Font size
WorksheetsLSU-CKII-12
Total questions: 91
Worksheet time: 53mins
“Nền ngoại giao Việt Nam hiện đại [1945 – 2000] mang hồn dân tộc, rất kiên định về nguyên tắc, nhưng ứng xử tinh tế và linh hoạt; phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với các mặt trận quân sự, chính trị và các ngành khác, kết hợp thế và lực góp phần xoay chuyển tình thế từ yếu thành mạnh; gắn lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, dân tộc với quốc tế, dân tộc với thời đại; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp”.
(Nguyễn Đình Bin (Chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002).
Ngoại giao Việt Nam thời hiện đại có quan hệ mật thiết với các mặt trận quân sự và chính trị.
Cứng rắn về nguyên tắc và sách lược là đặc điểm nổi bật của ngoại giao Việt Nam thời hiện đại.
Thực tế kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ở Việt Nam cho thấy, các Hiệp định ngoại giao ta kí với kẻ thù đều góp phần xoay chuyển tình thế trên chiến trường.
Tính chất chính nghĩa là nhân tố duy nhất giúp Việt Nam phát huy được sức mạnh dân tộc và thời đại trong đấu tranh ngoại giao thời hiện đại.
“Ngày 05-7-1976, Việt Nam công bố “Chính sách bốn điểm” trong quan hệ với các nước Đông Nam Á:
1. Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình.
2. Không để lãnh thổ nước mình cho bất cứ nước ngoài nào sử dụng làm căn cứ xâm lược và can thiệp vào các nước khác trong khu vực.
3. Thiết lập quan hệ hữu nghị láng giềng tốt, hợp tác kinh tế và trao đổi văn hóa trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi. Giải quyết những vấn đề tranh chấp giữa các nước trong khu vực thông qua thương lượng theo tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.
4. Phát triển hợp tác vì sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh theo điều kiện riêng mỗi nước vì lợi ích độc lập dân tộc, hòa bình, trung lập thật sự ở Đông Nam Á, góp phần vào sự nghiệp hòa bình trên thế giới”.
“Chính sách bốn điểm” (1976) thể hiện mong muốn của Việt Nam là hữu nghị và hợp tác với các nước Đông Nam Á trong cùng tồn tại hòa bình.
Việt Nam công bố “Chính sách bốn điểm” với các nước Đông Nam Á trong bối cảnh đã xóa bỏ hoàn toàn thế bị bao vây, cấm vận.
Trong giai đoạn 1975 – 1985, trên thực tiễn, Việt Nam đã thiết lập được quan hệ tốt đẹp, bình đẳng cùng có lợi với tất cả các quốc gia khu vực Đông Nam Á.
Chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam với Đông Nam Á là nhân tố quyết định tạo nên một khu vực hòa bình, ổn định, trung lập, cùng phát triển.
“ Năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại hoạt động ở Pháp. Năm 1919, Nguyễn Tất Thành thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Véc-xai bản Yêu sách của nhân dân An Nam, trong đó kí tên là Nguyễn Ái Quốc.
Tháng 7 - 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V. Lê-nin
Tháng 12 - 1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam
(Sách giáo khoa Lịch sử 11, Bộ kết nối tri thức, NXBGD, tr 92)
Năm 1919, Nguyễn Tất Thành gửi đến Hội nghị Véc-xai Bản Yêu sách của nhân dân An Nam khi đang ở Pháp.
b. Trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước" Chế Lan Viên viết “Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười" đã phản ánh sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.
c. Hoạt động của Người trong thời gian này là chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
d. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam đánh dấu sự chuyển biến về hành động tiếp nối sự chuyển biến về nhận thức.
