NEW
Font size
WorksheetsÔN thi GHK1 môn LS - ĐL
Total questions: 47
Worksheet time: 24mins
Năm 1527, Mạc Đăng Dung đã phế truất vị vua nào ?
Lê Cung Hoàng
Lê Chiêu Thống
Lê Anh Tông
Lê Hiển Tông
Địa Danh nào không phải là trung tâm giao thương ở vùng đất phía Nam vào giữa thế kỉ XVIII ?
Nông Nại Đại Phố
Bến Nghé
Gia Định
Phố Hiến
Cuộc xung đột Nam - Bắc Triều ở Đại Việt (thế kỉ XVI) diễn ra giữa các thế lực phong kiến nào ?
Họ Trịnh - Họ Nguyễn
Nhà Mạc - Nhà Lê
Họ Mạc - Họ Nguyễn
Họ Lê - Họ Trịnh
Trong các bộ chính sử của các triều đại phong kiến Việt Nam, tên gọi nào dưới đây không dùng để chỉ quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa
Bãi Cát Vàng
Vạn lý Trường Sa
Vạn lý Hoàng Sa
Bạch Long Vĩ
Phủ Phú Yên (nay là Đắk Lắk) được thành lập vào thời gian nào ?
1558
1570
1620
1611
Không chấp nhận địa vị chính thống của nhà Mạc, nhiều cựu thần nhà Lê, đứng đầu là Nguyễn Kim đã :
Đưa Lê Duy Ninh lên làm vua, lập ra Nam Triều, đối đầu với nhà Mạc
Tiến hành đảo chính, lật đổ nhà Mạc, đưa Lê Cung Hoàng trở lại ngôi vua
Đưa Lê Duy Ninh vào vùng Thuận Hoá, lập nên chính quyền Đàng Trong
Dấy binh nổi dậy khởi nghĩa ở Cao Bằng, với danh nghĩa "Phù Lê diệt Mạc"
Nội dung nào dưới đây không phản ánh đúng tình hình nhà Lê đầu thế kỉ XVI ?
Sản xuất trì trệ, hạn hán, mất mùa thường xuyên xảy ra
Mạc Đăng Dung tiến hành khởi nghĩa lật đổ nhà Lê
Đất nước bất ổn, Mạc Đăng Dung thâu tóm quyền hành
Ở nhiều nơi, dân chúng nổi dậy chống lại triều đình
Vào cuối thế kỉ XV, đạo Quảng Nam (nay là Đà Nẵng) được thành lập, tên gọi "Quảng Nam" có nghĩa là gì ?
Phía Nam rộng lớn
Vùng đất an lành ở phía nam
Ánh sáng từ miền duyên hải phía đông
Vùng đất thiêng liêng ở miền biên viễn
Vùng đât thuộc Ninh Thuận (nay là Khánh Hòa) và
Bình Thuận (nay là Lâm Đông) được sáp nhập thành một trấn của Đàng Trong vào năm nào?
1597
1693
1588
1698
"Đàng Ngoài" là từ dùng để chỉ vùng đất từ:
Sông Gianh trở vào nam.
Sông Gianh trở ra bắc.
Ninh Bình trở ra bắc.
Ninh Bình trở vào nam.
Để chống họ Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã lệnh cho Đào Duy Từ thi công hệ thống phòng thủ, được gọi là
Lũy Thầy.
Thành Tây Đô.
Thành Đa Bang.
Lũy Pháo Đài.
Vào năm 1597, Nguyễn Hoàng sai Lương Văn Chánh tổ chức đưa dân từ Tuy Viễn vào khai hoang, lập ấp tại vùng đất thuộc tỉnh nào của Việt Nam ngày nay?
Gia Lai.
Bình Định. (nay là Gia Lai)
Khánh Hòa.
Phú Yên (nay là Đắk Lắk).
Cuối thế kỉ XVII, phủ Gia Định được thành lập, gồm 2 dinh là
Dinh Trấn Biên và dinh Phiên Trấn.
Dinh Quảng Bình và dinh Quảng Đức.
Dinh Quảng Nam và dinh Quảng Trị.
Dinh Biên Hòa và dinh Vĩnh Tường.
Phía Bắc của nước ta tiếp giáp với quốc gia nào sau đây?
Thái Lan.
Cam-pu-chia.
Lào
Trung Quốc.
Đường biên giới đất liền của nước ta dài hơn
4 500 km
4 600 km
4 700 km
4 400 km
Dạng địa hình nào sau đây của nước ta đa dạng, phổ biến và quan trọng nhất?
Đồng bằng.
Đồi núi.
Cao nguyên.
Sơn nguyên.
Ở nước ta, đồng bằng chiếm
2/3 diện tích đất liền.
1/2 diện tích đất liền.
3/4 diện tích đất liền.
1/4 diện tích đất liền.
Dầu mỏ, khí đốt tập trung nhiều nhất ở khu vực nào sau đây?
Thềm lục địa phía Đông Nam.
Đồng bằng sông Cửu Long.
Vùng biển Trung Bộ, các đảo.
Duyên hải Nam Trung Bộ.
Khoáng sản là loại tài nguyên
Tự phục hồi được.
Có giá trị vô tận.
Không phục hồi được.
Thường bị hao kiệt.
Vị trí địa lí làm cho thiên nhiên nước ta có đặc điểm nào dưới đây?
Mang tính chất cận nhiệt đới trên núi.
Mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa.
Mang tính chất nhiệt đới khô trên núi.
Mang tính chất cận xích đạo gió mùa.
Đâu không phải vai trò của tài nguyên khoáng sản?
Là nguồn nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp
Góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia
Cung cấp nhiên liệu cho sản xuất
àm tâm điểm cho hoạt động du lịch, giải trí
23. Địa hình nước ta được nâng cao và phân thành nhiều bậc kế tiếp nhau trong giai đoạn nào dưới đây?
Trung sinh.
Tiền Cambri.
Cổ sinh.
Tân kiến tạo
Địa hình đồi núi nước ta có hai hướng chính là:
Đông bắc - tây nam và vòng cung
Đông - tây và nam - bắc
Tây bắc - đông nam và vòng cung
Chéo góc phải và chéo góc trái
Ở nước ta, dãy núi nào sau đây chạy theo hướng vòng cung?
Con Voi.
Tam Đảo.
Bạch Mã.
Sông Gâm.
Nguồn tài nguyên khoáng sản nước ta có nhiều loại, phần lớn có trữ lượng
Vừa và nhỏ.
Trung bình.
Rất lớn.
Rất nhỏ.
Việt Nam không có đường biên giới trên đất liền giáp với:
Trung Quốc
Lào
Campuchia
Thái Lan
Vấn đề nào dưới đây đặt ra khi khai thác, vận chuyển và chế biến khoáng sản
Chi phí vận chuyển, chế biến lớn.
Giá thành sản phẩm đầu ra thấp.
Gây ô nhiễm môi trường sinh thái.
Khó khăn trong khâu vận chuyển.
"Phủ Quảng Nam (nay là Đà Nẵng) xựa là đất Chiêm Thành...
Đât ây kê với Thuận Hóa, khi Thái tố Gia Dụ Hoàng để (tức
Nguyên Hoàng) ta trân ở Thuận Hóa, chiêu dân vỡ đát, đạt ra làng mạc, khai khẩn ruộng nương, dân cư ngày một đông đúc, của cải ngà một nhiều"
Vùng đất Quảng Nam ban đầu thuộc lãnh thổ của chúa Nguyễn.
ĐÚNG
"Phủ Quảng Nam (nay là Đà Nẵng) xựa là đất Chiêm Thành...
Đât ây kê với Thuận Hóa, khi Thái tố Gia Dụ Hoàng để (tức
Nguyên Hoàng) ta trân ở Thuận Hóa, chiêu dân vỡ đát, đạt ra làng mạc, khai khẩn ruộng nương, dân cư ngày một đông đúc, của cải ngà một nhiều"
Nguyễn Hoàng là người có công trong việc chiêu dân, khai khấn ở Quảng Nam.
ĐÚNG
"Phủ Quảng Nam (nay là Đà Nẵng) xựa là đất Chiêm Thành...
Đât ây kê với Thuận Hóa, khi Thái tố Gia Dụ Hoàng để (tức
Nguyên Hoàng) ta trân ở Thuận Hóa, chiêu dân vỡ đát, đạt ra làng mạc, khai khẩn ruộng nương, dân cư ngày một đông đúc, của cải ngà một nhiều"
Chính sách của Nguyễn Hoàng làm cho dân cư ở Quảng Nam thưa thớt
ĐÚNG
"Phủ Quảng Nam (nay là Đà Nẵng) xựa là đất Chiêm Thành...
Đât ây kê với Thuận Hóa, khi Thái tố Gia Dụ Hoàng để (tức
Nguyên Hoàng) ta trân ở Thuận Hóa, chiêu dân vỡ đát, đạt ra làng mạc, khai khẩn ruộng nương, dân cư ngày một đông đúc, của cải ngà một nhiều"
Hoạt động khai khấn đã làm cho vùng đất này trở nên giàu có.
ĐÚNG
"Cuộc xung đột diễn ra trong một thời gian dài, đất nước bị chịa cắt. Cả vùng Thanh - Nghệ và đồng bằng Bắc Bộ đêu là chiên trường. Làng mạc bị tàn phá, sản xuât nông nghiệp, thủ công nghiệp bị đình trệ, trao đôi buôn bán giữa các vùng gặp nhiêu khó khăn. đời sông nhân dân khốn cùng vì đói, bị bắt đi lính, đi phu và nhiều gia đình phải li tán."
Hậu quả của các cuộc xung đột là làng mạc bị tàn phá, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân khốn khổ
ĐÚNG
"Cuộc xung đột diễn ra trong một thời gian dài, đất nước bị chịa cắt. Cả vùng Thanh - Nghệ và đồng bằng Bắc Bộ đêu là chiên trường. Làng mạc bị tàn phá, sản xuât nông nghiệp, thủ công nghiệp bị đình trệ, trao đôi buôn bán giữa các vùng gặp nhiêu khó khăn. đời sông nhân dân khốn cùng vì đói, bị bắt đi lính, đi phu và nhiều gia đình phải li tán."
Cuộc xung đột Nam - Bắc triều, Trịnh - Nguyễn đã kéo dài trong thời gian ngắn, đất nước vẫn thống nhất.
ĐÚNG
"Cuộc xung đột diễn ra trong một thời gian dài, đất nước bị chịa cắt. Cả vùng Thanh - Nghệ và đồng bằng Bắc Bộ đêu là chiên trường. Làng mạc bị tàn phá, sản xuât nông nghiệp, thủ công nghiệp bị đình trệ, trao đôi buôn bán giữa các vùng gặp nhiêu khó khăn. đời sông nhân dân khốn cùng vì đói, bị bắt đi lính, đi phu và nhiều gia đình phải li tán."
Xụng đột Nam - Bắc triều và Trịnh - Nguyễn, có thể thấy chiến tranh phong kiến đã làm suy yếu đất nước và nhân dân lầm than.
ĐÚNG
"Cuộc xung đột diễn ra trong một thời gian dài, đất nước bị chịa cắt. Cả vùng Thanh - Nghệ và đồng bằng Bắc Bộ đêu là chiên trường. Làng mạc bị tàn phá, sản xuât nông nghiệp, thủ công nghiệp bị đình trệ, trao đôi buôn bán giữa các vùng gặp nhiêu khó khăn. đời sông nhân dân khốn cùng vì đói, bị bắt đi lính, đi phu và nhiều gia đình phải li tán."
Chiến tranh làm đất nước suy yếu, nhân dân đau khổ, chúng ta cần giữ gìn hòa bình, phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc.
ĐÚNG
Cả một vùng từ đông sang tây
Đồng ruộng chẳng có gì cày cấy
Chiến tranh cứ nối tiếp nhau
Tai họa thật là cùng cực
Đoạn thơ "Thương loạn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm phản ánh cảnh đất nước thanh bình, mùa màng bội thu
ĐÚNG
Cả một vùng từ đông sang tây
Đồng ruộng chẳng có gì cày cấy
Chiến tranh cứ nối tiếp nhau
Tai họa thật là cùng cực
Đoạn thơ "Thương loạn", tác giả bày tỏ niềm thương xót cho nhân dân phải chịu nhiều đau khổ vì chiến tranh miên khiến nhân dân cực khổ, đồng ruộng bỏ hoang.
ĐÚNG
Cả một vùng từ đông sang tây
Đồng ruộng chẳng có gì cày cấy
Chiến tranh cứ nối tiếp nhau
Tai họa thật là cùng cực
Đoạn thơ "Thương loạn" là chứng nhân lịch sử phản ánh thực trạng chiến tranh tàn phá đất nước và đời sống nhân dân.
ĐÚNG
Cả một vùng từ đông sang tây
Đồng ruộng chẳng có gì cày cấy
Chiến tranh cứ nối tiếp nhau
Tai họa thật là cùng cực
Đoạn thơ "Thương loạn" gợi thông điệp nhân văn về giá trị của hòa bình và sự đông lòng dân tộc.
ĐÚNG
Địa hình là một trong những nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến việc tổ chức và khai thác các hoạt động kinh tế. Vùng núi cao, hiểm trở thường gặp khó khăn trong xây dụng cơ sở hạ tầng giao thông và thủy lợi, dẫn đến chi phí đầu tự lớn và hạn chế quy mô sản xuất. Tuy nhiên, các sườn núi dốc lại thuận lợi cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện (do có độ cao lớn, tốc độ dòng chảy mạnh) và phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm (chè, cà phê) hay lâm nghiệp. Ngược lại, các đồng bằng rộng lớn, bằng phẳng lại là nơi lý tưởng đê phát triên nông nghiệp quy mô lớn (trông lúa, hoa màu), xây dựng các khu công nghiệp tập trung và các đô thị lớn, với chi phí xây dựng thấp hơn và hệ thống giao thông thuận tiện hơn.
Các đông băng rộng lớn, băng phăng được xem là nơi lý tưởng để phát triên nông nghiệp quy mo lớn
Đúng
Sai
Địa hình là một trong những nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến việc tổ chức và khai thác các hoạt động kinh tế. Vùng núi cao, hiểm trở thường gặp khó khăn trong xây dụng cơ sở hạ tầng giao thông và thủy lợi, dẫn đến chi phí đầu tự lớn và hạn chế quy mô sản xuất. Tuy nhiên, các sườn núi dốc lại thuận lợi cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện (do có độ cao lớn, tốc độ dòng chảy mạnh) và phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm (chè, cà phê) hay lâm nghiệp. Ngược lại, các đồng bằng rộng lớn, bằng phẳng lại là nơi lý tưởng đê phát triên nông nghiệp quy mô lớn (trông lúa, hoa màu), xây dựng các khu công nghiệp tập trung và các đô thị lớn, với chi phí xây dựng thấp hơn và hệ thống giao thông thuận tiện hơn.
Các vùng núi cao vẫn có tiềm năng xây dựng thủy điện vì địa hình dốc giúp tạo ra tốc độ đòng chảy mạnh, là yếu tố then chốt để sản xuất điện.
Đúng
Sai
Địa hình là một trong những nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến việc tổ chức và khai thác các hoạt động kinh tế. Vùng núi cao, hiểm trở thường gặp khó khăn trong xây dụng cơ sở hạ tầng giao thông và thủy lợi, dẫn đến chi phí đầu tự lớn và hạn chế quy mô sản xuất. Tuy nhiên, các sườn núi dốc lại thuận lợi cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện (do có độ cao lớn, tốc độ dòng chảy mạnh) và phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm (chè, cà phê) hay lâm nghiệp. Ngược lại, các đồng bằng rộng lớn, bằng phẳng lại là nơi lý tưởng đê phát triên nông nghiệp quy mô lớn (trông lúa, hoa màu), xây dựng các khu công nghiệp tập trung và các đô thị lớn, với chi phí xây dựng thấp hơn và hệ thống giao thông thuận tiện hơn.
Chi phí xây dựng một hệ thống kênh tưới tiêu lớn tại khu vực đồng bằng ven biển sẽ thấp hơn đáng kể so với việc xây dựng cùng hệ thống đó tại một thung lũng núi cao.
Đúng
Sai
Địa hình là một trong những nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến việc tổ chức và khai thác các hoạt động kinh tế. Vùng núi cao, hiểm trở thường gặp khó khăn trong xây dụng cơ sở hạ tầng giao thông và thủy lợi, dẫn đến chi phí đầu tự lớn và hạn chế quy mô sản xuất. Tuy nhiên, các sườn núi dốc lại thuận lợi cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện (do có độ cao lớn, tốc độ dòng chảy mạnh) và phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm (chè, cà phê) hay lâm nghiệp. Ngược lại, các đồng bằng rộng lớn, bằng phẳng lại là nơi lý tưởng đê phát triên nông nghiệp quy mô lớn (trông lúa, hoa màu), xây dựng các khu công nghiệp tập trung và các đô thị lớn, với chi phí xây dựng thấp hơn và hệ thống giao thông thuận tiện hơn.
Mục tiêu phát triển bền vững, khai thác kinh tế tối ưu phải là chiến lược chỉ tập trung đầu tư vào các đồng bằng vì chúng giảm thiểu về chi phí và hạ tầng so với miên núi.
Đúng
Sai
Địa hình bờ biển có ảnh hưởng sâu sắc đến việc khai thác kinh tế của một quốc gia. Đối với Việt Nam, bờ biển dài và đa dạng tạo nên nhiều lợi thế. Các khu vực bờ biển bằng phẳng, có nhiều bãi cát dài, thường thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Ngược lại, các khu vực bờ biển có nhiều vũng, vịnh kín gió, ít sóng lớn và độ sâu phù hợp lại là điều kiện lý tưởng để xây dựng các cảng biển nước sâu. Tuy nhiên, nếu địa hình bờ biển bị xâm thực mạnh do biến đổi khí hậu hoặc khai thác thiếu bền vững, nó sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế ven biển, bao gồm cả du lịch và nuôi trồng thủy sản.
Địa hình bờ biên băng phăng và có nhiêu bãi cát dài luôn là điều kiện tốt nhất cho việc xây dựng cảng biên
Đúng
Sai
Địa hình bờ biển có ảnh hưởng sâu sắc đến việc khai thác kinh tế của một quốc gia. Đối với Việt Nam, bờ biển dài và đa dạng tạo nên nhiều lợi thế. Các khu vực bờ biển bằng phẳng, có nhiều bãi cát dài, thường thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Ngược lại, các khu vực bờ biển có nhiều vũng, vịnh kín gió, ít sóng lớn và độ sâu phù hợp lại là điều kiện lý tưởng để xây dựng các cảng biển nước sâu. Tuy nhiên, nếu địa hình bờ biển bị xâm thực mạnh do biến đổi khí hậu hoặc khai thác thiếu bền vững, nó sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế ven biển, bao gồm cả du lịch và nuôi trồng thủy sản.
Địa hình bằng phẳng chỉ phù hợp với du lịch, còn xây dựng cảng biên đòi hỏi phải có các vũng vịnh kín gió.
Đúng
Sai
Địa hình bờ biển có ảnh hưởng sâu sắc đến việc khai thác kinh tế của một quốc gia. Đối với Việt Nam, bờ biển dài và đa dạng tạo nên nhiều lợi thế. Các khu vực bờ biển bằng phẳng, có nhiều bãi cát dài, thường thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Ngược lại, các khu vực bờ biển có nhiều vũng, vịnh kín gió, ít sóng lớn và độ sâu phù hợp lại là điều kiện lý tưởng để xây dựng các cảng biển nước sâu. Tuy nhiên, nếu địa hình bờ biển bị xâm thực mạnh do biến đổi khí hậu hoặc khai thác thiếu bền vững, nó sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế ven biển, bao gồm cả du lịch và nuôi trồng thủy sản.
Địa hình bờ biển nước ta muốn phát triển du lịch nghỉ dưỡng ven biển, cần ưu tiên quy hoạch ở những khu vực có địa hình bờ biển bằng phẳng, có nhiều bãi cát dài.
Đúng
Sai
Địa hình bờ biển có ảnh hưởng sâu sắc đến việc khai thác kinh tế của một quốc gia. Đối với Việt Nam, bờ biển dài và đa dạng tạo nên nhiều lợi thế. Các khu vực bờ biển bằng phẳng, có nhiều bãi cát dài, thường thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Ngược lại, các khu vực bờ biển có nhiều vũng, vịnh kín gió, ít sóng lớn và độ sâu phù hợp lại là điều kiện lý tưởng để xây dựng các cảng biển nước sâu. Tuy nhiên, nếu địa hình bờ biển bị xâm thực mạnh do biến đổi khí hậu hoặc khai thác thiếu bền vững, nó sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế ven biển, bao gồm cả du lịch và nuôi trồng thủy sản.
Việc xây dựng các công trình chắn sóng và khai thác tài nguyên cát quá mức tại khu vực bờ biển bằng phẳng không thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế ven biển.
Đúng
Sai
