NEW
Font size
WorksheetsChương 3
Total questions: 66
Worksheet time: 33mins
Anh/Chị hiểu như thế nào là Luật Giáo dục?
Luật Giáo dục là một văn bản của Quốc hội để thể chế đường lối giáo dục, làm cơ sở của pháp lý cho hoạt động giáo dục.
Luật Giáo dục là một văn bản của Chính phủ để thể chế đường lối giáo dục, làm cơ sở của pháp lý cho hoạt động giáo dục.
Luật Giáo dục là văn bản của Nhà nước để thể chế hóa đường lối giáo dục làm cơ sở của pháp lý cho hoạt động giáo dục trong một quốc gia.
Luật Giáo dục là một văn bản của Bộ giáo dục và đào tạo để thể chế đường lối giáo dục, làm cơ sở của pháp lý cho hoạt động giáo dục
Luật Giáo dục năm 2019 có hiệu lực khi nào?
01/7/2019
11/7/2019
11/7/2020
01/7/2020
Theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019. Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục là:
Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ, người lao động của cơ sở giáo dục và người học;
Xuyên tạc nội dung giáo dục. Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi, tuyển sinh. Hút thuốc, uống rượu, bia, gây rối an ninh, trật tự;
Ép buộc học sinh học thêm để thu tiền. Lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ giáo dục để ép buộc đóng góp tiền hoặc hiện vật;
Tất cả các nội dung trên.
Theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019. Cơ sở giáo dục phổ thông gồm:
Trường mầm non; Trường tiểu học; Trường trung học cơ sở; Trường trung học phổ thông;
Trường tiểu học; Trường trung học cơ sở; Trường trung học phổ thông;
Trường tiểu học; Trường trung học cơ sở; Trường trung học phổ thông; Trường trung học phổ thông có nhiều cấp học;
Trường tiểu học; Trường trung học cơ sở; Trường trung học phổ thông; Trường phổ thông có nhiều cấp học.
Theo khoản 1, Điều 3, tính chất nguyên lý giáo dục của Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 là:
Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, công nghệ, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nan.
Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, văn minh, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nòng cốt.
Theo khoản 2, Điều 3, tính chất nguyên lý giáo dục của Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 là:
Hoạt động giáo dục được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn kết với thực tiễn, giáo dục nhà trường liên kết với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Hoạt động giáo dục được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Mục tiêu giáo dục. Được quy định tại Điều mấy của Luật giáo dục 2019?
Điều 1, Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019
Điều 3, Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019
Điều 2, Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019
Điều 4, Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019
Tại khoản 1, Điều 4, Phát triển giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH114, ngày 14 tháng 6 năm 2019 là:
Phát triển giáo dục là quốc sách đầu tiên;
Phát triển giáo dục là chính sách hàng đầu;
Phát triển giáo dục là quốc sách số một;
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu;
Tại khoản 2, Điều 4, Phát triển giáo dục theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 có đề cập đến là:
Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh;
Phát triển giáo dục cần phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh;
Phát triển giáo dục phải gắn chặt với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh;
Phát triển giáo dục cần phải gắn kết với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh;
Tại khoản 2, Điều 4, Phát triển giáo dục theo Luật Giáo dục số 43/2019/Q1114, ngày 14 tháng 6 năm 2019 có đề cập đến:
Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, bảo đảm hài hòa cơ cấu ngành nghề trình độ bằng cấp, nguồn nhân lực và phù hợp vùng miền;
Thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối cơ cấu ngành nghề, trình độ, nguồn nhân lực và phù hợp vùng miền;
Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, đảm bảo cân bằng cơ cấu ngành nghề, trình độ kiến thức, nguồn nhân lực và phù hợp vùng miền;
Thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân bằng cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo, nguồn nhân lực và phù hợp vùng miền;
Tại khoản 2, Điều 4, Phát triển giáo dục theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 có đề cập đến:
Mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm hiệu quả và chất lượng; gắn kết giữa đào tạo và sử dụng;
Mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả; phối hợp giữa đào tạo và sử dụng;
Mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng;
Mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả, liên kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng;
Tại khoản 1, Điều 6, Hệ thống giáo dục quốc dân theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 là:
Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục quốc gia, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục toàn quốc, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
Hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục Nhà nước, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
Tại khoản 2c, Điều 6, Hệ thống giáo dục quốc dân theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 là:
Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp.
Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.
Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng, trình độ đại học và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác.
Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác.
Tại khoản 2d, Điều 6, Hệ thống giáo dục quốc dân theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 là:
Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.
Giáo dục đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học.
Giáo dục đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ.
Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ.
Tại khoản 3, Điều 6, Hệ thống giáo dục quốc dân theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019. Ai là người quyết định phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam?
Tổng Bí thư quyết định phê duyệt.
Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt.
Chủ tịch nước quyết định phê duyệt.
Chủ tịch Quốc hội quyết định phê duyệt.
Tại khoản 4, Điều 6, Hệ thống giáo dục quốc dân theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019. Ai là người quy định ngưỡng đầu vào trình độ cao đẳng, trình độ đại học thuộc ngành đào tạo giáo viên và ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe?
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định.
Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Y tế trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định.
Tại khoản 1, Điều 7. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 có đề cập đến là:
Nội dung giáo dục cần phải bảo đảm tính toàn diện, cơ bản, thiết thực, hiện đại, có hệ thống và được cập nhật thường xuyên, coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân;
Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính thiết thực, cơ bản, toàn diện, có hệ thống và được cập nhật thường xuyên, coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân;
Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính hiện đại, cơ bản, toàn diện, thiết thực, có hệ thống và được cập nhật thường xuyên, coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân;
Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại, có hệ thống và được cập nhật thường xuyên, coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phù hợp với sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tâm sinh lý lứa tuổi và khả năng của người học;
Tại khoản 2, Điều 7. Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 có đề cập đến là:
Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của người học bởi dưỡng cho người học kỹ năng tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên;
Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên;
Phương pháp giáo dục cần phải khoa học, phát huy tinh chủ động, tích cực, tự giác, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học khả năng tự học và hợp tác, kỹ năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên;
Phương pháp giáo dục cần phải khoa học, phát huy tính tự học, tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự đọc, tự nghiên cứu và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên;
Tại khoản 1, Điều 8, Chương trình giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 có đề cập đến là:
Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu dạy học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học;
Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học;
Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học;
Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu học tập; quy định chuẩn kiến thức, năng lực, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và kiến thức của người học;
Tại khoản 3, Điều 8. Chương trình giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43-2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 có đề cập đến là:
Chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực người học quy định trong chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa đối với giáo dục phổ thông, giáo trình và tài liệu giảng dạy đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học;
Chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực người học quy định trong chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa đối với giáo dục phổ thông, giáo trình và tài liệu giảng dạy đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học;
Chuẩn kiến thức, kỹ năng, năng lực và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực người học quy định trong chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa đối với giáo dục phổ thông, giáo trình và tài liệu giảng dạy đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học;
Tại khoản 3, Điều 8, Chương trình giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 có đề cập đến là:
SGK, giáo trình giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về chương trình giáo dục;
Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục,
Sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về nội dung giáo dục;
Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng mục tiêu giáo dục,
Tại khoản 4, Điều 8, Chương trình giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 có đề cập đến là:
Chương trình giáo dục được xây dựng kế hoạch thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông
Chương trình giáo dục được chỉ đạo thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông,
Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông,
Chương trình giáo dục được kiểm tra đánh giá theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông;
Tại khoản 3, Điều 10, Liên thông trong giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định chi tiết về liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân;
Chính phủ quy định chi tiết về liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân;
Quốc hội quy định chi tiết về liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân;
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết về liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân;
Tại khoản 2, Điều 11, Ngôn ngữ, chữ viết dùng trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục 43/2019, ngày 14 tháng 6 năm 2014 quy định:
Quốc hội khuyến khích, tạo cơ hội để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình theo quy định của Chính phủ, người khuyết tật nghe nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu, người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo quy định của Luật Người khuyết tật;
Chính phủ khuyến khích điều kiện thuận lợi để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình theo quy định của Chính phủ, người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu, người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo quy định của Luật Người khuyết tật,
Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến khích, tạo cơ hội thuận lợi để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình theo quy định của Chính phủ, người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu, người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo quy định của Luật Người khuyết tật,
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình theo quy định của Chính phủ, người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu, người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo quy định của Luật Người khuyết tật,
Tại khoản 1, Điều 12, Văn bằng, chứng chỉ, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc gia được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp cấp học hoặc sau khi kết thúc chương trình giáo dục, đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng theo quy định của Luật này;
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp cấp học hoặc sau khi hoàn thành chương trình giáo dục, đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng theo quy định của Luật này;
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp cấp học hoặc sau khi hoàn thành nội dung giáo dục, đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng theo quy định của Luật này;
Văn bằng của hệ thống giáo dục Việt Nam được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp cấp học hoặc sau khi hoàn thành nội dung giáo dục, đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng theo quy định của Luật này;
Tại khoản 2, Điều 12, Văn bằng, chứng chỉ, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc gia gồm bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ;
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp tiểu học, bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp sơ cấp, bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, bằng giáo sư;
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng trình độ tương đương;
Văn bằng của hệ thống giáo dục Việt Nam gồm bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp sơ cấp, bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng tại chức, bằng chuyên tu, bằng đào tạo từ xa;
Tại khoản 4, Điều 12, Văn bằng, chứng chỉ, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Văn bằng, chứng chỉ do cơ sở giáo dục thuộc các loại hình và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cấp có giá trị pháp lý như nhau;
Văn bằng, chứng chỉ do cơ sở giáo dục thuộc các loại hình và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc gia cấp có giá trị pháp lý bằng nhau;
Văn bằng, chứng chỉ do cơ sở giáo dục thuộc các loại hình và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cấp có giá trị pháp lý giống nhau;
Văn bằng, chứng chỉ do cơ sở giáo dục thuộc các loại hình và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cấp có giá trị pháp lý ngang nhau;
Tại khoản 5, Điều 12, Văn bằng, chứng chỉ, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hệ thống các văn bằng giáo dục đại học và quy định văn bằng trình độ tương đương của một số ngành đào tạo chuyên sâu đặc thù;
Chính phủ ban hành hệ thống văn bằng giáo dục đại học và quy định văn bằng trình độ tương đương của một số ngành đào tạo chuyên sâu đặc thù;
Quốc hội ban hành hệ thống văn bằng giáo dục đại học và quy định văn bằng trình độ tương đương của một số ngành đào tạo chuyên sâu đặc thù;
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hệ thống văn bằng giáo dục đại học và quy định văn bằng trình độ tương đương của một số ngành đào tạo chuyên sâu đặc thù;
Tại khoản 1, Điều 13, Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Mọi người dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập,
Học tập là quyền lợi và trách nhiệm của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập,
Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập;
Học tập là nghĩa vụ và quyền lợi của người dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập,
Tại khoản 2, Điều 13, Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Chính phủ thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo môi trường giáo dục an toàn, bảo đảm giáo dục hòa nhập, tạo điều kiện để người học phát huy tiềm năng, năng khiếu của mình;
Chính phủ thực hiện bình đẳng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện giáo dục an toàn, bảo đảm giáo dục hòa nhập, tạo môi trường để người học phát huy tiềm năng, năng khiếu của mình;
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo môi trường giáo dục an toàn, bảo đảm giáo dục hòa nhập, tạo cơ hội để người học phát huy kiến thức, kỹ năng, năng khiếu của mình;
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo môi trường giáo dục an toàn, bảo đảm giáo dục hòa nhập, tạo điều kiện để người học phát huy tiềm năng, năng khiếu của mình;
Tại khoản 3, Điều 13, Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, người học thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập,
Chính phủ ưu tiên, tạo điều kiện cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, người học thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập,
Nhà nc ưu tiên, tạo môi trường cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định Luật Người khuyết tật, người học thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thực hiện quốc nghĩa vụ học tập;
Tại khoản 1, Điều 14, Phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non là giáo dục bắt buộc. Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 05 tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở,
Giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc. Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non trẻ em 05 tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở,
Giáo dục trung học cơ sở là giáo dục bắt buộc. Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 05 tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học;
Giáo dục phổ thông là giáo dục bắt buộc. Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 05 tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học;
Tại khoản 2, Điều 14, Phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện giáo dục bắt buộc trong cả, quyết định kế hoạch, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục;
Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm thực hiện giáo dục bắt buộc trong cả nước; quyết định kế hoạch, bảo đảm các điều kiện để thực biến phổ cập giáo dục;
Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện giáo dục bắt buộc trong cả nước; quyết định kế hoạch, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục;
Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện giáo dục bắt buộc trong cả nước; xây dựng kế hoạch, bảo đảm các điều kiện để hoàn thành phổ cập giáo dục;
Tại khoản 3, Điều 14, Phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Mọi người dân trong độ tuổi quy định có nhiệm vụ học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc;
Mọi công dân trong độ tuổi quy định có trách nhiệm học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc;
Mọi người dân trong độ tuổi quy định có trách nhiệm học tập để hoàn thành phổ cập giáo dục và thực hiện giáo dục bắt buộc;
Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc;
Tại khoản 4, Điều 14, Phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Gia đình, người giám hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc;
Gia đình, cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để hoàn thành phổ cập giáo dục và thực hiện giáo dục bắt buộc;
Gia đình, cha mẹ, người thân có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc;
Gia đình, cha mẹ hoặc người bảo hộ có nghĩa vụ tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc;
Chọn phương án diễn đạt đúng về "giáo dục hòa nhập" theo nội dung trình bày trong tài liệu nguồn.
Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của người học, bảo đảm quyền học tập bình đẳng, chất lượng giáo dục, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử,
Giáo dục hòa nhập là hình thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng của người học; bảo đảm quyền học tập bình đẳng, hiệu quả giáo dục, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và khả năng của người học, tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử,
Giáo dục hòa nhập là nội dung giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của người học, bảo đảm quyền học tập công bằng, chất lượng giáo dục, phù hợp với nguyện vọng, đặc điểm và năng lực của người học, tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử,
Tại khoản 2, Điều 15, Giáo dục hòa nhập, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định nội dung nào sau đây?
Chính phủ có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định sử dụng Nguồn khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan;
Bộ Giáo dục và Đào tạo có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan;
Nhà nước có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan;
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan;
Tại khoản 1, Điều 16, Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định nội dung nào sau đây?
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn thể nhân dân;
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của mọi công dân;
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của mọi tầng lớp nhân dân;
Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân;
Tại khoản 2, Điều 16, Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2017/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định nội dung nào sau đây?
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục, khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao;
Nhà nước giữ vai trò lãnh đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục, khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao,
Nhà nước giữ vai trò chỉ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao;
Tại khoản 1, Điều 17, Đầu tư cho giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư hàng đầu. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật;
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư quan trọng. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật,
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư hiệu quả. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật;
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và được ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật,
Tại khoản 3, Điều 17, Đầu tư cho giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ chốt trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chính trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục;
Tại khoản 1, Điều 18, Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục;
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục;
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục;
Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục;
Tại khoản 2, Điều 18, Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Cán bộ quản lý giáo dục có trách nhiệm học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và thực hiện các chuẩn, quy chuẩn theo quy định của pháp luật;
Cán bộ quản lý giáo dục có nghĩa vụ học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và thực hiện các chuẩn, quy chuẩn theo quy định của pháp luật,
Cán bộ quản lý giáo dục có nhiệm vụ học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và thực hiện các chuẩn, quy chuẩn theo quy định của pháp luật,
Cán bộ quản lý giáo dục có nghĩa vụ học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý điều hành và thực hiện các tiêu chí, tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước;
Tại khoản 3, Điều 18, Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Chính phủ có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Nhà nước có chính sách xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Tại khoản 1, Điều 19, Hoạt động khoa học và công nghệ, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Hoạt động khoa học và công nghệ là một trách nhiệm của cơ sở giáo dục
Hoạt động khoa học và công nghệ là một yêu cầu của cơ sở giáo dục
Hoạt động khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ của cơ sở giáo dục
Hoạt động khoa học và công nghệ là một mục tiêu của cơ sở giáo dục
Tại khoản 3, Điều 19, Hoạt động khoa học và công nghệ, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà nước tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm văn hóa, khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước
Chính phủ tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm văn hóa, khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước
Nhà nước muốn tạo môi trường thuận lợi cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước
Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở giáo dục hoạt động khoa học và công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; xây dựng cơ sở giáo dục thành trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ của địa phương hoặc của cả nước
Tại Điều 20, Không truyền bá tôn giáo trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Không tổ chức truyền bá tôn giáo, tiến hành các lễ nghi tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân
Không thực hiện truyền bá tôn giáo, tiến hành các lễ nghi tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân
Không truyền bá tôn giáo, tiến hành các lễ nghi tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân
Không truyền bá tôn giáo, tổ chức các lễ nghi tôn giáo trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân
Tại Khoản 2, Điều 21, Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi;
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích chính trị;
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích kinh tế;
Cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích An ninh- Quốc phòng;
Tại Khoản 1, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định
Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm cơ thể nhà giáo, cán bộ, người lao động của cơ sở giáo dục và người học;
Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo,cán bộ người lao động của cơ sở giáo dục và người học;
Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể giáo viên, cán bộ, người lao động của cơ sở giáo dục và người học;
Xúc phạm nhân phẩm, uy tín, xâm phạm thân thể giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, người lao động của cơ sở giáo dục và người học;
Tại Khoản 2, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định
Xuyên tạc chương trình giáo dục;
Xuyên tạc phương pháp giáo dục;
Xuyên tạc nội dung giáo dục;
Xuyên tạc hình thức giáo dục;
Tại Khoản 3, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định
Gian dối trong học tập, kiểm tra, thi, tuyển sinh;
Gian lận trong học tập, kiểm tra, đánh giá, thi, tuyển sinh;
Gian dối trong học tập, thi cử, kiểm tra, tuyển sinh;
Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi, tuyển sinh;
Tại Khoản 4, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định
Hút thuốc, uống rượu, bia, gây rối an ninh, trật tự;
Hút thuốc, uống rượu, uống bia, gây mất an ninh, trật tự;
Hút thuốc, uống rượu, uống bia; làm ảnh hưởng an ninh, trật tự;
Hút thuốc; uống rượu, uống bia, gây rối trật tự, an ninh;
Tại Khoản 5, Điều 22, Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định
Bắt buộc học sinh học thêm để thu tiền;
Ép buộc học sinh học thêm để thu tiền;
Yêu cầu học sinh học thêm để thu tiền;
Tại Khoản 6, Điều 22, các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục, theo Luật Giáo dục số 43/2010/Q1114, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Lợi dụng việc ủng hộ, tài trợ giáo dục để bắt buộc đóng góp các khoản tiền hoặc hiện vật
Lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ các hoạt động giáo dục để đề nghị đóng góp tiền hoặc hiện vật
Lợi dụng việc tài trợ, ủng hộ giáo dục để ép buộc đóng góp tiền hoặc hiện vật
Lợi dụng việc ủng hộ, tài trợ giáo dục để yêu cầu đóng góp tiền hoặc hiện vật
Tại Khoản 1, Điều 23, vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non là cấp học đầu đời trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc gia, đặt nền tảng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi
Giáo dục mầm là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền tảng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, dạy học trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi
Tại Khoản 2, Điều 23, vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một
Giáo dục mầm non nhằm giáo dục toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một
Giáo dục mầm nhằm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một
Giáo dục mầm non nhằm phát triển giáo dục, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một
Tại Khoản 1, Điều 24, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nội dung giáo dục mầm non phải đảm bảo hợp lý với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em, phát triển toàn diện về thể chất, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ, tôn trọng sự khác biệt, phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học
Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em, phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ, tôn trọng sự khác biệt, phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học
Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, cân bằng giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em, phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất, tình cảm, kỹ năng sống, kỹ năng xã hội, thẩm mỹ, tôn trọng sự khác biệt, phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học
Nội dung giáo dục mầm non phải đảm bảo hợp lý với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; hài hòa giữa chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em, phát triển cân bằng về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ, tôn trọng sự khác biệt, phù hợp với các độ liên thông với giáo dục tiểu học
Tại Khoản 2, Điều 24, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý,
Giáo dục mẫu giáo phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em, kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;
Giáo dục trẻ em phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;
Giáo dục nhà trẻ phải tạo môi trường thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn kết giữa người lớn với trẻ em, kích thích sự phát triển sáng tạo các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý;
Tại Khoản 2b, Điều 24, Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục mầm non phải tạo môi trường cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Giáo dục nhà trẻ phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Giáo dục mẫu giáo phải tạo cơ hội cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Giáo dục mẫu giáo phải tạo điều kiện cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em;
Tại Khoản 1c, Điều 25, Chương trình giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 13/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Thống nhất trong toàn quốc và được triển khai thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non;
Thống nhất trong cả nước và được tổ chức thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non;
Thống nhất trong cả nước và được tổ chức triển khai thực hiện linh hoạt, hợp lý với điều kiện cụ thể của địa phương và cơ sở giáo dục mầm non;
Thống nhất trong toàn quốc và được tổ chức thực hiện linh động, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và trường mầm non;
Tại Khoản 1, Điều 26, Cơ sở giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2017/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà trẻ, nhóm trẻ dân lập nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi,
Nhà trẻ, nhóm trẻ công lập nhận giữ trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi,
Nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi,
Nhà trẻ, nhóm trẻ tư thục nhận trông trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi;
Tại Khoản 2, Điều 26, Cơ sở giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo công lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo dân lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi,
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo tư thục nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập nhận trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi;
Tại Khoản 3, Điều 26, Cơ sở giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Trường mầm non, lớp mầm non độc lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.
Trường mẫu giáo, lớp mầm non công lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.
Trường mầm non, lớp mẫu giáo dân lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.
Trường mẫu giáo, nhà trẻ độc lập là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi.
Tại Khoản 1, Điều 27, Chính sách phát triển giáo dục mầm non, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội rất khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp.
Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp.
Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục mầm non, ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội thật sự khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp.
Nhà nước có chính sách đầu tư phát triển giáo dục mầm non; ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp.
Tại Khoản 1a, Điều 28, Cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 Tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm.
Giáo dục tiểu học được học trong thời gian 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm.
Giáo dục tiểu học được tổ chức trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm.
Giáo dục tiểu học được hoàn thành trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm.
Tại Khoản 1b, Điều 28, Cấp học và độ tuổi của giáo dục phổ thông, theo Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 quy định:
Giáo dục trung học cơ sở được tổ chức thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải học hết chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm.
Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm.
Giáo dục trung học cơ sở được hoàn thành trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thiện chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm.
Giáo dục trung học cơ sở được triển khai trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải học xong chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm.
