thấp và đồng bằng, có nhiều dãy núi hướng vòng cung. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh và kéo dài nhất nước ta. Cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu là rừng nhiệt đới ẩm gió mùa. Ngoài ra, ở vùng núi cao có sự xuất hiện của các loài sinh vật cận nhiệt và ôn đới.
Đúng
Sai
Địa hình của miền chủ yếu là dải núi thấp và đồng bằng, có nhiều dãy núi hướng vòng cung. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh và kéo dài nhất nước ta. Cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu là rừng nhiệt đới ẩm gió mùa. Ngoài ra, ở vùng núi cao có sự xuất hiện của các loài sinh vật cận nhiệt và ôn đới. Trong miền, thành phần loài sinh vật nhiệt đới chiếm ưu thế với các kiểu rừng nhiệt đới ẩm gió mùa, rừng trên núi đá vôi.
Đúng
Sai
Địa hình của miền chủ yếu là dải núi thấp và đồng bằng, có nhiều dãy núi hướng vòng cung. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh và kéo dài nhất nước ta. Cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu là rừng nhiệt đới ẩm gió mùa. Ngoài ra, ở vùng núi cao có sự xuất hiện của các loài sinh vật cận nhiệt và ôn đới. Thực vật chính của miền là các cây họ dầu, sang lẻ, têch,... Ở những nơi có mùa khô sâu sắc, kéo dài xuất hiện cây chịu hạn, rụng lá.
Đúng
Sai
Địa hình của miền chủ yếu là dải núi thấp và đồng bằng, có nhiều dãy núi hướng vòng cung. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh và kéo dài nhất nước ta. Cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu là rừng nhiệt đới ẩm gió mùa. Ngoài ra, ở vùng núi cao có sự xuất hiện của các loài sinh vật cận nhiệt và ôn đới.
Đúng
Sai
Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ gồm khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ cùng với vùng biển rộng lớn, nhiều đảo và quần đảo. Ranh giới của miền tính từ dãy Bạch Mã trở vào phía nam. Miền có đặc điểm về địa hình, khí hậu và động, thực vật mang tính đặc trưng của khí hậu cận xích đạo.
Đúng
Sai
Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ gồm khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ cùng với vùng biển rộng lớn, nhiều đảo và quần đảo. Ranh giới của miền tính từ dãy Bạch Mã trở vào phía nam. Miền có đặc điểm về địa hình, khí hậu và động, thực vật mang tính đặc trưng của khí hậu cận xích đạo. Cấu trúc địa hình của miền khá phức tạp, núi cao và trung bình chiếm ưu thế, địa hình bị chia cắt mạnh và hiểm trở nhất nước ta.
Đúng
Sai
Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ gồm khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ cùng với vùng biển rộng lớn, nhiều đảo và quần đảo. Ranh giới của miền tính từ dãy Bạch Mã trở vào phía nam. Miền có đặc điểm về địa hình, khí hậu và động, thực vật mang tính đặc trưng của khí hậu cận xích đạo. Bờ biển khúc khuỷu, có nhiều vịnh biển sâu được che chắn bởi các dãy đèo ven bờ, ngoài khơi có nhiều quần đảo, tiêu biểu nhất là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Đúng
Sai
Đặc điểm tự nhiên của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ với miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ có những nét tương đồng nhau về địa hình, khí hậu, cảnh quan tự nhiên. Tuy nhiên, giữa hai miền có những đặc điểm khác biệt nhau về thiên nhiên
Đúng
Sai
Đặc điểm tự nhiên của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ với miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ có những nét tương đồng nhau về địa hình, khí hậu, cảnh quan tự nhiên. Tuy nhiên, giữa hai miền có những đặc điểm khác biệt nhau về thiên nhiên. Khí hậu miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ chịu tác động của gió mùa Đông Bắc sâu sắc hơn so với miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
Đúng
Sai
Đặc điểm tự nhiên của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ với miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ có những nét tương đồng nhau về địa hình, khí hậu, cảnh quan tự nhiên. Tuy nhiên, giữa hai miền có những đặc điểm khác biệt nhau về thiên nhiên
Đúng
Sai
Địa hình núi cao, chia cắt mạnh và hiểm trở nhất nước ta. Các dãy núi xen kẽ các thung lũng theo hướng tây bắc – đông nam, có nhiều bề mặt cao nguyên và lòng chảo, ven biển có nhiều cồn cát, đầm phá, bãi tắm đẹp, các đồng bằng nhỏ và bị chia cắt.
Đúng
Sai
Vị trí địa lí và địa hình có ảnh hưởng tới khí hậu của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ.
Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ gồm vùng Đồng bằng sông Hồng, dải bờ phần lãnh thổ nằm trong phạm vi từ 20°B đến 23°23'B, giáp biển Đông và nằm trong khu vực gió mùa Châu Á.
Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ chủ yếu là vùng núi cao, không giáp biển và không chịu ảnh hưởng của gió mùa.
Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ nằm hoàn toàn trong khu vực nhiệt đới gió mùa khô hạn, không có đồng bằng lớn.
Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ chỉ gồm các đảo ven bờ, không có vùng đồng bằng hay núi thấp.
Cho thông tin sau: Sự phân hoá của thiên nhiên theo chiều Đông - Tây được thể hiện khá rõ ở vùng đồi núi nước ta. Vùng núi Đông Bắc là nơi có mùa đông lạnh nhất cả nước, về mùa đông nhiệt độ hạ xuống rất thấp, thời tiết hanh khô, thiên nhiên mang tính chất cận nhiệt đới gió mùa. Vùng núi Tây Bắc có mùa đông tương đối ấm và khô hanh, ở các vùng núi thấp cận quan mang tính chất nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên ở các vùng núi cao cận quan thiên nhiên lại giống vùng ôn đới. Hãy chọn đáp án đúng.
Vùng núi Đông Bắc có mùa đông lạnh nhất cả nước.
Vùng núi Tây Bắc có mùa đông ấm hơn, khô hanh do vị trí và ảnh hưởng của các dãy núi hướng tây bắc - đông nam đã ngăn cản gió mùa Đông Bắc.
Tại các vùng núi cao Tây Bắc có nhiệt độ hạ thấp do địa hình hút gió mùa Đông Bắc.
Một số nơi có địa hình cao vùng Tây Bắc có cảnh quan thiên nhiên như vùng ôn đới do ảnh hưởng của địa hình núi cao và có hướng tây bắc – đông nam.
Quan niệm Tín phong bán cầu Bắc thổi trên lãnh thổ nước ta và Biển Đông. Tuy mùa và thời điểm mà mỗi gió có sự thay đổi về tính chất và hướng thổi. Vào mùa xuân, Tín phong bán cầu Bắc có tính độc lập nhất. Khi đó, hai luồng gió mùa đều yếu, Tín phong bán cầu Bắc thổi từ phía tây nam của áp cao cận chí tuyến Tây Thái Bình Dương vào nước ta theo hướng đông nam rõ rệt. Hãy chọn đáp án đúng.
Tín phong bán cầu Bắc hoạt động đồng thời với gió mùa và làm thay đổi tính chất của gió mùa.
Tín phong bán cầu Bắc gây ra hiện tượng ẩm vào cuối mùa đông ở db ven biển Nam Bộ.
Thời tiết nắng ấm, khô hanh trong mùa đông ở miền Bắc là do Tín phong bán cầu Bắc gây ra.
Gió tây nam từ Bắc Ấn Độ Dương, Tín phong bán cầu Bắc, áp thấp nhiệt đới, bão là nguyên nhân chủ yếu làm cho đồng bằng ven biển miền Trung có mưa nhiều vào tháng 9.
Vị trí địa lí và đặc điểm địa hình phức tạp của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ khiến cho khí hậu ở đây có nét khác biệt so với miền liền kề cận và ngay cả giữa các khu vực trong phạm vi miền. Sự giảm đi một nửa tán số rừng cực xâm nhập vào khu vực Tây Bắc so với miền Bắc và Đông Bắc Bộ, sự suy yếu và biến tính mạnh các khối khí cực đới khi di chuyển xuống phía nam đã làm tăng tính chất cận miền, biểu hiện rõ rệt khi so sánh nhiệt độ tháng 1. So với miền Bắc và Đông Bắc Bộ thì miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ có nhiệt độ trung bình năm cao hơn 2ºC và nhiệt độ trung bình tháng 1 cao hơn 4 - 5ºC.
Mùa đông ở miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ ngắn và ấm hơn miền Bắc và Đông Bắc Bộ.
Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ có gió phơn hoạt động mạnh đầu hạ do ảnh hưởng của Tín phong bán cầu Nam.
Nhiệt độ trung bình năm ở miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ cao hơn miền Bắc và Đông Bắc Bộ chủ yếu do nhân tố vị trí địa lí, địa hình và gió.
Tính chất nhiệt đới của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ tăng dần về phía nam chủ yếu do sự suy yếu của gió mùa Đông Bắc và hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới.
Sự phân hoá theo độ cao chỉ diễn ra ở các vùng núi. Núi càng cao thì sự phân hoá càng biểu hiện rõ rệt. Ở các miền núi có sự giảm dần của nhiệt độ theo độ cao. Sở dĩ có hiện tượng này là do sự tăng nhanh của bức xạ sóng dài của bề mặt đất khiến cho cán cân bức xạ có chiều hướng giảm đi mỗi khi lên cao. Mặt khác lượng mưa ở các vùng núi cao tăng lên do lượng mưa lớn lượng bốc hơi giảm đi.
a) Các dãy núi như Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn thường có lượng mưa lớn ở các vùng thấp.
b) Ở các sườn núi đón gió, lượng mưa thường cao hơn nhiều do không khí bị ép lên cao, nguội đi và ngưng tụ.
Đặc trưng về khí hậu của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ là sự giảm sút ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình năm tăng dần và biên độ nhiệt độ giảm. Dãy Hoàng Liên Sơn ngăn cản sự xâm nhập trực tiếp của gió mùa Đông Bắc vào khu vực Tây Bắc làm cho mùa đông ở Tây Bắc ấm và ngắn hơn Đông Bắc. Do tác động bức chắn của dãy Trường Sơn Bắc, hình thành gió Tây khô nóng ở Bắc Trung Bộ vào đầu mùa hạ.
Đúng
Sai
Đặc trưng về khí hậu của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ là sự giảm sút ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình năm tăng dần và biên độ nhiệt độ giảm. Dãy Hoàng Liên Sơn ngăn cản sự xâm nhập trực tiếp của gió mùa Đông Bắc vào khu vực Tây Bắc làm cho mùa đông ở Tây Bắc ấm và ngắn hơn Đông Bắc. Do tác động bức chắn của dãy Trường Sơn Bắc, hình thành gió Tây khô nóng ở Bắc Trung Bộ vào đầu mùa hạ. Do vị trí và đặc điểm lãnh thổ nên gió mùa Đông Bắc khi di chuyển đến miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ bị biến tính, suy yếu.
Đúng
Sai
Đặc trưng về khí hậu của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ là sự giảm sút ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình năm tăng dần và biên độ nhiệt độ giảm. Dãy Hoàng Liên Sơn ngăn cản sự xâm nhập trực tiếp của gió mùa Đông Bắc vào khu vực Tây Bắc làm cho mùa đông ở Tây Bắc ấm và ngắn hơn Đông Bắc. Do tác động bức chắn của dãy Trường Sơn Bắc, hình thành gió Tây khô nóng ở Bắc Trung Bộ vào đầu mùa hạ.
Đúng
Sai
Đặc trưng về khí hậu của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ là sự giảm sút ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình năm tăng dần và biên độ nhiệt độ giảm. Dãy Hoàng Liên Sơn ngăn cản sự xâm nhập trực tiếp của gió mùa Đông Bắc vào khu vực Tây Bắc làm cho mùa đông ở Tây Bắc ấm và ngắn hơn Đông Bắc. Do tác động bức chắn của dãy Trường Sơn Bắc, hình thành gió Tây khô nóng ở Bắc Trung Bộ vào đầu mùa hạ.
Đúng
Sai
Quanh năm gió Tín phong thổi trên lãnh thổ nước ta và biển Đông, nhưng tùy mùa mà tính chất của nó có thay đổi. Gió Tín phong có dạng độc lập nhất vào mùa xuân, khi hai luồng gió mùa đều yếu, khi đó nó xuất phát từ rìa tây nam của cao áp Thái Bình Dương và có hướng đông nam rõ rệt. Trong mùa hè, gió Tín phong thường thổi xen kẽ với các đợt gió mùa tây nam. Sang thu - đông, gió Tín phong thường phụ thuộc vào cao áp Xibia và thổi theo hướng đông bắc.
Đúng
Sai
Quanh năm gió Tín phong thổi trên lãnh thổ nước ta và biển Đông, nhưng tùy mùa mà tính chất của nó có thay đổi. Gió Tín phong có dạng độc lập nhất vào mùa xuân, khi hai luồng gió mùa đều yếu, khi đó nó xuất phát từ rìa tây nam của cao áp Thái Bình Dương và có hướng đông nam rõ rệt. Trong mùa hè, gió Tín phong thường thổi xen kẽ với các đợt gió mùa tây nam. Sang thu - đông, gió Tín phong thường phụ thuộc vào cao áp Xibia và thổi theo hướng đông bắc. Do tác động của gió Tín phong bán cầu Bắc, vào mùa đông ở miền Bắc thường xuất hiện những ngày nắng ấm xen kẽ những ngày thời tiết âm u.
Đúng
Sai
Quanh năm gió Tín phong thổi trên lãnh thổ nước ta và biển Đông, nhưng tùy mùa mà tính chất của nó có thay đổi. Gió Tín phong có dạng độc lập nhất vào mùa xuân, khi hai luồng gió mùa đều yếu, khi đó nó xuất phát từ rìa tây nam của cao áp Thái Bình Dương và có hướng đông nam rõ rệt. Trong mùa hè, gió Tín phong thường thổi xen kẽ với các đợt gió mùa tây nam. Sang thu - đông, gió Tín phong thường phụ thuộc vào cao áp Xibia và thổi theo hướng đông bắc.
Đúng
Sai
Quanh năm gió Tín phong thổi trên lãnh thổ nước ta và biển Đông, nhưng tùy mùa mà tính chất của nó có thay đổi. Gió Tín phong có dạng độc lập nhất vào mùa xuân, khi hai luồng gió mùa đều yếu, khi đó nó xuất phát từ rìa tây nam của cao áp Thái Bình Dương và có hướng đông nam rõ rệt. Trong mùa hè, gió Tín phong thường thổi xen kẽ với các đợt gió mùa tây nam. Sang thu - đông, gió Tín phong thường phụ thuộc vào cao áp Xibia và thổi theo hướng đông bắc.
Đúng
Sai
Sự diễn biến của gió mùa hạ cũng rất phức tạp, nguồn gốc của các luồng gió mùa mùa hạ cũng không đồng nhất trong thời gian và không gian. Xét về nguồn gốc, gió mùa mùa hạ có khi là tín phong nam bán cầu đổi hướng khi vượt qua xích đạo lên bắc bán cầu, có khi chỉ là gió bắc bán cầu bị hút vào áp thấp nóng Ấn Độ - Mi-an-ma.
Đúng
Sai
Sự diễn biến của gió mùa hạ cũng rất phức tạp, nguồn gốc của các luồng gió mùa mùa hạ cũng không đồng nhất trong thời gian và không gian. Xét về nguồn gốc, gió mùa mùa hạ có khi là tín phong nam bán cầu đổi hướng khi vượt qua xích đạo lên bắc bán cầu, có khi chỉ là gió bắc bán cầu bị hút vào áp thấp nóng Ấn Độ - Mi-an-ma. Gió tây nam đầu mùa gây thời tiết nóng và khô ở ven biển Trung bộ và phần nam của khu vực Tây Bắc nước ta.
Đúng
Sai
Sự diễn biến của gió mùa hạ cũng rất phức tạp, nguồn gốc của các luồng gió mùa mùa hạ cũng không đồng nhất trong thời gian và không gian. Xét về nguồn gốc, gió mùa mùa hạ có khi là tín phong nam bán cầu đổi hướng khi vượt qua xích đạo lên bắc bán cầu, có khi chỉ là gió bắc bán cầu bị hút vào áp thấp nóng Ấn Độ - Mi-an-ma. Kết quả tác động của khối khí nhiệt đới ẩm từ bắc Ấn Độ Dương đến nước ta là làm cho mùa mưa ở Duyên hải miền Trung đến sớm hơn.
Đúng
Sai
Sự diễn biến của gió mùa hạ cũng rất phức tạp, nguồn gốc của các luồng gió mùa mùa hạ cũng không đồng nhất trong thời gian và không gian. Xét về nguồn gốc, gió mùa mùa hạ có khi là tín phong nam bán cầu đổi hướng khi vượt qua xích đạo lên bắc bán cầu, có khi chỉ là gió bắc bán cầu bị hút vào áp thấp nóng Ấn Độ - Mi-an-ma. Tác động của dải hội tụ nhiệt đới ở nước ta là gây mưa lớn vào mùa hạ, tháng mưa cực đại lùi dần từ Bắc vào Nam.
Đúng
Sai
Cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu là đới rừng nhiệt đới gió mùa, tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và đất ở các khu vực mà có các hệ sinh thái rừng khác nhau, như rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, rừng ngập mặn,... Ngoài ra, còn có các hệ sinh thái rừng cận nhiệt đới như rừng cận nhiệt lá rộng thường xanh, rừng lá kim núi cao,... Trong rừng, thành phần loài nhiệt đới chiếm ưu thế, ngoài ra còn có các loài thực vật cận nhiệt đới (dẻ, re,...) và ôn đới (sa mộc, dẻ quỵên,...) cùng các loài thú có lông dày như gấu, chồn,...
Đúng
Sai
Cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu là đới rừng nhiệt đới gió mùa, tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và đất ở các khu vực mà có các hệ sinh thái rừng khác nhau, như rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, rừng ngập mặn,... Ngoài ra, còn có các hệ sinh thái rừng cận nhiệt đới như rừng cận nhiệt lá rộng thường xanh, rừng lá kim núi cao,... Trong rừng, thành phần loài nhiệt đới chiếm ưu thế, ngoài ra còn có các loài thực vật cận nhiệt đới (dẻ, re,...) và ôn đới (sa mộc, dẻ quỵên,...) cùng các loài thú có lông dày như gấu, chồn,...
Đúng
Sai
Cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu là đới rừng nhiệt đới gió mùa, tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và đất ở các khu vực mà có các hệ sinh thái rừng khác nhau, như rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, rừng ngập mặn,... Ngoài ra, còn có các hệ sinh thái rừng cận nhiệt đới như rừng cận nhiệt lá rộng thường xanh, rừng lá kim núi cao,... Trong rừng, thành phần loài nhiệt đới chiếm ưu thế, ngoài ra còn có các loài thực vật cận nhiệt đới (dẻ, re,...) và ôn đới (sa mộc, dẻ quỵên,...) cùng các loài thú có lông dày như gấu, chồn,...
Đúng
Sai
Trên thực tế, chế độ mưa đông không phải thành lập một lần, cao áp Xibia không phải tĩnh tại một chỗ rồi phát gió đi như trên các bản đồ khí áp trung bình, mà trái lại cao áp Xibia là một vùng gió xoáy tản di chuyển từ tây sang đông, đi về áp thấp Aleut, hay chếch về phía đông nam ra mạn Đài Loan và tây Thái Bình Dương rồi biến tính.
Gió mùa Đông Bắc ở nước ta xuất phát từ áp cao Xibia.
Khi vào lãnh thổ Việt Nam, gió mùa Đông Bắc hoạt động liên tục suốt mùa đông.
Hoạt động của gió mùa Đông Bắc làm cho miền Bắc nước ta có mùa đông lạnh kéo dài 2 - 3 tháng.
Vào mùa xuân, gió mùa Đông Bắc di chuyển lệch đông qua biển gây hiện tượng nồm ẩm cho miền Bắc.
Sự diễn biến của gió mùa mùa hạ cũng rất phức tạp, nguồn gốc của các luồng gió mùa mùa hạ cũng không đồng nhất trong thời gian và không gian. Xét về nguồn gốc, gió mùa mùa hạ có khi là tín phong nam bán cầu đổi hướng khi vượt qua xích đạo lên bắc bán cầu, có khi chỉ là gió bắc bán cầu bị hút vào áp thấp nóng Ấn Độ - Mianma.
Gió mùa hạ hoạt động ở nước ta vào thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 năm sau.
Gió tây nam đầu mùa gây thời tiết nóng và khô ở ven biển Trung bộ và phần nam của khu vực Tây Bắc nước ta.
Kết quả tác động của khối khí nhiệt đới ẩm từ bắc Ấn Độ Dương đến nước ta là làm cho mùa mưa ở Duyên hải miền Trung đến sớm hơn.
Tác động của dải hội tụ nhiệt đới ở nước ta là gây mưa lớn vào mùa hạ, tháng mưa cực đại lùi dần từ Bắc vào Nam.
Địa hình đa dạng, đồi núi thấp chiếm ưu thế, hướng của các dãy núi theo hướng vòng cung, cao ở phía bắc, thấp dần về phía nam. Đồng bằng tương đối rộng và bằng phẳng. Địa hình caxtơ khá phổ biến, tiêu biểu ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn...Bờ biển đa dạng: nơi thấp phẳng, nơi nhiều vịnh, đảo như vùng biển tỉnh Quảng Ninh.
Đây là đặc điểm của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ ở nước ta.
Địa hình của miền có nhiều thuận lợi cho phát triển ngành du lịch.
Địa hình thấp, hướng núi vòng cung là điều kiện khiến cho gió mùa Đ.Bắc lấn sâu vào lãnh thổ nước ta.
Các cánh cung tạo bức chắn địa hình với gió mùa Đông Nam gây nên khô hạn kéo dài cho các vùng khuất gió.
Đặc trưng về khí hậu của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ là sự giảm sút ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình năm tăng dần và biên độ nhiệt độ giảm. Dãy Hoàng Liên Sơn ngăn cản sự xâm nhập trực tiếp của gió mùa Đông Bắc vào khu vực Tây Bắc làm cho mùa đông ở Tây Bắc ấm và ngắn hơn Đông Bắc. Do tác động bức chắn của dãy Trường Sơn Bắc, hình thành gió Tây khô nóng ở Bắc Trung Bộ vào đầu mùa hạ.
Tây Bắc có một mùa đông đến muộn và kết thúc sớm, nhiệt độ hạ thấp trong mùa đông chủ yếu do độ địa hình.
Mùa hạ đến sớm do hoạt động của gió mùa tây nam có nguồn gốc từ áp cao Bắc Ấn Độ Dương.
Do vị trí và đặc điểm lãnh thổ nên gió mùa Đông Bắc khi di chuyển đến miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ bị biến tính, suy yếu.
Do các bức chắn địa hình nên vào đầu mùa hạ toàn bộ miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ chịu ảnh hưởng của sức gió phơn Tây Nam khô nóng.
Đặc điểm thời tiết, khí hậu do gió mùa Tây Nam có sự khác nhau từ đầu mùa hạ đến giữa và cuối mùa hạ.
Ngoài tính đa dạng, khí hậu Việt Nam còn rất thất thường, có năm rét sớm, năm rét muộn, năm mưa lớn, năm khô hạn, năm ít bão, năm nhiều bão khiến cho sự theo dõi thời tiết hằng năm để điều khiển thời vụ gieo trồng và việc chọn giống cây chống chịu được thiên tai như rét, hạn, lụt là một đòi hỏi thực tiễn. Như thế, khí hậu nước ta thất thường cả trong chế độ nhiệt, cả trong chế độ mưa.
Nhiệt độ tháng 1 phân hóa Bắc - Nam, mùa đông ở Bắc Bộ nhiệt ổn định.
Nhiệt độ tháng 7 có phân hóa, biên độ nhiệt năm về phía Nam nhỏ dần.
Nguyên nhân chủ yếu làm cho thời tiết ở miền Nam ít biến động hơn miền Bắc vào thời kì mùa đông là do hoạt động của gió Mậu dịch.
Khí hậu vùng Đông Bắc Bộ về mùa đông mang tính thất thường chủ yếu do hoạt động của dải hội tụ nội chí tuyến.
Sự phân hoá của thiên nhiên theo chiều Đông - Tây được thể hiện khá rõ ở vùng đồi núi nước ta. Vùng núi Đông Bắc là nơi có mùa đông lạnh nhất cả nước, về mùa đông nhiệt độ hạ xuống rất thấp, thời tiết hanh khô, thiên nhiên mang tính chất cận nhiệt đới gió mùa. Vùng núi Tây Bắc có mùa đông tương đối ấm và khô hanh, ở các vùng núi thấp cận quan mang tính chất nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên ở các vùng núi cao cận quan thiên nhiên lại giống vùng ôn đới.
Vùng núi Đông Bắc có mùa đông lạnh nhất cả nước.
Vùng núi Tây Bắc có mùa đông ấm hơn, khô hanh do vị trí và ảnh hưởng của các dãy núi hướng tây bắc - đông nam đã ngăn cản gió mùa Đông Bắc.
Tại các vùng núi cao Tây Bắc có nhiệt độ hạ thấp do địa hình hút gió mùa Đông Bắc.
Một số nơi của vùng Tây Bắc có cảnh quan thiên nhiên như vùng ôn đới do ảnh hưởng của địa hình núi cao.
Hệ sinh thái rừng nguyên sinh phổ biến ở nước ta là rừng rậm nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh. Do ảnh hưởng của gió mùa nên nước ta có các loại rừng nhiệt đới gió mùa khác nhau, từ rừng nhiệt đới gió mùa thường xanh, rừng gió mùa rụng lá, rừng thưa khô rụng lá, trảng cỏ, cây bụi,....
Thảm thực vật rừng nước ta đa dạng về kiểu hệ sinh thái là do khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, ít có sự phân hóa.
Sinh vật nhiệt đới chiếm ưu thế nhưng cũng có những loài cây cận nhiệt như dẻ, re, pơ mu, động vật có chó sói, gấu lông dày xuất hiện ở phần lãnh thổ phía Bắc của dãy Bạch Mã.
Ở những vùng núi mưa nhiều, khí hậu ẩm ướt, mùa khô không rõ rệt, hình thành hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh.
Do khí hậu nước ta có sự phân hóa phức tạp theo vĩ độ và độ cao nên thảm thực vật cũng có sự thay đổi theo vĩ độ và độ cao địa hình.
Địa hình miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ khá phức tạp, gồm các dãy núi, cao nguyên badan xếp tầng, đồng bằng châu thổ rộng lớn và đồng bằng nhỏ hẹp ven biển. Trường Sơn Nam là dãy núi lớn, hình cánh cung có sự bất đối xứng giữa sườn đông và sườn tây. Các cao nguyên badan tập trung ở Tây Nguyên và rìa Đông Nam Bộ với diện tích lớn, địa hình tương đối bằng phẳng. Vùng biển, đảo rộng lớn, có nhiều vịnh biển kín như: Quy Nhơn, Vân Phong,... nhiều đảo và quần đảo thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế biển.
Gồm các dãy núi cao, các cao nguyên đá vôi, thung lũng rộng và đồng bằng.
Địa hình đa dạng nhưng chủ yếu là đồi núi thấp và đồng bằng ven biển.
Gồm các khối núi cổ, cao nguyên ba dan, sơn nguyên bở mòn và đồng bằng.
Địa hình có sự phân lạc là do tác động của nội lực và các quá trình ngoại lực.
Quá trình xâm thực do mưa và dòng chảy diễn ra mạnh, làm cho địa hình bị chia cắt hiểm trở. Tại các sườn núi dốc, thường xảy ra các hiện tượng như: đất trượt, đá lở, lũ quét,... Trên các vùng đá vôi, tính chất nhiệt đới ẩm thể hiện ở quá trình các-xtơ (xâm thực hóa học và bồi tụ) diễn ra mạnh mẽ, tạo nên những dạng địa hình các-xtơ nhiệt đới ẩm rất độc đáo như: cánh đồng các-xtơ, hang động.
Quá trình xâm thực làm cho địa hình trở nên bằng phẳng hơn.
Đất trượt, đá lở là hậu quả của quá trình bồi tụ nhanh.
Lũ quét thường xảy ra ở những vùng đất bằng phẳng.
Cảnh đồng các-xtơ và hang động là những dạng địa hình đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm.
Gió mùa Đông bắc có nguồn gốc từ khối không khí lạnh phương Bắc thổi theo hướng Đông Bắc vào Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ và đưa nước ta vào thời kỳ từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Tuy nhiên, chứng chỉ hoạt động theo từng đợt, không kéo dài liên tục. Trong ba tháng đầu (11, 12, 1) gió này sẽ hoạt động mạnh hơn cả. Bởi nó thu hút được khối không khí lạnh đang ở trung tâm lục địa Á – Âu. Lúc này gió sẽ có đặc tính lạnh, khô khi vào đến nước ta. Nửa sau mùa đông còn lại (tháng 2, 3, 4), do các hệ áp đã cũ dần suy yếu và gió mùa đông được thổi qua biển nên mang theo một lượng hơi ẩm cực lớn, gây ra kiểu thời tiết lạnh ẩm, mưa phùn cho các vùng đồng bằng ven biển.
Gió mùa Đông hoạt động mạnh nhất vào nửa đầu mùa đông với đặc tính lạnh, ẩm.
Nửa cuối mùa đông, gió mùa đông thường gây ra mưa phùn cho toàn miền Bắc.
Các vùng núi cao phía Bắc thường bị gây hại nghiêm trọng khi gió mùa đông hoạt động mạnh do thời tiết quá khắc nghiệt.
Gió mùa Đông Bắc thổi vào nước ta theo hướng Đông Bắc và gần như bị chặn lại ở dãy Bạch Mã.
Sự phân hóa theo độ cao chỉ diễn ra ở các vùng núi. Núi càng cao thì sự phân hóa càng biểu hiện rõ rệt. Ở các miền núi có sự giảm đi của nhiệt độ theo độ cao. Sở dĩ có hiện tượng này là do sự tăng nhanh của bức xạ sóng dài của bề mặt đất khiến cho cán cân bức xạ có chiều hướng giảm đi mỗi khi lên cao. Mặt khác lượng ẩm ở các vùng núi cao tăng lên do lượng mưa lớn hơn lượng bốc hơi giảm đi.
Các dãy núi như Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn thường có lượng mưa lớn ở các vùng thấp.
Ở các sườn núi đón gió, lượng mưa thường cao hơn nhiều do không khí bị ép lên cao, nguội đi và ngưng tụ thành mưa.
Ở độ cao khoảng 1000m, khí hậu núi cao đặc trưng với nhiệt độ thấp, mưa đông lạnh và có thể có tuyết.
Vùng núi Trường Sơn Bắc là vùng có sự phân hóa đại cao rõ nhất so với các vùng núi còn lại và là vùng duy nhất có 3 đai cao.
Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, nhiều nước nhưng ít sông lớn. Lượng nước trên hệ thống sông ngòi của nước ta thay đổi theo mùa. Sự chênh lệch lượng nước giữa 2 mùa rất rõ rệt. Trong mùa lũ, nước sông chiếm 60 – 90% lưu lượng cả năm, còn mùa cạn chỉ khoảng 20 – 30%. Tháng đỉnh lũ chiếm 25 – 30% lưu lượng nước cả năm. Nhìn chung, lượng nước sông ngòi của Việt Nam khá phong phú do được kết hợp với lượng nước chảy từ nước ngoài vào. Sông ngòi của nước ta có nhiều phụ lưu, chi lưu. Sông ngòi chảy theo 2 hướng chính: Tây Bắc - Đông Nam và hướng vòng cung.
Chế độ dòng chảy sông ngòi của nước ta phân thành hai mùa do sự phân hóa lượng mưa.
Sông ngòi của nước ta có nhiều phù sa do đất đai hai bên bờ sông tơi xốp, dễ sạt lở cuốn theo dòng nước.
Hướng chảy của sông ngòi nước ta phụ thuộc vào hướng địa hình.
Hầu hết các sông lớn ở nước ta đều bắt nguồn từ nội địa.
Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn. Phía Bắc chịu ảnh hưởng của lục địa Trung Hoa nên ít nhiều mang tính khí hậu lục địa. Biển Đông ảnh hưởng sâu sắc đến tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm của đất liền. Khi hậu nhiệt đới gió mùa ẩm không thuần nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, hình thành nên các miền và vùng khí hậu khác nhau rõ rệt. Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa và theo vĩ độ từ thấp lên cao, từ bắc vào nam và từ đông sang tây. Do chịu sự tác động mạnh
Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa đa dạng theo mùa và theo không gian.
Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt giữa các vùng miền do ảnh hưởng của địa hình và gió mùa.
Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt giữa các vùng miền do ảnh hưởng của vĩ độ và địa hình.
Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt giữa các vùng miền do ảnh hưởng của vĩ độ, địa hình và gió mùa.
Quanh năm gió Tín phong thổi trên lãnh thổ nước ta và tác động chủ yếu vào biển Đông, nhưng tùy mùa mà tính chất của nó có thay đổi. Gió Tín phong có dạng độc lập nhất vào mùa xuân, khi hai luồng gió mùa đều yếu, lề đờ nó xuất phát từ ria tây nam của cao áp Thái Bình Dương và có hướng đông nam rõ rệt. Trong mùa hè, gió Tín phong thường thổi xen kẽ với các đợt gió mùa tây nam. Sang thu - đông, gió Tín phong thường phụ thuộc vào cao áp Xi-bia và thổi theo hướng đông bắc.
Gió Tín phong bán cầu Bắc hoạt động quanh năm trên lãnh thổ nước ta.
Do tác động của gió Tín phong bán cầu Bắc, vào mùa đông ở miền Bắc thường xuất hiện những ngày nắng ấm xen kẽ những ngày thời tiết ẩm u.
Tín phong bán cầu Bắc là nguyên nhân chủ yếu gây ra mùa khô cho Tây Nguyên và Nam Bộ.
Gió Tín phong kết hợp với hoạt động của dải hội tụ gây nên sự phân hóa mưa - khô ở hai sườn dãy Trường Sơn của nước ta.
Lãnh thổ Việt Nam có thiên nhiên rất đa dạng và có sự phân hóa. Tuy thuộc vào các nhân tố tác động mà thiên nhiên phân hóa theo Bắc - Nam, phân hóa theo Đông - Tây và phân hóa theo độ cao địa hình. Đặc điểm này không chỉ thể hiện ở tất cả các thành phần tự nhiên với mức độ khác nhau mà còn ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống xã hội.
Thành phố Đà Lạt ở nước ta có khí hậu mát mẻ, không có tháng nào trên 25°C là biểu hiện của sự phân hóa trong năm theo đai cao.
Đồng bằng sông Hồng có thể trồng được rau quả cận nhiệt và ôn đới là biểu hiện của sự phân hóa lãnh thổ theo Bắc - Nam.
Vị trí và hình thể là nguyên nhân chính dẫn đến sự phân hóa đa dạng của tự nhiên nước ta.
Sự phân hóa đa dạng của tự nhiên là cơ sở để hình thành các vùng kinh tế trọng điểm ở nước ta.
Sự phân hóa theo độ cao chỉ diễn ra ở các vùng núi. Núi càng cao thì sự phân hóa càng biểu hiện rõ rệt. Ở các miền núi có sự gia tăng đi của nhiệt độ theo độ cao. Sở dĩ có hiện tượng này do có sự tăng nhanh của bức xạ sóng dài của bề mặt khiến cho cân cân bức xạ có chiều hướng giảm đi mỗi khi lên cao. Mặt khác, lượng ẩm ở các vùng núi cao tăng lên do có lượng mưa lớn hơn và lượng bốc hơi giảm đi.
Theo độ cao, thiên nhiên nước ta phân thành 3 đai cao.
Sự phân hóa theo độ cao thể hiện thông qua các thành phần tự nhiên là khí hậu, đất và sinh vật.
Vùng lãnh thổ phía Nam của nước ta không có đai ôn đới gió mùa trên núi do vị trí nằm gần xích đạo, nhiệt độ cao.
Sự phân hóa thiên nhiên theo độ cao khiến các vùng núi ở nước ta không phát triển được hoạt động du lịch.
Sự luận phiến của các khối khí hoạt động theo mùa khác nhau cả về hướng và về tính chất đã tạo nên sự phân mùa của khí hậu Việt Nam. Miền Bắc có hai mùa khí hậu là mùa đông lạnh, ít mưa và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; giữa hai mùa có thời kì chuyển tiếp. Miền Nam có mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Giữa Tây Nguyên và đồng bằng ven biển Trung Bộ có sự đối lập về mùa mưa và mùa khô.
Gió mùa Đông Bắc tạo nên một mùa đông lạnh kéo dài 2 - 3 tháng ở miền Bắc nước ta.
Gió Tín phong bán cầu Bắc là nguyên nhân gây nên mùa khô cho Tây Nguyên và Nam Bộ.
Mưa mùa ở miền Trung đến muộn hơn so với cả nước chủ yếu là do tác động của dải hội tụ nhiệt đới.
Mưa ngâu diễn ra vào tháng 8 ở đồng bằng Bắc Bộ, nguyên nhân là do gió mùa Đông Nam.
Câu 31. Sự thất thường trong chế độ nhiệt chủ yếu diễn ra ở miền Bắc, nơi mà gió mùa đông bắc đã mang lại không khí lạnh từ vùng ôn đới, trong khi đó, thường có nhiệt độ thấp xảy ra, giá trị trung bình ở vùng Đông Bắc chỉ khoảng bao nhiêu độ C?
15°C
20°C
25°C
30°C
Hệ quả của quá trình xâm thực, bào mòn mạnh mẽ bề mặt địa hình ở miền đồi núi là sự bồi tụ, hình thành các đồng bằng hạ lưu sông. Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có những khu vực hằng năm mở rộng ra biển từ vài chục đến hàng trăm mét như vùng Kim Sơn (Ninh Bình).
Hai quá trình chính trong sự hình thành và biến đổi địa hình nước ta là bồi mòn và bồi tụ.
Hệ quả của quá trình xâm thực mạnh ở vùng đồi núi là sự mở rộng của đồng bằng hạ lưu.
ĐBSH và Đồng bằng sông Cửu Long là kết quả bồi tụ của sông ngòi trên diện tích địa rộng.
ĐB sông Cửu Long có diện tích lớn hơn ĐBSH do sông ngòi có sản lượng phù sa lớn hơn.
Quá trình hình thành đất feralit, đất có sự tích lũy cao các oxit sắt (Fe2O3) và nhôm (Al2O3), được hình thành dưới điều kiện nhiệt độ cao, lượng mưa dồi dào, khiến sự phong hóa nhanh trên đất thành mảnh mẻ, đặc biệt là phong hóa hóa học mang tính oxy hóa, đã phát triển rộng khắp Việt Nam, đâu đâu cũng thấy màu đất đỏ vàng với các biến dạng theo nham và theo điều kiện rửa trôi oxit.
Đất feralit là loại đất chiếm diện tích lớn nhất ở nước ta.
Quá trình hình thành đất feralit là quá trình hình thành đất đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa.
Trong điều kiện nhiệt ẩm cao, phong hóa diễn ra với cường độ mạnh tạo nên một lớp đất dày.
Đất feralit hình thành trên đồi và phần bờ chú yếu ở các tỉnh thuộc Tây Nguyên và Đồng Nam Bộ.
Tháng mưa cực đại ở Bắc Bộ là tháng VIII, ở Bắc Trung Bộ là tháng IX, ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ là tháng X - XI, ở Tây Nguyên và Nam Bộ lại là IX - X. Như vậy sự hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới và nguyên nhân gây mưa chính ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, còn ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ có thêm mưa địa hình và mưa frông.
Bắc Bộ có mưa nhiều vào mùa hạ chủ yếu do tác động của Tín phong bán cầu Bắc và địa hình vùng núi.
Nguyên nhân tháng mưa cực đại lại dồn từ Bắc vào Nam là do sự lui dần của dải hội tụ nhiệt đới và bão.
Mưa mùa của vùng khí hậu Nam Trung Bộ đến muộn hơn so với cả nước chủ yếu do địa hình khuất gió.
Đại hội tụ hướng vị tuyến ở nước ta nằm giữa hai khối khí Bắc Ấn Độ Dương và chí tuyến bán cầu Nam.
Hệ sinh thái tiêu biểu ở phần lãnh thổ phía Bắc nước ta là rừng nhiệt đới gió mùa. Mùa đông có nhiều loài cây rụng lá; mùa hạ cây cối phát triển xanh tốt. Trong rừng có thành phần loài nhiệt đới chiếm ưu thế, ngoài ra còn có các loài cây cận nhiệt và ôn đới như dẻ, re, sa mu, po mu,...; các loài thú có lông dày như gấu, chồn,... Vào mùa đông, ở đồng bằng trồng được các loại cây vụ đông.
Phần lãnh thổ phía Bắc nước ta chỉ có các loài nhiệt đới.
Mùa đông lạnh không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp ở phía Bắc nước ta.
Sự phân bố các loài cây như dẻ, re, sa- mu ở phía Bắc cho thấy ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đa dạng.
Nhiều loài cây rụng lá vào mùa đông là một hình thức thích nghi của thực vật với khí hậu lạnh.
Quá trình feralit được xúc tiến trong môi trường axit, ngoài axit vô cơ từ đá mẹ, còn có sự tham gia của axit hữu cơ từ mùn và axit hữu cơ từ lớp mùn, vì thế đất feralit thường chua, độ pH khoảng 4,5 – 5,5. Sự phong hóa triệt để các khoáng nguyên sinh như fenspat và mica cũng như các khoáng thụ sinh như các silicat Fe và Al, đã giải phóng SiO2, Al2O3 và Fe2O3. Trong điều kiện mưa nhiều, các cation kiềm, kiềm thổ và cả SiO2 dễ bị rửa trôi mạnh, tạo nên sự tích tụ của khoáng Kaolinit và các xetvixoxyt Fe và Al ( R2O3).
Đất feralit ở nước ta thường chua, tầng đất mỏng, nhiều oxit sắt và oxit nhôm.
Đất feralit thường bị chua do mưa nhiều làm rửa trôi các chất bazơ dễ tan trong đất.
Sự tích tụ oxit sắt (Fe2O3) và oxit nhôm ( Al2O3 ) làm đất có màu đỏ vàng đặc trưng.
Đất feralit có nguồn gốc từ đá mẹ axit thường thoáng khí, khả năng giữ nước tốt.
Sự phân hoá phức tạp và sự đa dạng của cảnh quan tự nhiên Việt Nam là kết quả của lịch sử phát triển không đồng đều ở các bộ phận khác nhau trên lãnh thổ, phụ thuộc vào sự tác động tương quan của hai nguồn năng lượng chủ yếu quyết định động lực của các quá trình địa lí. Đó là năng lượng bức xạ mặt trời và năng lượng bên trong của Trái Đất.
Thiên nhiên nước ta có sự phân hoá đa dạng và phức tạp.
Sự phân hoá thiên nhiên ở nước ta chủ yếu do các nhân tố nội lực.
Thiên nhiên nước ta chỉ có sự phân hoá theo quy luật phi địa đới.
Sự phân hoá thiên nhiên ở nước ta do cá nhân tố nội lực và ngoại lực.
Thiên nhiên Việt Nam nổi bật với tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa có sự phân hóa khác nhau theo chiều bắc - nam, theo đông - tây và theo độ cao, hình thành các miền địa lí tự nhiên khác nhau. Phân hóa theo bắc – nam thể hiện rõ nhất ở sự chênh lệch về nhiệt độ và cảnh quan thiên nhiên giữa phần lãnh thổ phía Bắc và phần lãnh thổ phía Nam.
Sự phân hóa đa dạng là đặc điểm nổi bật của thiên nhiên nước ta do đặc điểm hình dạng lãnh thổ và vị trí địa lí quy định.
Sự phân hóa thiên nhiên theo bắc - nam ở nước ta tuân theo quy luật địa đới, do chính là sự phân hóa theo kinh độ.
Ranh giới tự nhiên giữa hai phần lãnh thổ Bắc, Nam nước ta là dãy Bạch Mã (khoảng vĩ tuyến 16 độ Bắc).
Sự phân hóa thiên nhiên theo độ cao ở nước ta thể hiện rõ ở sự phân bố của các thành phần tự nhiên: khí hậu, đất, sinh vật từ vị trí thấp lên vị trí độ cao.
Bản chất của gió mùa Đông Bắc là sự di chuyển của khối không khí cực đới lục địa từ vùng áp cao Xi-bia thổi về. Áp cao Xi-bia nằm ở khoảng vĩ độ 50°B. Tại trung tâm này, không khí rất lạnh và khô, nhiệt độ trung bình mùa đông khoảng -40°C đến -15°C, trị số áp suất lên tới 1040 - 1060mb. Gió này ảnh hưởng sâu sắc đến khí hậu nước ta.
Làm cho miền Bắc nước ta có mùa đông lạnh sâu sắc.
Nửa sau mùa đông gây nên thời tiết lạnh ẩm, có mưa phùn cho toàn miền Bắc.
Gió mùa Đông Bắc chỉ hoạt động từng đợt ở miền Bắc nên không xóa đi tính chất nhiệt đới của khí hậu và cảnh quan nước ta.
Gió mùa Đông Bắc gây mưa lớn cho ven biển Nam Trung Bộ vào thời kì thu đông.
Câu 40. Cho thông tin sau: Áp thấp nhiệt đới Ấn Độ - Mi-an-ma đã xuất hiện từ tháng 3 và tháng 4, là những tháng nóng nhất ở Ấn Độ, Mi-an-ma, miền tây bán đảo Đông Dương và Nam Bộ Việt Nam, áp thấp này rất sâu, áp suất trung bình khoảng 995 mb và hút gió từ bắc Ấn Độ Dương, cụ thể là từ vịnh Ben-gan. Gió từ vịnh Ben-gan cũng thổi tới bán đảo Đông Dương theo hướng tây nam, hướng của gió mùa mùa hạ.
Đầu mùa hạ, khối khí nhiệt đới ẩm ảnh hưởng đến nước ta có nguồn gốc từ Bắc Ấn Độ Dương.
Khối khí nhiệt đới ẩm Bắc Ấn Độ Dương vào nước ta gây mưa lớn cho Tây Nguyên và Nam Bộ.
Gió tây nam từ Bắc Ấn Độ Dương kết hợp với áp thấp Bắc Bộ gây hiện tượng phơn ở Bắc Trung Bộ.
Hiện tượng phơn đầu hạ làm cho mùa mưa ở Duyên hải miền Trung của nước ta đến sớm hơn.
Ngành dịch vụ có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất và đời sống. Sự phát triển dịch vụ góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân. Nước ta có nhiều điều kiện để phát triển ngành dịch vụ như: vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, trình độ phát triển kinh tế, dân cư và nguồn lao động, chính sách phát triển kinh tế, thị trường, lịch sử, v.v.
Ngành dịch vụ đóng góp cao nhất trong cơ cấu GDP nước ta, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Trình độ phát triển kinh tế, chính sách phát triển kinh tế tác động đến quy mô và cơ cấu dịch vụ.
Vị trí địa lí, các điều kiện tự nhiên là điều kiện quan trọng để đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu trong phát triển dịch vụ.
Ngành dịch vụ đóng góp vào GDP, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế; đồng thời góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống văn hóa, xã hội. Ngành dịch vụ kết nối các ngành kinh tế, các vùng lãnh thổ, thúc đẩy phát triển các khu vực khó khăn. Các hoạt động dịch vụ còn hỗ trợ khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và góp phần xây dựng nền kinh tế xanh, bền vững. Nội dung trên đề cập đến đặc điểm nào của ngành dịch vụ ở nước ta?
Nội dung trên đề cập đến đặc điểm ngành dịch vụ ở nước ta.
Hoạt động dịch vụ kết nối các ngành kinh tế, các vùng lãnh thổ là giao thông vận tải và thông tin liên lạc.
Dịch vụ góp phần phát bền vững đất nước thông qua các tác động cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Ngành dịch vụ nước ta chú trọng đầu tư và phát triển nhằm xóa đói giảm nghèo ở khu vực khó khăn.
Dân số và lao động là động lực chính thúc đẩy sự phát triển của ngành dịch vụ ở nước ta. Số dân đông, mức sống nâng cao đã tạo ra nhu cầu lớn về các dịch vụ như giao thông vận tải, du lịch, nội thương. Lực lượng lao động dồi dào và chất lượng ngày càng nâng lên góp phần quan trọng vào sự đa dạng hóa và hiện đại hóa các ngành dịch vụ, đặc biệt tại các đô thị lớn như Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng. Dân số đông ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển ngành dịch vụ như thế nào?
Dân số đông ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển ngành dịch vụ.
Quá trình đô thị hóa thúc đẩy sự phát triển dịch vụ ở các vùng khó khăn.
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm dịch vụ lớn nhất cả nước.
Sự phân bố dân cư tác động đến sự phát triển và phân bố ngành dịch vụ.
Sự phát triển của khoa học – công nghệ đã thay đổi toàn diện hoạt động dịch vụ của nước ta. Công nghệ hiện đại góp phần phát triển bền vững và thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành dịch vụ. Ứng dụng khoa học – công nghệ đã tạo ra tài nguyên mới cho dịch vụ: kho số viễn thông, tài nguyên internet, tài nguyên thông tin,... Các giải pháp công nghệ mở ra nhiều loại hình dịch vụ mới. Ngành dịch vụ có tốc độ phát triển nhanh nhờ các thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Đâu là giải pháp công nghệ tạo ra sự đa dạng của các loại hình dịch vụ mới và hiện đại?
Ngành dịch vụ có tốc độ phát triển nhanh nhờ các thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0.
Các giải pháp công nghệ tạo ra sự đa dạng của các loại hình dịch vụ mới và hiện đại.
Các ngành dịch vụ truyền thống hoạt động kém hiệu quả chủ yếu do thiếu lao động phổ thông và công nghệ cũ kĩ, lạc hậu.
Khai thác tối đa nền tảng công nghệ hiện đại nâng cao năng suất, hiệu quả lao động xã hội ngành dịch vụ.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, ngày càng có vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường. Việc phát triển du lịch sẽ góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mang lại nguồn thu ngân sách quốc gia, thu hút vốn đầu tư và xuất khẩu hàng hóa tại chỗ, tác động tích cực đối với phát triển các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là ngành thủ công mỹ nghệ. Du lịch còn góp phần thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, tạo ra nhiều việc làm và có thu nhập thường xuyên cho người lao động tại nhiều vùng, miền khác nhau. Sự phát triển ngành du lịch có khả năng tạo ra một lượng lớn việc làm cho người lao động.
Sự phát triển ngành du lịch có khả năng tạo ra một lượng lớn việc làm cho người lao động.
Du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta hiện nay.
Sự phát triển làng nghề công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và phát triển du lịch có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Các ngành thủ công mỹ nghệ là ngành sản xuất, cung ứng hàng hóa chính cho sự phát triển của hoạt động du lịch.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngành dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Ngành này không chỉ tạo ra nhiều việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Hơn nữa, các dịch vụ thân thiện với môi trường giúp tối ưu hóa tài nguyên, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Ngành dịch vụ góp phần tạo việc làm, nâng cao trình độ lao động, chất lượng cuộc sống người dân. Sự phát triển ngành dịch vụ tác động tiêu cực đến việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Ngành dịch vụ góp phần tạo việc làm, nâng cao trình độ lao động, chất lượng cuộc sống người dân.
Sự phát triển ngành dịch vụ tác động tiêu cực đến việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Sự phát triển ngành dịch vụ thúc đẩy quá trình đổi mới, hiện đại hóa nền kinh tế.
Dịch vụ là ngành kinh tế quan trọng, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu GDP cả nước.
Khi các ngành sản xuất phát triển, nhu cầu về vận tải, lưu kho, bán buôn, bán lẻ,…cũng tăng theo. Sự phát triển của các khu công nghiệp và vùng kinh tế trọng điểm thúc đẩy các dịch vụ hỗ trợ như giao thông vận tải, viễn thông… phát triển. Trình độ phát triển kinh tế cao cũng làm tăng nhu cầu về các dịch vụ hiện đại, chất lượng cao.
Sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ.
Đồng Nam Bộ là vùng có ngành dịch vụ phát triển đa dạng, hiệu quả kinh tế cao.
Giao thông vận tải và thông tin liên lạc tập trung vào liên kết các vùng kinh tế trọng điểm trên cả nước.
Các vùng tập trung nhiều khu công nghiệp sẽ có hoạt động dịch vụ phát triển cao nhất.
Ngành dịch vụ có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc sống của mỗi chúng ta, nhất là trong thời đại 4.0 ngày nay. Dịch vụ xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong tất cả mọi lĩnh vực về kinh tế, xã hội, sản xuất… dịch vụ góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa, tiền tệ ở trong nền kinh tế, góp phần to lớn vào mức độ tăng trưởng của nền kinh tế nước nhà. Ngành dịch vụ còn giữ vai trò thúc đẩy được sự chuyển hướng của nền kinh tế theo cơ cấu công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Ngành dịch vụ tạo ra một hướng đi mới, lựa chọn mới về nghề nghiệp và giải quyết được việc làm cho rất nhiều lao động trong xã hội. Bên cạnh đó, ngành dịch vụ còn giúp thay đổi về tư duy, tạo ra nhiều cơ hội cũng như thử thách cho những người làm nghề dịch vụ.
Ngành dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Đối với kinh tế, dịch vụ tạo ra một hướng đi mới, lựa chọn mới về nghề nghiệp và giải quyết được việc làm.
Ngành dịch vụ cung cấp nhiều hàng hóa cho tiêu dùng và sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.
Dân số đông, đô thị hóa phát triển, trình độ phát triển kinh tế nên ngành dịch vụ tiêu dùng nước ta ngày càng tăng.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, ngày càng có vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường. Việc phát triển du lịch sẽ góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mang lại nguồn thu ngân sách quốc gia, thu hút vốn đầu tư và xuất khẩu hàng hóa tại chỗ, tác động tích cực đối với phát triển các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là ngành thủ công mỹ nghệ. Du lịch còn góp phần thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, tạo ra nhiều việc làm và có thu nhập thường xuyên cho người lao động tại nhiều vùng, miền khác nhau.
Sự phát triển ngành du lịch có khả năng tạo ra một lượng lớn việc làm cho người lao động.
Du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta hiện nay.
Sự phát triển lồng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và phát triển du lịch có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Các ngành thủ công mỹ nghệ là ngành sản xuất, cung ứng hàng hóa chính cho sự phát triển của hoạt động du lịch.
Hiện nay, ngành dịch vụ được coi là một trong những ngành quan trọng và chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nếu như các ngành dịch vụ không tồn tại thì việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ bị ngưng trệ, các mối quan hệ giao lưu hoặc hợp tác quốc tế sẽ bị hạn chế. Kết quả kéo theo là tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, do tình trạng thiếu việc làm xuất hiện. Ngoài ra, còn gây lãng phí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, hay các địa điểm du lịch, v.v.,… sẽ không được khai thác để mang lại giá trị cho con người và nền kinh tế.
Sự xuất hiện của ngành dịch vụ đem lại rất nhiều lợi ích, trở thành một “vũ khí” thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, hỗ trợ hoạt động tăng gia sản xuất, tạo ra nhiều công ăn việc làm và đóng góp lớn vào tổng thu nhập quốc dân (GDP).
Ngành dịch vụ có thể khai thác và sử dụng hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên, danh lam thắng cảnh thông qua hoạt động du lịch.
Dịch vụ tạo ra một khối lượng việc làm lớn cho xã hội.
Ngành dịch vụ có tỉ trọng đứng thứ hai sau ngành công nghiệp – xây dựng trong cơ cấu ngành kinh tế nước ta hiện nay.
Ngành dịch vụ có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc sống của mỗi chúng ta, nhất là trong thời đại 4.0 ngày nay. Dịch vụ xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong tất cả mọi lĩnh vực về kinh tế, xã hội, sản xuất... dịch vụ góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa, tiền tệ ở trong nền kinh tế, góp phần to lớn vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nước nhà. Ngành dịch vụ còn giữ vai trò thúc đẩy được sự chuyển hướng của nền kinh tế theo cơ cấu công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Ngành dịch vụ tạo ra một hướng đi mới, lựa chọn mới về nghề nghiệp và giải quyết được việc làm cho rất nhiều lao động trong xã hội. Bên cạnh đó, ngành dịch vụ còn giúp thay đổi về tư duy, tạo ra nhiều cơ hội cũng như thử thách cho những người làm nghề dịch vụ.
Ngành dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Đổi với kinh tế, dịch vụ tạo ra một hướng đi mới, lựa chọn mới về nghề nghiệp và giải quyết được việc làm.
Ngành dịch vụ cung cấp nhiều hàng hóa cho tiêu dùng và sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.
Dân số đông, đô thị hóa phát triển, trình độ phát triển kinh tế nền ngành dịch vụ tiêu dùng nước ta ngày càng tăng.
Khoa học - công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành dịch vụ ở nước ta. Các tiến bộ công nghệ đã tạo ra nhiều hình thức dịch vụ mới, nâng cao chất lượng dịch vụ hiện có và thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành dịch vụ. Cơ sở vật chất - kĩ thuật được nâng cấp cũng góp phần thu hút đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động các dịch vụ như giao thông vận tải, thương mại, du lịch.
Sự phát triển khoa học - công nghệ, quá trình chuyển đổi số đã làm giảm chi phí các ngành dịch vụ.
Áp dụng công nghệ giúp cho các vùng nông thôn phát triển dịch vụ hiện đại.
Thương mại điện tử, logistics, bưu chính số ra đời nhờ sự phát triển nhanh của khoa học - công nghệ.
Giao thông vận tải, cơ sở lưu trữ được nâng cấp là tác nhân chính thúc đẩy ngành dịch vụ nước ta phát triển.
Ứng dụng khoa học đã tạo ra tài nguyên mới cho dịch vụ: kho số viễn thông, tài nguyên internet, tài nguyên thông tin...Các giải pháp công nghệ mở rộng nhiều loại hình dịch vụ mới: giao thông thông minh, thương mại điện tử, du lịch ảo,...
Sự phát triển của khoa học công nghệ đã giúp cải thiện quy trình sản xuất, tăng cường hiệu suất, giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Các sản phẩm thương mại điện tử là sản phẩm của việc ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của người dân.
Chất lượng của ngành viễn thông , logistics...ngày càng nâng cao hơn nhờ những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại.
Lực lượng lao động trong lĩnh vực dịch vụ ngày càng thuận lợi hơn nhờ áp dụng khoa học, công nghệ trong quá trình hoạt động.
Thị trường trong nước lớn và đa dạng, nhu cầu ngày càng tăng, thúc đẩy nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng các loại hình dịch vụ. Thị trường có tính cạnh tranh cao thúc đẩy các ngành dịch vụ đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng. Thị trường bên ngoài ngày càng mở rộng đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế của các hoạt động dịch vụ của nước ta.
Các doanh nghiệp trong nước ở nước ta trong các lĩnh vực dịch vụ như bán buôn bán lẻ, viễn thông...chịu sức ép cạnh tranh từ các đối thủ trên thế giới.
Nhu cầu đa dạng của thị trường trong nước là điều kiện để đa dạng các loại hình dịch vụ, thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài.
Thị trường trong nước đông dân, chất lượng cuộc sống cao giúp một số ngành phát triển ổn định, tránh phụ thuộc vào bên ngoài.
Giải pháp để đối mặt với sự cạnh tranh từ bên ngoài đối với ngành dịch vụ là cải thiện chất lượng, tăng cường giảm giá thành các loại hình dịch vụ.
Dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội tạo ra các sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu sản xuất và đời sống của con người nên cơ cấu ngành đa dạng và phức tạp. Việc phân chia các ngành dịch vụ hiện nay dựa vào các hoạt động dịch vụ điển ra trong thực tế với ba nhóm: dịch vụ kinh doanh, dịch vụ ... (phần còn thiếu).
Mạng lưới đường bộ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, kết nối các trung tâm hành chính, kinh tế, cảng biển, sân bay, cửa khẩu, các đầu mối giao thông... và phủ kín khắp cả nước. Do lãnh thổ nước ta kéo dài theo vĩ độ và hẹp ngang nên đã hình thành hai tuyến trục chính là Bắc – Nam và Đông – Tây.
Tuyến quốc lộ quan trọng nhất theo chiều Bắc – Nam của nước ta là quốc lộ số 1.
Ngành giao thông đường bộ của nước ta được ưu tiên phát triển do mang lại ý nghĩa lớn về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng.
Các tuyến giao thông theo chiều Đông – Tây nối ra cửa khẩu giúp mở rộng giao lưu, trao đổi hàng hóa, phát triển kinh tế.
Phát triển giao thông đường bộ ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa nhằm mục đích chủ yếu là phục vụ nhu cầu đi lại của dân cư.
Những năm vừa qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có những bước phát triển mạnh, theo hướng hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các công trình có tính kết nối, lan tỏa, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội; chất lượng vận tải đường bộ ngày một nâng cao, càng khẳng định thực hiện mục tiêu GTVT đi trước một bước trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh và bảo vệ Tổ quốc.
Đường bộ là loại hình vận tải có vai trò quan trọng nhất trong hệ thống giao thông ở nước ta hiện nay.
Các dịch vụ vận tải ngày càng đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và nâng cao đời sống.
Đẩy mạnh giao thông đường bộ góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển mạnh hơn.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển của đường bộ ngày càng tăng chủ yếu do vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu.
Giao thông đường sắt ở nước ta được hình thành từ cuối thế kỷ 19, vận tải đường sắt chủ yếu là vận chuyển hàng hóa, tuyến đường sắt dài và quan trọng nhất ở nước ta là tuyến Bắc - Nam (Thống Nhất) chạy gần như song song với quốc lộ 1. Các tuyến khác tập trung ở phía bắc, trong đó 3 tuyến quan trọng là Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Lạng Sơn. Các tuyến đường sắt đô thị được phát triển ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ngành vận tải đường sắt chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng khối lượng vận chuyển hàng hóa và hành khách của các ngành vận tải. Công nghệ, thiết bị, phương tiện vận tải của ngành đang được đầu tư, hiện đại hóa.
Tuyến đường sắt đầu tiên được xây dựng ở nước ta là tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho.
Đường sắt Thống Nhất có chiều dài tương đương với quốc lộ 1.
Ngành vận tải đường sắt có vai trò quan trọng trong đảm nhận vận chuyển hàng hóa và hành khách ở nước ta.
Mạng lưới đường sắt đô thị ở nước ta tập trung phát triển mạnh ở phía Bắc.
Cho thông tin sau: Phát triển du lịch bền vững là sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và bảo tồn văn hóa. Du lịch không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và quảng bá hình ảnh đất nước. Phát triển bền vững giúp du lịch phát triển lâu dài và hiệu quả hơn.
Môi trường xanh, sạch góp phần thu hút du khách, phát triển du lịch xanh.
Du lịch giúp khai thác hiệu quả tiềm năng biển, đảo, đa dạng sinh học,…
Câu 19. Cho thông tin sau: Mạng lưới đường thuỷ nội địa nước ta phát triển và phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long, một số tuyến ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Đường thuỷ nội địa ở nước ta chủ yếu vận chuyển hàng hoá, hiện đảm nhận khoảng 15% khối lượng hàng hoá vận chuyển và trên 13% khối lượng hàng hóa luân chuyển của toàn ngành nhờ khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, phương thức vận tải hàng hóa khối lượng lớn, chi phí thấp. Tuy nhiên các cảng, bến thuỷ nội địa ở nước ta còn kết nối kém với đường bộ. Hãy chọn đáp án đúng.
Mạng lưới đường thuỷ nội địa nước ta chỉ phát triển và phân bố ở hai đồng bằng.
Đường thuỷ nội địa phát triển mạnh nhờ ưu thế về địa hình, khí hậu, khả năng vận tải và chi phí.
Đường thuỷ nội địa là ngành có khối lượng hàng hoá vận chuyển cao nhất trong toàn ngành vận tải.
Các tuyến thuỷ nội địa được kết nối chặt chẽ ở khu vực miền Trung.
Cho thông tin sau: Nội thương là hoạt động thương mại diễn ra trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia (hay còn gọi là thương mại nội địa). Các hình thức tổ chức bán hàng chủ yếu ở nước ta là chợ dân sinh, siêu thị, trung tâm thương mại,... Các vùng có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng lớn ở nước ta là: đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Sự trụ đô hoa thương mại đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu hàng hóa giữa các vùng, địa phương, và doanh nghiệp. Quá trình này đã dẫn đến việc hình thành các trung tâm thương mại quốc gia và vùng. Hãy chọn đáp án đúng.
Các trung tâm thương mại quốc gia và vùng được hình thành dựa trên tổng mức bán lẻ hàng hóa của các lãnh thổ này.
ĐBSH và Đông Nam Bộ là hai vùng có tổng mức bán lẻ hàng hóa lớn nhất nước ta.
Phương thức buôn bán phổ biến nhất ở nước ta hiện nay là chợ dân sinh và thương mại điện tử.
Các siêu thị, trung tâm thương mại chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn.
Cho thông tin sau: Hoạt động du lịch nước ta thực sự phát triển từ khi đất nước tiến hành công cuộc Đổi mới và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Phát triển du lịch không chỉ tạo nguồn thu ngoại tệ, tổng góp tích cực vào xuất khẩu tại chỗ mà còn tạo việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cư, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân. Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam cũng có nhiều hạn chế như tỉ lệ khách quay trở lại thấp; chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao,...
Ngành du lịch nước ta còn nhiều hạn chế chủ yếu do sản phẩm du lịch của Việt Nam chưa hấp dẫn, thiếu gắn kết, các hoạt động giải trí, mua sắm, chăm sóc khách chưa đa dạng, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế.
Hoạt động du lịch của nước ta bất đầu phát triển mạnh từ khi Đổi mới.
Sự phát triển của ngành du lịch mang lại nhiều lợi ích cho dân cư ở mỗi vùng miền.
Các địa điểm có hoạt động du lịch phát triển mạnh là những nơi tập trung dân cư đông đúc.
Mạng lưới giao thông vận tải đường biển với các tuyến vận tải nội địa và quốc tế cùng hệ thống cảng biển ở nước ta không ngừng phát triển phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa, tạo động lực phát triển các vùng, đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, khai thác lợi thế về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, đặc biệt là tiềm năng về biển.
Nước ta có vị trí nằm gần trung tâm khu vực Đông Nam Á tạo thuận lợi cho giao thông đường biển phát triển.
Đẩy mạnh phát triển vận tải biển với mục đích chủ yếu là vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu, phát triển kinh tế mở.
Cho thông tin sau: Ngành bưu chính nước ta vẫn đang tiếp tục phát triển theo hướng: đồng bộ, hiệu quả trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại, như tự động hóa,thông minh hóa, tin học hóa,....mở rộng hệ sinh thái dịch vụ bưu chính, như phân phối, bán lẻ, thương mại điện tử; thanh toán và tài chính số; các dịch vụ bưu chính số hỗ trợ các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế như nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, đào tạo,...mở rộng không gian hoạt động mới...
Ngành bưu chính nước ta có tốc độ phát triển nhanh vượt bậc và dẫn hiện đại.
Khó khăn với ngành bưu chính là mạng lưới phân bố không đều, thiếu lao động có trình độ cao.
Để nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành bưu chính cần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nâng cao giá thành dịch vụ.
Để ngành bưu chính của nước ta sánh tầm các nước trong khu vực và trên thế giới, cần đẩy mạnh áp dụng công nghệ hiện đại, đa dạng hóa các hoạt động.
Du lịch nước ta được xác định ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác. Doanh thu và số khách du lịch tăng nhanh trong giai đoạn 2000 - 2019. Sau khó khăn do dịch bệnh trên toàn cầu, từ năm 2022, doanh thu và số khách du lịch đang dần phục hồi.
Số lượt khách du lịch trong nước và quốc tế đến nước ta liên tục tăng trong thời gian gần đây.
Du lịch nước ta ngày càng thu hút nhiều du khách quốc tế chủ yếu do sản phẩm du lịch hấp dẫn, chính sách đổi mới.
Ngành du lịch của nước ta ngày càng đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của du khách chủ yếu là do nâng cao chất lượng, tăng cường quảng bá, đầu tư hạ tầng.
Giải pháp chủ yếu để nước ta kích cầu du lịch thời gian gần đây là đa dạng loại hình, nâng cao chất lượng lao động và các dịch vụ du lịch.
Du lịch tác động tổng hợp đến kinh tế, xã hội, môi trường. Du lịch tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần phát huy lợi thế của địa phương và tăng cường liên kết vùng. Du lịch làm tăng giá trị di sản văn hoá dân tộc, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Du lịch thúc đẩy nâng cao chất lượng lao động, đảm bảo an sinh và giải quyết các vấn đề xã hội. Du lịch góp phần giữ và sử dụng hiệu quả tài nguyên sinh thái, di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội cho phép tất cả các vùng ở nước ta đều có tiềm năng phát triển du lịch.
Tài nguyên, điều kiện phục vụ và nhu cầu của khách du lịch quốc tế là nhân tố tác động đến sự đa dạng loại hình du lịch ở nước ta.
Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch bền vững ở nước ta hiện nay là tôn tạo tài nguyên, phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư, bảo vệ môi trường.
Ý nghĩa thực tế của việc đẩy mạnh phát triển du lịch ở các vùng núi là tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thu hút đầu tư nước ngoài.
Phát triển văn hóa giúp du lịch phát triển hiệu quả, lâu dài. Kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống người dân tăng lên, thúc đẩy nhu cầu và hiện đại hoá ngành du lịch. Các giá trị văn hoá, nghệ thuật dân gian, sự đa dạng sinh thái được bảo tồn làm đa dạng hoá sản phẩm và tăng giá trị hoạt động du lịch. Môi trường xanh, sạch góp phần phát triển du lịch xanh, du lịch bền vững.
Câu 27: Cho thông tin sau: Vận tải đường biển nước ta tăng cường kết nối với các phương thức vận tải khác, ứng dụng công nghệ vận tải tiên tiến, phát triển vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics. Cả nước có 34 cảng biển với 296 bến cảng (năm 2021). Hệ thống cảng biển nước ta là cửa ngõ giao thương hàng hoá xuất, nhập khẩu, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của vùng và cả nước.
Nước ta đã xây dựng được cảng trung chuyển quốc tế ở vịnh Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa)
Ngành vận tải biển ngày càng phát triển nhanh chủ yếu do sự phát triển của hoạt động ngoại thương.
Nhân tố tác động mạnh nhất đến giao thông vận tải biển hiện nay ở nước ta là sản xuất trong nước phát triển, đẩy mạnh xuất nhập khẩu.
Việc nâng cấp các cảng biển của nước ta nhằm mục đích chủ yếu là đáp ứng cho dịch vụ logistics và giải quyết việc làm.
Cho thông tin sau: Ngành bưu chính nước ta vẫn đang tiếp tục phát triển theo hướng: đồng bộ, hiệu quả trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại, như tự động hóa, thông minh hóa, tin học hóa,... mở rộng hệ sinh thái dịch vụ bưu chính, như phân phối, bán lẻ, thương mại điện tử; thanh toán và tài chính số; các dịch vụ bưu chính số hỗ trợ các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế như nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, đào tạo,... mở rộng không gian hoạt động mới...
Ngành bưu chính nước ta có tốc độ phát triển nhanh vượt bậc và dẫn hiện đại.
Khó khăn với ngành bưu chính là mạng lưới phân bổ không đều, thiếu lao động có trình độ cao.
Để nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành bưu chính cần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nâng cao giá thành dịch vụ.
Để ngành bưu chính của nước ta sánh tầm các nước trong khu vực và trên thế giới, cần đẩy mạnh áp dụng công nghệ hiện đại, đa dạng hóa các hoạt động.
Câu 29: Cho thông tin sau: Mạng lưới đường bộ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, kết nối các trung tâm hành chính, kinh tế, cảng biển, sân bay, cửa khẩu, các đầu mối giao thông,… và đã phủ kín khắp cả nước. Các tuyến đường bắc - nam là trục giao thông quan trọng nhất của nước ta như quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh và đường cao tốc Bắc – Nam. Các tuyến đường theo hướng đông - tây liên kết với trục bắc - nam, các khu kinh tế và tăng cường kết nối quốc tế như quốc lộ 7, 8, 9, 19, 24.
Do lãnh thổ nước ta kéo dài theo vĩ độ và hẹp ngang nên đã hình thành 2 tuyến trục giao thông chính là Bắc - Nam và Đông - Tây.
Đường bộ (đường ô tô) là loại hình giao thông quan trọng nhất ở nước ta.
Đường Hồ Chí Minh là tuyến giao thông đông - tây quan trọng của khu vực miền Trung.
Toàn tuyến cao tốc Bắc – Nam được xây dựng song song với quốc lộ 1.
Cho bảng số liệu: Ngành du lịch Việt Nam phát triển mạnh từ trước năm 2020, với doanh thu và lượng khách tăng nhanh. Các loại hình du lịch chủ yếu là biển, đảo; văn hóa; sinh thái; cộng đồng,… Thị trường khách quốc tế mở rộng, tập trung vào các khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á. Việt Nam đang hướng tới phát triển du lịch bền vững kết hợp với chuyển đổi số. Hãy chọn đáp án đúng nhất.
Trung Quốc, Hàn Quốc là thị trường khách quốc tế lớn của ngành du lịch Việt Nam.
Việc đa dạng hóa các loại hình du lịch giúp giảm thiểu rủi ro và tăng sức cạnh tranh cho ngành du lịch Việt Nam.
Tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa ở nước ta giai đoạn 2005 – 2021 liên tục tăng. Đúng hay sai?
Đúng
Sai
Các năm 2005, 2015 nước ta có cán cân xuất nhập khẩu dương (xuất siêu) hay âm (nhập siêu)?
Âm (nhập siêu)
Dương (xuất siêu)
Cả hai năm đều cân bằng
Năm 2005 dương, năm 2015 âm
Cán cân xuất nhập khẩu năm 2023 của nước ta là xuất siêu hay nhập siêu?
Xuất siêu
Nhập siêu
Cân bằng
Không xác định
Biểu đồ tròn là biểu đồ thích hợp nhất để thể hiện cơ cấu trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa ở nước ta, giai đoạn 2005 – 2021. Đúng hay sai?
Đúng
Sai
Sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta. Đúng hay sai?
Đúng
Sai
