NEW
Font size
WorksheetsThống kê 2
Total questions: 62
Worksheet time: 31mins
Một trong những hạn chế của phương pháp thu thập thông tin có sẵn là:{
Cách thu thập phức tạp
Khó phân tích số liệu
Khó phổ biến kết quả nghiên cứu
Chất lượng của số liệu không cao
Chất lượng bộ câu hỏi điều tra sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến :
Chất lượng số liệu thu thập được
Tiến độ thực hiện đề tài
Chi phí cho đề tài
Cách viết báo cáo kết quả
Một trong những ưu điểm của phương pháp thu thập thông tin qua phỏng vấn mặt đối mặt:{
Rẻ tiền hơn
Tỷ lệ trả lời cao hơn
Ít nhạy cảm với sai lệch do người phỏng vấn
Có thể dùng bưu điện để gửi bộ câu hỏi
Một trong những nhược điểm của phương pháp thu thập thông tin qua phỏng vấn mặt đối mặt: {
Tốn kém, cần phải sự giúp đỡ của chuyên gia
Tỉ lệ trả lời thấp hơn
Khó khêu gợi câu trả lời chi tiết
Kiểm soát kém hơn câu trả lời
Một trong những ưu điểm của phương pháp thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi tự điền:{
Phù hợp với đối tượng có trình độ văn hoá thấp
Có thể khêu gợi nhiều chi tiết hơn.
Có sự kiểm soát tốt hơn đối với câu trả lời
Nhanh, có thể phỏng vấn đối tượng ở xa
Một trong những nhược điểm của phương pháp thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi tự điền:{
Khó khêu gợi câu trả lời chi tiết
Tốn kém, cần sự giúp đỡ của chuyên gia.
Không dùng được cho đối tượng ở xa
Thông tin riêng tư có thể bị sai lệch
Thang đo Likert thường được sử dụng để đánh giá điều gì ở đối tượng nghiên cứu?
Kiến thức
Thái độ
Hành vi
Niềm tin
Một trong những ưu điểm của câu hỏi mở là gì?
Dễ phân tích số liệu
Kết quả thường đánh giá cao hơn thực tế
Khai thác được nhiều thông tin
Độ chính xác của câu trả lời cao
Một trong những ưu điểm của câu hỏi đóng là gì?
Dễ phân tích số liệu
Khai thác được nhiều thông tin
Không bó sót thông tin
Thích hợp trong mọi tình huống
Một trong những ưu điểm của câu hỏi bán cấu trúc là gì?
Xử lý số liệu đơn giản
Tốn ít thời gian thu thập số liệu
Kết quả phản ánh đúng thực tế hơn
Dễ đặt câu hỏi hơn
Một trong những nhược điểm của câu hỏi mở là gì?
Câu trả lời thường bị đánh giá thấp hơn thực tế
Không thể chuyển thành dạng câu hỏi đóng tương đương
Khó đặt câu hỏi
Thường bị giới hạn các câu trả lời
Một trong những nhược điểm của câu hỏi đóng là gì?
Khó đặt câu hỏi
Tốn nhiều thời gian thu thập
Khó xử lý thông tin
Hạn chế khi khai thác thông tin
Một trong những nhược điểm của câu hỏi bán cấu trúc là gì?
Thu thập và xử lý thông tin nhanh
Dễ bị thiên lệch kết quả
Khó đặt câu hỏi
Câu trả lời thường bị đánh giá thấp hơn thực tế
Phần dự kiến kết quả nghiên cứu thường được viết
Trong giai đoạn thiết kế đề cương nghiên cứu
Sau khi đã thu thập đủ số liệu nghiên cứu
Sau khi phân tích số liệu nghiên cứu
Trước khi thiết kế công cụ thu thập số liệu
Bảng trống (bảng giả) là bảng một chiều hay hai chiều với đầy đủ yếu tố nào?
Tên bảng, tên dòng, tên cột nhưng chưa có số liệu trong nội dung
Tên dòng, tên cột và số liệu trong nội dung nhưng chưa có tên bảng
Số liệu trong nội dung nhưng chưa có tên bảng, tên dòng, tên cột
Tên bảng, tên dòng, tên cột, số liệu nhưng chưa có phần giải thích số liệu
Bảng trống một chiều là bảng
Có tổng dòng và tổng cột
Chỉ có tổng cột, không có tổng dòng
Chỉ dự kiến mô tả kết quả của một biến số
Chỉ mô tả một biến số, không có tổng dòng
Bảng trống hai chiều là bảng dự kiến trình bày
Số liệu của hai hay nhiều biến số trong cùng một bảng
Số liệu của hai hay nhiều biến số trong cùng một bảng nhưng chỉ có tổng cột, không có tổng dòng
Số liệu của hai hay nhiều biến số trong cùng một bảng nhưng chỉ có tổng dòng, không có tổng cột
Kết quả của một biến số nhưng có đầy đủ tổng cột, tổng dòng và các chú thích dưới bảng
Biểu đồ cột rời (biểu đồ thanh) thường được sử dụng:{
Khi muốn so sánh một biến giữa hai hoặc ba quần thể khác nhau trên cùng một biểu đồ
So sánh các tần số, tỷ lệ giữa các nhóm, loại của một biến định tính, hoặc giá trị trung bình của các biến định lượng.
So sánh các tỷ lệ khác nhau giữa các loại trong một nhóm của một biến định tính. Tổng các tỷ lệ này phải bằng 100%.
Chỉ ra sự tương quan giữa hai biến định lượng. Biểu đồ này có thể cho biết hướng và mức độ tương quan giữa hai biến định lượng.
Biểu đồ hình tròn thường được sử dụng để so sánh các tỷ lệ khác nhau giữa các loại trong:
Một nhóm của một biến định tính. Tổng các tỷ lệ này phải bằng 100%.
Nhiều nhóm của một biến định tính. Tổng các tỷ lệ này phải bằng 100%.
Một nhóm của một biến lượng. Tổng các tỷ lệ này phải bằng 100%.
Nhiều nhóm của một biến định lượng. Tổng các tỷ lệ này phải bằng 100%.
Biểu đồ cột chồng được sử dụng thích hợp nhất trong trường hợp:
Biểu diễn số người mắc của nhiều bệnh, nhiều hiện tượng sức khoẻ theo địa dư, không quan tâm đến tỷ lệ
Khi muốn so sánh một biến giữa hai hoặc ba quần thể khác nhau trên cùng một biểu đồ
Biểu diễn một biến định lượng sau khi được phân ra các nhóm khác nhau và trở thành biến định tính.
So sánh các tần số, tỷ lệ giữa các nhóm, loại của một biến định tính, hoặc giá trị trung bình của các biến định lượng.
Biểu đồ chấm thường được sử dụng để:
Chỉ ra sự biến thiên của loại số liệu nào đó theo thời gian
Phân bố của một bệnh, một hiện tượng sức khoẻ nào đó theo địa dư
Chi ra sự tương quan giữa hai biến định lượng
Khi muốn so sánh biến đó giữa hai hoặc ba quần thể khác nhau
Bản đồ thường được sử dụng để biểu diễn:
Sự biến thiên của loại số liệu nào đó theo địa dư
Sự biến thiên của loại số liệu nào đó theo thời gian
Tỷ lệ mắc của một bệnh, một hiện tượng sức khoẻ nào đó theo địa dư
Sự phân bố của một bệnh, một hiện tượng sức khoẻ nào đó theo địa dư
Biểu đồ gấp khúc được sử dụng để:
Chỉ ra sự biến thiên của loại số liệu nào đó theo thời gian
Chỉ ra sự biến thiên của loại số liệu nào đó theo địa dư
So sánh các tỷ lệ khác nhau giữa các loại trong một nhóm của một biến định tính.
So sánh số lượng khác nhau giữa các loại trong một nhóm của một biến định lượng
Nếu phần dự kiến kết quả nghiên cứu không được viết đầy đủ và chính xác thì sẽ có thể dẫn đến các hậu quả sau, ngoại trừ:
Không cung cấp đủ dữ liệu để kết luận nghiên cứu theo mục tiêu.
Có thể thu thập thừa hoặc thiếu cho việc phân tích số liệu và viết báo cáo.
Không có đủ cơ sở để phân tích số liệu hoặc đặt hàng người phân tích số liệu.
Không có đủ cơ sở để bàn luận, kết luận và đưa ra các khuyến nghị có giá trị.
Bác sĩ Ignaz Semmelweis (1861) nghiên cứu về mối liên quan giữa bàn tay của cán bộ y tế và nhiễm trùng bệnh viện. Nghiên cứu này đã sử dụng thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu can thiệp
Nghiên cứu mô tả tương quan
Nghiên cứu bệnh chứng
Nghiên cứu đoàn hệ
Bác sĩ Ignaz Semmelweis, năm 1861 đã thực hiện hiện nghiên cứu tại 1 bệnh viện của Áo, tác giả đã tìm ra bằng chứng khoa học về mối liên hệ giữa 2 biến nghiên cứu đó là:
Sonde tiểu thường và nhiễm trùng hậu sản
Kháng sinh dự phòng mẹ và nhiễm trùng hậu sản
Trình độ chuyên môn của bác sĩ đỡ đẻ và nhiễm trùng hậu sản
Bàn tay bẩn của bác sĩ đỡ đẻ và nhiễm trùng hậu sản
Tác giả đã thực hiện nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai năm 2001,tìm ra mối quan hệ cùng chiều giữa nhiễm trùng vết mổ và thời gian phẫu thuật đó là:
Phạm Đức Mục và cộng sự (2001)
Tô Thị Điền và cộng sự (2001)
Cao Thị Hạnh và cộng sự (2001)
Nguyễn Thị Niên và cộng sự (2001)
Phạm Đức Mục và cộng sự (2001) đã thực hiện nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai, phát hiện ra mối liên hệ cùng chiều giữa 2 biến đó là:{
Bàn tay bẩn “Dirty hands” và nhiễm trùng hậu sản
Nhiễm trùng bệnh viện đường niệu và thời gian đặt sonde tiểu
Ung thư cổ tử cung và thuốc ngừa thai
Nhiễm trùng vết mổ và thời gian phẫu thuật
Tác giả đã thực hiện nghiên cứu tại bệnh viện Việt Đức năm 2005,tìm ra mối quan hệ cùng chiều giữa nhiễm trùng bệnh viện đường niệu và thời gian đặt sonde tiểu:{
Bác sĩ Ignaz Semmelweis
Phạm Đức Mục và cộng sự
Tô Thị Điền và cộng sự
Tanable và Buschmann
Tô Thị Điền và cộng sự (2005)đã thực hiện nghiên cứu tại bệnh viện Việt Đức,phát hiện ra mối liên hệ cùng chiều giữa 2 biến đó là:{
Bàn tay bẩn “Dirty hands” và nhiễm trùng hậu sản
Nhiễm trùng bệnh viện đường niệu và thời gian đặt sonde tiểu
Ung thư cổ tử cung và thuốc ngừa thai
Nhiễm trùng vết mổ là: thời gian phẫu thuật
Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2004) mô tả 18 trẻ được điều trị tại bệnh viện Nhi TW với chẩn đoán viêm phổi do virus cúm A qua xét nghiệm dịch họng và phế quản. Thiết kế nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này là:
Nghiên cứu mô tả điển hình
Nghiên cứu mô tả 1 trường hợp bệnh
Nghiên cứu mô tả tương quan tuyến tính
Nghiên cứu mô tả 1 chùm bệnh
Tác giả John (2010) mô tả 1 trường hợp phụ nữ 32 tuổi mang thai 7 tháng bị tai nan giao thông, nhập bệnh viện E và được chẩn đoán là máu tụ dưới màng cứng.Thiết kế nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này là:
Nghiên cứu mô tả điển hình
Nghiên cứu mô tả 1 trường hợp bệnh
Nghiên cứu mô tả tương quan tuyến tính
Nghiên cứu mô tả 1 chùm bệnh
Nguyễn Gia Bình và cộng sự. Đánh giá hiệu quả phác đồ điều trị ngộ độc thuốc chuột Tầu giữa 2 nhóm (nhóm điều trị theo phác đồ mới và nhóm điều trị theo phác đồ cũ)tại A9-Bệnh viện Bạch Mai, 1997-1998. Thiết kế nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này là:
Nghiên cứu đoàn hệ
Nghiên cứu bệnh chứng
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng
Nghiên cứu thử nghiệm cộng đồng
Tác giả Kazma (India), với tên đề tài là khảo sát kiến thức và thái độ hút thuốc lá thụ động của sinh viên trường đại học Hambua năm 2018 và các yếu tố liên quan.Thiết kế nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này là:
Nghiên cứu mô tả hồi cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu
Doll và Hill nghiên cứu về mối liên quan giữa hút thuốc lá và ung thư phổi (1951). Đối tượng nghiên cứu là 41000 bác sĩ người Anh được chia thành hai nhóm: nhóm hút thuốc và nhóm không hút thuốc. Nghiên cứu được thực hiện trong 4,5 năm. Thiết kế nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này là:
Nghiên cứu mô tả hồi cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu
Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu
Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu
Với mục tiêu nghiên cứu “Đánh giá kiến thức và thực hành tuân thủ chế dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị tại khoa Nội, BVĐK Quảng Ninh”. Biến nghiên cứu là:{
Kiến thức về thuốc, về bệnh của bệnh nhân tăng huyết áp
Thực hành tuân thủ thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp
Bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị tại khoa Nội, BVDK Quảng Ninh
Kiến thức và thực hành tuân thủ chế dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp
Với mục tiêu nghiên cứu “Đánh giá Kiến thức và thực hành tuân thủ chế dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị tại khoa Nội, BVĐK Quảng Ninh”. Đối tượng nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu là:{
Kiến thức về thuốc, về bệnh của bệnh nhân tăng huyết áp
Thực hành tuân thủ thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp
Bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị tại khoa Nội, BVĐK Quảng Ninh
Kiến thức và thực hành tuân thủ chế dùng thuốccủa bệnh nhân tăng huyết áp
Một điều dưỡng viên muốn tiến hành nghiên cứu về cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh tại bệnh viện A. Điều dưỡng đó cần áp dụng công thức tính cỡ mẫu: {
Cho một giá trị trung bình
Cho một tỷ lệ
Cho hai giá trị trung bình
Cho hai tỷ lệ
Trong một nghiên cứu nhằm nâng cao tỷ lệ phụ nữ áp dụng các biện pháp tránh thai, các nhà nghiên cứu đã tiến hành can thiệp tại huyện A. Sau can thiệp, họ muốn đánh giá sự khác biệt về tỷ lệ phụ nữ sử dụng biện pháp tránh thai ở huyện A và huyện B (không có can thiệp) là bao nhiêu và có ý nghĩa thống kê không. Theo em, trường hợp này cần áp dụng công thức tính cỡ mẫu:{
Cho một giá trị trung bình
Cho một tỷ lệ
Cho hai giá trị trung bình
Cho hai tỷ lệ
Một nhà nghiên cứu muốn tiến hành nghiên cứu về thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại xã A. Nhà nghiên cứu cần áp dụng công thức tính cỡ mẫu:{
Cho một giá trị trung bình
Cho một tỷ lệ
Cho hai giá trị trung bình
Cho hai tỷ lệ
Một điều dưỡng sản khoa muốn đánh giá hiệu quả của hai phương pháp giảm đau cho phụ nữ khi sinh con. Điều dưỡng đó muốn biết thời gian đau đẻ trung bình (theo phút) của hai nhóm phụ nữ sử dụng hai phương pháp này có khác nhau không. Điều dưỡng đó cần áp dụng công thức tính cỡ mẫu:
Cho một giá trị trung bình
Cho một tỷ lệ
Cho hai giá trị trung bình
Cho hai tỷ lệ
Với mục tiêu là xác định chiều cao vào cân nặng của trẻ em từ 0- 15 tuổi, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một cuộc điều tra trên một mẫu đại diện cho trẻ em trong cả nước. Để đảm bảo tính đại diện của mẫu, các cá thể nghiên cứu được chọn theo 7 vùng kinh tế xã hội. Từ mỗi vùng, hai tỉnh đại diện được chọn ngẫu nhiên. Từ mỗi tỉnh đã được chọn, lại chọn ngẫu nhiên hai huyện, từ mỗi huyện chọn ra hai xã. Trong các xã được chọn, các hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên hệ thống.Tất cả trẻ em trong độ tuổi từ 0- 15 tuổi nằm trong các hộ gia đình được chọn được đưa vào nghiên cứu.
Trong nghiên cứu trên, nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chọn mẫu: {
Ngẫu nhiên đơn
Ngẫu nhiên hệ thống
Toàn bộ
Nhiều giai đoạn
Với mục tiêu là xác định chiều cao vào cân nặng của trẻ em từ 0- 15 tuổi, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một cuộc điều tra trên một mẫu đại diện cho trẻ em trong cả nước. Để đảm bảo tính đại diện của mẫu, các cá thể nghiên cứu được chọn theo 7 vùng kinh tế xã hội. Từ mỗi vùng, hai tỉnh đại diện được chọn ngẫu nhiên. Từ mỗi tỉnh đã được chọn, lại chọn ngẫu nhiên hai huyện, từ mỗi huyện chọn ra hai xã. Trong các xã được chọn, các hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên hệ thống.Tất cả trẻ em trong độ tuổi từ 0- 15 tuổi nằm trong các hộ gia đình được chọn được đưa vào nghiên cứu.Trong nghiên cứu trên, quần thể nghiên cứu là tất cả trẻ em từ 0- 15 tuổi trong: {
7 vùng kinh tế xã hội
2 tỉnh đại diện được chọn
Các hộ gia đình được chọn
2 xã được chọn
Với mục tiêu là xác định chiều cao vào cân nặng của trẻ em từ 0- 15 tuổi, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một cuộc điều tra trên một mẫu đại diện cho trẻ em trong cả nước. Để đảm bảo tính đại diện của mẫu, các cá thể nghiên cứu được chọn theo 7 vùng kinh tế xã hội. Từ mỗi vùng, hai tỉnh đại diện được chọn ngẫu nhiên. Từ mỗi tỉnh đã được chọn, lại chọn ngẫu nhiên hai huyện, từ mỗi huyện chọn ra hai xã. Trong các xã được chọn, các hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên hệ thống.Tất cả trẻ em trong độ
tuổi từ 0- 15 tuổi nằm trong các hộ gia đình được chọn được đưa vào nghiên cứu.
Trong nghiên cứu trên, mẫu nghiên cứu là tất cả trẻ em từ 0- 15 tuổi trong:
7 vùng kinh tế xã hội
2 tỉnh đại diện được chọn
Các hộ gia đình được chọn
2 xã được chọn
Với mục tiêu là xác định chiều cao vào cân nặng của trẻ em từ 0- 15 tuổi, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một cuộc điều tra trên một mẫu đại diện cho trẻ em trong cả nước. Để đảm bảo tính đại diện của mẫu, các cá thể nghiên cứu được chọn theo 7 vùng kinh tế xã hội. Từ mỗi vùng, hai tỉnh đại diện được chọn ngẫu nhiên. Từ mỗi tỉnh đã được chọn, lại chọn ngẫu nhiên hai huyện, từ mỗi huyện chọn ra hai xã. Trong các xã được chọn, các hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên hệ thống.Tất cả trẻ em trong độ tuổi từ 0- 15 tuổi nằm trong các hộ gia đình được chọn được đưa vào nghiên cứu.Trong nghiên cứu trên, đơn vị nghiên cứu là:{
Huyện
Xã
Hộ gia đình
Trẻ em từ 0–15 tuổi
Khi nghiên cứu về tình trạng sau sinh của các sản phụ tại bệnh viện A năm 2020, nghiên cứu viên đã lấy tất cả các hồ sơ bệnh án của các sản phụ nói trên sắp xếp thành một chồng theo thứ tự thời gian vào viện. Sau đó cứ 5 bệnh án, nghiên cứu viên lại chọn ra một bệnh án . Số bệnh án được chọn được đưa vào thu thập số liệu và nghiên cứu. Nghiên cứu viên đã sử dụng phương pháp chọn mẫu:
Phân tầng
Ngẫu nhiên hệ thống
Nhiều giai đoạn
Chùm
Trong một nghiên cứu về thưc trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân ở sinh viên đại học A, nhà nghiên cứu muốn so sánh sự khác biệt giữa sinh viên nam và sinh viên nữ về các nội dung nghiên cứu. Để có mẫu đại diện, nhà nghiên cứu phải sử dụng phương pháp chọn mẫu:
Phân tầng
Nhiều giai đoạn
Ngẫu nhiên hệ thống
Chùm
Trung tâm y tế huyện A mong muốn ước tính tỷ lệ mắc lao trong số trẻ em dưới 5 tuổi tại địa phương họ. Để có mẫu đại diện, nhà nghiên cứu đã liệt kê tất cả các xã trong huyện làm khung mẫu. Dùng phương pháp bốc thăm, nhà nghiên cứu chọn ra 3 xã. Sau đó, nhà nghiên cứu lập danh sách trẻ em dưới 5 tuổi trong xã 3 xã đã chọn rồi chọn ngẫu nhiên 500 trẻ dưới 5 tuổi vào nghiên cứu.Nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chọn mẫu:
Ngẫu nhiên đơn
Ngẫu nhiên hệ thống
Chùm
Chỉ tiêu
Một nhà nghiên cứu muốn đánh giá thao tác hành nghề của điều dưỡng (rửa tay, tiêm, truyền,…), phương pháp thu thập thông tin tốt nhất nhà nghiên cứu đó nên sử dụng là:
Ngẫu nhiên đơn
Ngẫu nhiên hệ thống
Thuận tiện
Có mục đích
Một nhà nghiên cứu muốn đánh giá thao tác hành nghề của điều dưỡng (rửa tay, tiêm, truyền,…), phương pháp thu thập thông tin tốt nhất nhà nghiên cứu nên sử dụng là:
Phỏng vấn cá nhân
Quan sát
Sử dụng số liệu sẵn có
Thảo luận nhóm
Một nhà nghiên cứu muốn viết một bài viết tổng quan trong nghiên cứu khoa học. Nhà nghiên cứu đó thường phải sử dụng đến các thông tin thu thập được qua:
Quan sát
Phỏng vấn
Thảo luận nhóm
Các thông tin có sẵn
Một nhà nghiên cứu muốn đánh giá vệ sinh môi trường của cộng đồng. Theo em, phương pháp thu thập thông tin tốt nhất nhà nghiên cứu đó nên sử dụng là
Quan sát
Thu thập các thông tin sẵn có
Phỏng vấn
Thảo luận nhóm
Một nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu kiến thức của bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi về cách phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính. Theo em, phương pháp thu thập thông tin tốt nhất nhà nghiên cứu đó nên sử dụng là
Quan sát
Phỏng vấn
Thu thập thông tin có sẵn
Khám sàng lọc
Một nhà nghiên cứu muốn biết ý kiến chung của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân. Theo em, phương pháp thu thập thông tin tốt nhất nhà nghiên cứu đó nên sử dụng là
Phỏng vấn gián tiếp
Phỏng vấn trực tiếp
Thu thập thông tin có sẵn
Thảo luận nhóm
Một nhà nghiên cứu muốn soạn một bộ câu hỏi phỏng vấn cá nhân. Theo em, tiêu chí quan trọng nhất nhà nghiên cứu đó phải xem xét ngoài nội dung bộ câu hỏi là
Ai là người trả lời phỏng vấn
Địa điểm tiến hành phỏng vấn ở đâu
Ai là người thực hiện phỏng vấn
Thời gian nào sẽ thực hiện phỏng vấn
Cho bảng số liệu sau. Bảng số liệu trên thuộc dạng bảng
Trống một chiều
Trống hai chiều
Một chiều
Hai chiều
Cho bảng số liệu sau. Bảng số liệu trên thuộc dạng bảng
Trống một chiều
Trống hai chiều
Một chiều
Hai chiều
Cho bảng số liệu sau. Bảng số liệu trên thuộc dạng bảng
Trống một chiều
Trống hai chiều
Một chiều
Hai chiều
Cho bảng số liệu sau. Bảng số liệu trên thuộc dạng bảng
Trống một chiều
Trống hai chiều
Một chiều
Hai chiều
Biểu đồ dưới đây biểu diễn hình thức cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản ở trường mà học sinh mong muốn. Biểu đồ trên thuộc loại biểu đồ
Thanh ngang
Cột chồng
Cột liên tục
Cột đứng
Một nghiên cứu viên khi trình bày kết quả nghiên cứu muốn chuyển bảng số liệu dưới đây sang dạng biểu đồ. Dạng biểu đồ thích hợp nhất cho bảng số liệu này là
Hình tròn
Cột đứng
Cột chồng
Chấm
Một nghiên cứu viên khi trình bày kết quả nghiên cứu muốn chuyển bảng số liệu dưới đây sang dạng biểu đồ. Dạng biểu đồ thích hợp nhất cho bảng số liệu này là:
Biểu đồ hình tròn
Biểu đồ cột liên tục
Biểu đồ cột chồng
Biểu đồ thanh ngang
