Font size
WorksheetsLS 11 HK2
Total questions: 62
Worksheet time: 34mins
Phân chia ruộng công ở các làng xã cho quan lại từ tam phẩm trở xuống đến các tầng lớp nhân dân là nội dung chủ yếu của chính sách cải cách nào sau đây của vua Lê Thánh Tông?
Quân điền
Hạn điền
Hạn nô
Lộc điền
Công cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông thế kỉ XV không được tiến hành trên lĩnh vực nào sau đây?
Hành chính
Giáo dục
Kinh tế
Ngoại giao
"Coi trọng biên soạn quốc sử" là nội dung cải cách của vua Lê Thánh Tông trên lĩnh vực nào sau đây?
Quân đội
Văn hóa
Luật pháp
Kinh tế
Trong nội dung cải cách, Hồ Quý Ly và vua Lê Thánh Tông đều
bãi bỏ nhiều cơ quan, chức quan cũ có nhiều quyền lực
khuyến khích và đề cao sử dụng chữ Nôm trong thi cử
hạn chế sỡ hữu ruộng đất quy mô lớn của quý tộc tôn thất
tăng cường cơ chế giám sát, ràng buộc nhau giữa các cơ quan
Năm 1484, vua Lê Thánh Tông quyết định cho dựng bia ghi tên Tiến sĩ nhằm
tập trung quyền lực vào tay vua và triều đình trung ương
đề cao Nho học và tôn vinh các bậc trí thức Nho học
phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc
tăng cường sự ràng buộc lẫn nhau giữa các cơ quan
Nội dung nào sau đây không phải là cải cách hành chính ở cấp địa phương của vua Lê Thánh Tông?
Chia đất nước thành 12 đạo thừa tuyên và phủ Trung Đô.
Xóa bỏ hầu hết các chức quan đại thần có quyền lực lớn.
Thành lập cơ quan đứng đầu các đạo Thừa tuyên là Tam ty
Bãi bỏ lộ, trấn cũ , thành lập hệ thống phủ, huyện/châu, xã
Nội dung nào sau đây là một trong những ý nghĩa về cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông ở thế kỉ XV?
Mở ra khả năng độc lập, tự chủ đầu tiên cho dân tộc ta.
Làm chuyển biến toàn bộ các hoạt động của quốc gia.
Tạo thế và lực cho ta đánh bại quân xâm lược Minh.
Tạo tiền đề cho cuộc chiến tranh xâm lược phương Bắc.
Để tăng cường sức mạnh quân đội, trong cải cách của mình, vua Lê Thánh Tông đã
Quy định chặt chẽ kỉ luật quân đội và huấn luyện, tập trận
Thải hồi những binh sĩ già yếu, bổ sung người khỏe mạnh
Tăng cường tuyển quân quy mô lớn, ồ ạt ở các địa phương
Chú trọng cải tiến vũ khí, phòng thủ những nơi hiểm yếu
Cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng được thực hiện trên cơ sở học tập chủ yếu mô hình của vương triều nào sau đây ở Trung Quốc?
Nhà Nguyên
Nhà Thanh
Nhà Tống
Nhà Đường
Một trong những hạn chế trong cải cách của vua Minh Mạng nửa đầu thế kỉ XIX là
cải cách nặng về củng cố vương triều, ít chú ý đến cải thiện dân sinh
cải cách làm tăng thêm tình trạng cát cứ, phân quyền ở các địa phương
sự giám sát, ràng buộc lẫn nhau giữa các cơ quan, chức quan mờ nhạt
bộ máy nhà nước cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả hơn thời kì trước
Dưới thời Minh Mạng, triều đình tăng cường quyền kiểm soát đối với vùng dân tộc thiểu số thông qua việc
thiết lập chế độ thổ quan
bãi bỏ quyền thế tập của tù trưởng.
gả công chúa cho các tù trưởng
bỏ lưu quan (quan lại người Kinh)
Cuộc cải cách của vua Minh Mạng nửa đầu thế kỉ XIX đã đưa đến
sự phát triển thịnh trị đạt đến đỉnh cao trong lịch sử của chế độ quân chủ Việt Nam
sự xác lập của mô hình quản lý nhà nước hoàn toàn độc đáo so với thế giới lúc bấy giờ
sự xác lập của nền quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền cao độ mang tính quan liêu.
sự xác lập của nền quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền cao độ mang tính quý tộc.
Trong cải cách của vua Minh Mạng, cơ quan tư vấn tối cao cho nhà vua về những vấn đề quân sự quan trọng được gọi là
Hàn lâm viện.
Cơ mật viện.
Nội các.
Đô sát viện.
Một trong những tác dụng tích cực của cải cách hành chính thời vua Minh Mạng là góp phần
tạo điều kiện phát triển kinh tế theo hướng tư bản
hạn chế sự tham nhũng và lộng hành của quan lại.
khích lệ người dân tích cực thi cử và ra làm quan.
phát triển nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc.
Vua Minh Mạng cải cách hệ thống chính trị - hành chính chặt chẽ, gọn nhẹ từ trung ương đến địa phương không nhằm mục tiêu nào dưới đây?
Nâng cao năng lực hệ thống quan chức ở trung ương.
Thống nhất đất nước, xác lập chủ quyền lãnh thổ.
Thiết lập nên nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền.
Hạn chế tối đa quyền tự trị của làng xã, địa phương.
Cuộc cải cách của vua Minh Mạng (nửa đầu thế kỉ XIX) và cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông (thế kỉ XV) có điểm khác biệt nào sau đây?
Thành lập lục Bộ để giúp việc cho nhà vua.
Tăng cường quyền lực tuyệt đối của nhà vua.
Củng cố chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền.
Chia cả nước thành 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên.
Hiện nay, quần đảo Hoàng Sa trực thuộc quyền quản lý hành chính của
thành phố Đà Nẵng.
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
tỉnh Cà Mau.
tỉnh Khánh Hòa
Hiện nay, quần đảo Trường Sa trực thuộc quyền quản lí hành chính của
thành phố Đà Nẵng.
tỉnh Kiên Gian
tỉnh Khánh Hòa.
tỉnh Nghệ An.
Nội dung nào sau đây phản ánh đúng tầm quan trọng của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đối với Việt Nam về mặt quốc phòng - an ninh?
Xây dựng các trạm thông tin, dừng chân, tiếp nhiên liệu cho các tàu.
Hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, từ xa đến gần bảo vệ đất liền.
Tạo thế mạnh cho dịch vụ hàng hải và đánh bắt hải sản trong khu vực
Giúp xây dựng các khu bảo tồn, trung tâm nghiên cứu sinh vật biển.
Nội dung nào sau đây không phản ánh đúng tầm quan trọng của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đối với Việt Nam về mặt kinh tế?
Tạo thế mạnh về dịch vụ hàng hải cho nước ta trên Biển Đông
Tạo tuyến phòng thủ nhiều tầng từ xa đến gần để bảo vệ đất liền
Tạo thế mạnh để phát triển kinh tế du lịch biển đảo cho nước ta
Tạo thuận lợi để phát triển ngành nuôi trồng, chế biến thủy sản
Tầm quan trọng chiến lược của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được thể hiện ở nội dung nào sau đây?
Đây là hai quần đảo duy nhất thuộc khu vực Biển Đông
Đây là hai quần đảo lớn nhất thuộc khu vực Biển Đông
Phục vụ tuyến hàng hải huyết mạch trên Biển Đông
Là nơi tiếp nhiên liệu duy nhất cho các tàu trên biển
Đối với Việt Nam, tầm quan trọng chiến lược của quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa được thể hiện ở điểm nào sau đây?
Là tuyến đường duy nhất để Việt Nam xuất khẩu hàng nông sản.
Đảm bảo nguồn an ninh lương thực cho nhân dân Việt Nam.
Có ý nghĩa về chiến lược quốc phòng, an ninh, kinh tế biển.
Là nền tảng duy nhất để Việt Nam phát triển
Nội dung nào sau đây phản ánh đúng về tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam?
Hệ thống đảo, quần đảo trên Biển Đông chỉ thuận lợi để đầu tư và phát triển du lịch.
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có lợi thế và tiềm năng to lớn về tài nguyên biển.
Vùng biển rộng lớn với nhiều đảo là không gian trọng yếu để phát triển văn hóa.
Biển đảo là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu cho cuộc sống của nhân dân Việt Nam.
Đặc điểm chung về vị trí địa lý của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là
gần với khu vực đất liền Việt Nam nhất
nằm ở vị trí trung tâm của Biển Đông
đều thuộc khu vực miền Bắc Việt Nam
đều thuộc khu vực miền Nam Việt Nam
Cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều tạo thuận lợi để Việt Nam phát triển ngành kinh tế nào sau đây?
nông nghiệp lúa nước
lâm nghiệp
công nghiệp chế tạo
khai thác hải sản
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Đảo Trường Sa thuộc quần đảo Trường Sa (huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa) là một trong những đảo lớn, quan trọng (cùng với đảo Song Tử Đông, Song Tử Tây, đảo Thị Tứ, đảo Loại Ta, đảo Ba Bình, đảo Nam Yết…ở quần đảo Trường Sa). Hiện nay, trên đảo Trường Sa và một số đảo khác thuộc quần đảo đã thành lập xã đảo thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa. Nhiều công trình dân sinh như sân bay, cột cờ và đài tưởng niệm, trường học, bệnh xá, chùa, cột thu tiếp sóng viễn thông…đã được xây dựng góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của bộ đội và nhân dân trên huyện đảo, đồng thời góp phần củng cố và tăng cường cho công cuộc bảo vệ, thực thi chủ quyền của Tổ quốc trên quần đảo Trường Sa.
Đảo Trường Sa là đảo lớn và quan trọng duy nhất thuộc quần đảo Trường Sa.
Trên đảo Trường Sa hiện nay, nhà nước ta đã thành lập được xã đảo và xây dựng được nhiều công trình phục vụ đời sống nhân dân.
Việc thành lập các xã đảo và huyện đảo Trường Sa là một biện pháp thực thi chủ quyền biển đảo của Đảng và Nhà nước ta.
Việc xây dựng sân bay, trường học, bệnh viện….trên quần đảo Trường Sa nhằm mục đích duy nhất là cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Biển Đông có nhiều cấu trúc địa lý như đảo san hô, bãi cạn, bãi ngầm,… Khí hậu mang tính chất nhiệt đới với nhiệt độ, lượng mưa thay đổi theo vĩ độ và mùa. Đặc biệt, đây là khu vực hình thành và hoạt động nhiều của áp thấp nhiệt đới, bão, sóng thần. Mỗi năm trung bình có 9 – 10 cơn bão hình thành và hoạt động trên Biển Đông thường từ tháng 5 đến hết tháng 10. Vị trí, địa lý và khí hậu đặc biệt tạo cho vùng Biển Đông sự đa dạng sinh học điển hình trên thế giới về cấu trúc thành phần loài động thực vật, hệ sinh thái và nguồn gen.
Sự đa dạng về sinh học ở Biển Đông chỉ chủ yếu tập trung ở các loài động vật.
Một trong những khó khăn của các quốc gia vùng ven Biển Đông là phải thường xuyên đối mặt với bão, sóng thần từ biển.
Các loại thiên tai như bão, sóng thần… ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều xuất phát từ Biển Đông.
Yếu tố quy định sự đa dạng sinh học của Biển Đông là vị trí, địa lý và khí hậu.
Đọc đoạn tư liệu sau đây: Vùng biển xung quanh các quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa tạo thành ngư trường khổng lồ cho đánh bắt hải sản xa bờ. Tại các đảo có thể phát triển ngành đóng tàu, ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản, du lịch, thể thao, nghỉ dưỡng. Trên các đảo có thể xây dựng các trung tâm bảo tồn sinh vật biển, nghiên cứu sự đa dạng sinh học khu vực Biển Đông. Tuy nhiên, do quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cách xa bờ, khí hậu khắc nghiệt, thiếu nước ngọt, bão tố quanh năm, dân cư còn khá thưa thớt nên khó khăn cho xây dựng các cơ sở kinh tế.
Đoạn tư liệu chỉ cung cấp thông tin về tiềm năng và những thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các ngư trường đánh bắt hải sản xa bờ của nước ta ở Biển Đông chỉ được hình thành ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngành đóng tàu và du lịch là một trong những thế mạnh có thể khai thác và phát triển ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trở ngại duy nhất cho sự phát triển của Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay là dân cư còn quá thưa thớt.
Đọc đoạn tư liệu sau đây: "Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống".
(Nghị quyết số 36 – NQ/TW ngày 22 - 10 – 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045)
Nghị quyết số 36 – NQ/TW ngày 22 - 10 – 2018 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều bằng chứng khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam hiện nay có sự gắn bó mật thiết với Biển Đông.
Trách nhiệm phát triển bền vững kinh tế biển không liên quan đến những người dân sống trong khu vực đất liền.
Nhiệm vụ phát triển kinh tế biển với đảm bảo an ninh quốc phòng luôn có sự gắn bó mật thiết, không tách rời nhau.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Biển Đông là nơi cư trú của 12 nghìn loài sinh vật, trong đó có khoảng 2040 loài cá, 350 loài san hô, 662 loài rong biển, 12 loài có vú… Trong khu vực này, tập trung 221 loài cây nước mặn tạo nên diện tích rừng ngập mặn tương đối lớn.
Khu vực thềm lục địa của biển Đông có tiềm năng dầu khí cao như bồn trũng Bru – nây, Nam Côn sơn, Hoàng Sa,…”
(Nguyễn Văn Âu, Địa lí tự nhiên Biển Đông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, tr.33, 71 – 72)
Đoạn trích cung cấp thông tin về nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú ở Biển Đông.
Nguồn tài nguyên sinh vật ở Biển Đông rất phong phú đa dạng, nhưng chỉ có động vật mà không có thực vật.
Dầu khí là một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản đặc biệt quan trọng ở Biển Đông.
Nguồn dầu khí ở Biển Đông chỉ có thể được khai thác ở 3 địa điểm: bồn trũng Bru – nây, Nam Côn sơn, Hoàng Sa.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Quần đảo Hoàng Sa (trực thuộc huyện đảo Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng) bao gồm hai nhóm đảo chính: nhóm phía tây (nhóm Lưỡi Liềm hay Trăng Khuyết) gồm một số đảo như Hoàng Sa, Tri Tôn, Hữu Nhật, Duy Mộng,…; nhóm phía đông (nhóm An Vĩnh) gồm các đảo tương đối lớn như Phú Lâm, Đa Cây, Linh Côn và các bãi ngầm, trong đó lớn nhất là đảo Phú Lâm.
Quần đảo Trường Sa (trực thuộc huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa) được chia thành 8 cụm là Song Tử, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm (An Bang) và Bình Nguyên.
(Sách giáo khoa Lịch sử 11, Bộ cánh diều, tr.81)
Đoạn tư liệu cung cấp thông tin về tiềm năng phát triển du lịch của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa lần lượt trực thuộc thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa.
Đảo Phú Lâm là một trong những đảo lớn nhất thuộc nhóm phía đông của quần đảo Hoàng Sa.
Nhóm đảo Loại Ta là 1 trong 8 cụm thuộc quần đảo Trường Sa.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Biển Đông là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung Cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng biển Đông. Nhiều nước và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo và Trung Quốc. Hàng năm, có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua biển Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua biển Đông. Ven Biển Đông có hơn 500 cảng biển, trong đó có 2 cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Xin – ga – po và Hồng Công. Thương mại và công nghiệp ngày càng gia tăng ở khu vực.
Những dẫn chứng được đưa ra trong đoạn tư liệu cho thấy Biển Đông là tuyến đường giao thông biển huyết mạch của khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á có nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào Biển Đông.
Tất cả các tuyến đường hàng hải của Trung Quốc để xuất nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là dầu mỏ đều phải đi qua Biển Đông.
Xin – ga – po và Hồng Công là hai cảng biển lớn và hiện đại nhất ở khu vực ven Biển Đông.
Khu vực nào của Việt Nam không giáp với Biển Đông?
Tây Bắc.
Đông Bắc.
Tây Nam.
Đông Nam.
Bờ biển nước ta dài khoảng 3260 km, kéo dài từ
tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh Kiên Giang.
tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh An Giang
tỉnh Thái Bình đến tỉnh Cà Mau.
tỉnh Nam định đến tỉnh Bình Thuận.
Nội dung nào sau đây phản ánh đúng tầm quan trọng của Biển Đông về quốc phòng, an ninh đối với Việt Nam?
Tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế biển đa dạng
Là cửa ngõ, tuyến phòng thủ bảo vệ đất liền từ xa.
Là con đường giao thương giữa các vùng trong cả nước.
Tạo thuận lợi cho Việt Nam phát triển thương mại hàng hải
Về quốc phòng, an ninh, tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam được thể hiện ở điểm nào sau đây?
Là nơi có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới.
Là nơi có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng.
Là khu vực tập trung các tuyến đường chiến lược.
Là tuyến phòng thủ từ phía đông của đất nước.
Hệ thống các cảng nước sâu và cảng trung bình được xây dựng dọc Biển Đông là điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát triển ngành kinh tế chủ yếu nào sau đây?
nông nghiệp lúa nước.
thương mại hàng hải.
nuôi trồng thủy sản.
khai thác tài nguyên biển.
Chủ trương nhất quán của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông hiện nay là
đấu tranh hòa bình.
bạo lực cách mạng.
chiến tranh cách mạng.
bãi công, bãi khóa
Văn kiện nào sau đây được kí kết giữa các nước ASEAN và Trung Quốc nhằm duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông?
Luật Biển Việt Nam
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
Luật Biên giới quốc gia
Tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam
Văn kiện nào sau đây do Nhà nước Việt Nam ban hành, khẳng định chủ quyền của nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa?
Công ước Liên hợp quốc về Luật biển
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
Luật Cảnh sát biển Việt Nam
Hiến chương Liên hợp quốc
Sa và quần đảo Trường Sa tiếp tục được tuyên bố mà không bị các quốc gia tham dự hội nghị phản đối. Điều đó cho thấy
tính pháp lý quốc tế và lịch sử về chủ quyền của Việt Nam.
đây là những quần đảo không có giá trị cao về kinh tế.
đây là những quần đảo không có giá trị cao về quốc phòng.
các quốc gia tham dự hội nghị đều tuyệt đối tôn trọng luật Biển.
Nội dung nào sau đây là một trong những khó khăn của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền, chủ quyền và các lợi ích hợp pháp trên Biển Đông hiện nay?
Sự bất đồng về quan điểm giữa các bên liên quan đến Biển Đông
Lực lượng quân sự của ta quá yếu so với các nước Đông Nam Á
Các Ủy viên thường trực của Liên Hợp Quốc đều ủng hộ Trung Quốc.
Nội dung nào sau đây không phản ánh đúng tầm quan trọng của Biển Đông về kinh tế đối với Việt Nam?
Là con đường để Việt Nam giao lưu, hội nhập với các nền văn hóa khác
Là cửa ngõ để Việt Nam giao lưu kinh tế với các nước khác trên thế giới
Cung cấp tiềm năng bảo tồn đa dạng sinh học biển và nguồn giống hải sản
Tạo điều kiện thuận lợi đề phát triển đa dạng nhiều loại hình du lịch biển
Một trong những bãi biển nổi tiếng của nước ta ở miền Trung, là địa điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước là
Hạ Long
Đà Nẵng
Phú Quốc
Cát Bà
Cảnh quan ở Biển Đông đa dạng với nhiều bãi cát, vịnh, hang động, tạo điều kiện cho Việt Nam phát triển nghành kinh tế mũi nhọn nào sau đây?
Khai khoáng.
Du lịch.
Thương mại.
Hàng hải.
Một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất ở thềm lục địa Việt Nam ở Biển Đông là
dầu khí.
gỗ lim.
cánh kiến.
đồi mồi.
Nguồn tài nguyên phong phú của Biển Đông đã tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển ngành
dệt may
khai khoáng
hàng không
da giầy
Quốc gia đầu tiên khai phá, xác lập chủ quyền và quản lý liên tục đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là
Việt Nam
Trung Quốc
Thái Lan
Campuchia
Một trong những công trình sử học và địa lí ghi chép về cương vực, lãnh thổ và hoạt động thực thi, bảo vệ chủ quyền của nhà nước phong kiến Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa là
Đại Nam thực lục
Hịch tướng sĩ
Bình Ngô đại cáo
Ức Trai thi tập
Từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, tổ chức nào sau đây có nhiệm vụ đến khai thác sản vật, thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa?
Đội Hoàng Sa, Bắc Hải
Đội Trường Sa, Bắc Hải
Đội Hoàng Sa, Trường Sa
Đội Nam Hải, Đông Hải
“Xin hòa mình vào mênh mông biển cả
Hát ru Người yên giấc ngủ ngàn thu
64 người nhắm mắt để triệu người choàng tỉnh
Trái tim đập dồn về phía Trường Sa”
Những câu thơ trên nhắc đến sự kiện lịch sử nào sau đây trong quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông?
Pháp chuyển quyền kiểm soát Hoàng Sa và Trường Sa cho Bảo Đại
Cuộc chiến đấu của các chiến sĩ hải quân Việt Nam trên đảo Gạc Ma
Việt Nam đàm phán và kí kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
Quân giải phóng miền Nam tiếp quản Trường Sa từ chính quyền Sài Gòn
“Họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Lấy được hoá vật của tàu như là gươm ngựa, hoa bạc, hòn bạc, đổ đổng, khối chì, súng, ngà voi, đổ sứ, đổ chiêm, cùng là vỏ đồi mồi, hải sâm, hạt ốc vân rất nhiều... Đến kì tháng 8 thì về. Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải. Lệnh cho đi chiếc thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên”.
(Theo Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Văn hoá - Thông tin, 2007, tr. 155)
Đoạn trích trong cuốn Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn trình bày quá trình hình thành và phát triển của quần đảo Hoàng Sa.
Nhà Nguyễn đặt đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải nhằm thực hiện quyền quản lý của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đội Hoàng Sa do nhà Nguyễn thành lập gồm 70 người, thực hiện nhiệm vụ của mình tại quần đảo Hoàng Sa định kì hàng năm từ tháng 2 đến tháng 10.
Một trong những nhiệm vụ của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải là khai thác sản vật, thu lượm hàng hóa của những con tàu gặp nạn ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Đại Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ Việt Nam dưới thời Nguyễn, được vẽ vào khoảng năm 1838, ghi rõ “Hoàng Sa”, “Vạn Lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam. Trong bài “Địa lý Vương quốc Cô – chin – chi – na” (Tạp chí Hội Địa lí Hoàng gia Luân Đôn, Tập 19, 1849, tr.93) của Gút – láp, có đoạn ghi rõ Pa – ra – xeo (tức Hoàng Sa) thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả tên Việt Nam là “Cát Vàng”.
(Sách giáo khoa Lịch sử 11, Bộ Cánh diều, tr.86)
Đại Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ Việt Nam dưới thời Nguyễn, được vẽ vào thế kỉ XVIII.
Đại Nam nhất thống toàn đồ là một tài liệu, căn cứ để khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa trong lịch sử thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa còn được ghi chép trong các tài liệu của người nước ngoài.
Đại Nam nhất thống toàn đồ là tấm bản đồ duy nhất của Việt Nam hiện nay thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Với chủ trương nhất quán giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng. Việt Nam đã chủ động cùng các quốc gia có liên quan đàm phán, phân định các vùng biển chồng lấn theo quy định của Công ước, góp phần tạo môi trường ổn định, hòa bình, hợp tác và phát triển, như kí thỏa thuận hợp tác cùng phát triển dầu khí với Ma – lai – xi – a (1992), phân định biển với Thái Lan (1997), phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc (2000), phân định thềm lục địa với In – đô – nê – xi – a (2003).
Việt Nam chủ trương nhất quán giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thông qua biện pháp hòa bình, thương lượng.
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển là một văn bản pháp lý quan trọng giúp Việt Nam có thể giải quyết các tranh chấp trên biển thông qua luật pháp quốc tế.
Việt Nam đã chủ động đàm phán và kí kết thỏa thuận với nhiều quốc gia có chung Biển Đông nhằm đảm bảo hòa bình, an ninh trên biển.
In - đô - nê - xi - a và Việt Nam đã đàm phán và cùng đi đến thỏa thuận hợp tác phát triển dầu khí trên biển năm 2003.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
“Quá khứ đã sang trang”, “sự kiện 14 – 3” cũng lùi vào dĩ vãng, song lịch sử thì không thể không nhắc nhở… Dù thời gian, năm tháng trôi, những trái tim Việt Nam vẫn không thể nào quên khúc bi tráng của những chiến sĩ hải quân Việt Nam. Trung tá hải quân Nguyễn Viết Chức (Lữ đoàn 171) từng nói: “Máu xương hôm qua đổ xuống là bài học để hôm nay chúng ta giữ biển, đảo bằng sức mạnh dân tộc. Trận chiến Gạc Ma đã được ghi trong chính sử Hải quân. Trận chiến ấy là nỗi đau mang hồn Tổ quốc. 64 liệt sĩ đã ngã xuống, mãi mãi bất tử trong lòng nhân dân.
“ Sự kiện 14 – 3” được nhắc đến ở đây chính là cuộc đấu tranh anh dũng của các chiến sĩ hải quân Việt Nam chống lại cuộc tấn công của tàu chiến Trung Quốc trên đảo Gạc Ma.
Sự kiện Gạc Ma được nhắc lại vừa để khơi dậy mối thù hằn dân tộc, vừa để thế hệ trẻ sống có trách nhiệm và quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Theo trung tá hải quân Nguyễn Viết Chức, trận chiến Gạc Ma là thất bại của người dân Việt Nam trong lịch sử, nỗi đau ấy cần phải được quên đi.
Tài liệu về trận chiến Gạc Ma hiện nay chỉ được ghi chép trong chính sử của Hải quân Việt Nam.
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Ngày 12 – 7 – 2021, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam nhân dịp kỉ niệm 5 năm Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông ra Phán quyết cuối cùng về vụ kiện của Phi – lip – pin, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Lập trường của Việt Nam về việc giải quyết các tranh chấp liên quan ở Biển Đông là rõ ràng và nhất quán, theo đó, Việt Nam luôn ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán ở Biển Đông thông qua các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực và bằng các giải pháp, biện pháp hòa bình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc (UNCLOS).
UNCLOS là tên viết tắt tiếng Anh của Công ước Luật biển của Liên hợp quốc.
Năm 2021, Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông đã ra Phán quyết cuối cùng về vụ kiện của Phi – lip – pin.
Quan điểm của bà Lê Thị Thu Hằng - Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa thật sự phù hợp với nguyện vọng và mong muốn của nhân dân Việt Nam.
Đấu tranh ngoại giao và pháp lý là chủ trương và lập trường nhất quán của Việt Nam trong việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông hiện nay.
Lập trường của Việt Nam về việc giải quyết các tranh chấp liên quan ở Biển Đông là gì?
Rõ ràng và nhất quán
Không rõ ràng
Chưa được xác định
Không quan tâm
UNCLOS là tên viết tắt tiếng Anh của gì?
Công ước Luật biển của Liên hợp quốc
Công ước về quyền con người
Công ước về bảo vệ môi trường
Công ước về thương mại quốc tế
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Người dân Lý Sơn đến nay vẫn lưu truyền câu ca:
“Hoàng Sa trời nước mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Hoàng Sa mây nước bốn bề
Tháng hai/ba khao lề thế lính Hoàng Sa”
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa góp phần phản ánh về lịch sử bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng Biển Đông, đặc biệt là chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Nghi lễ này gắn liền với lịch sử ra đời và hoạt động của đội Hoàng Sa, góp phần khơi dậy lòng yêu nước, bảo tồn các giá trị văn hóa và cố kết cộng đồng. Tháng 4 – 2013, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kí quyết định đưa lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là một lễ hội văn hóa truyền thống của người dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa bắt nguồn từ hoạt động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong lịch sử.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được công nhận là di sản văn hóa vật thể quốc gia năm 2013.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được tổ chức vào tháng 4 âm lịch hàng năm nhằm tri ân hải đội Hoàng Sa năm xưa và khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần giữ gìn biển đảo quê hương.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa góp phần phản ánh về điều gì?
Lịch sử bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam
Một lễ hội không quan trọng
Một truyền thuyết không có thật
Một sự kiện không liên quan đến văn hóa
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được đưa vào danh mục gì?
Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Di sản văn hóa vật thể
Di sản văn hóa quốc tế
Di sản không được công nhận
Đọc đoạn tư liệu sau đây:
Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố “Sách trắng” (năm 1979, 1981, 1988) về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.
Ngày 14 – 3 – 1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố lên án Trung Quốc gây xung đột vũ trang tại Trường Sa và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 4 – 2007, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa.
(Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Chính trị quốc gia, 2013, tr.46).
Trong các thập niên 80 - 90 của thế kỉ XX, Việt Nam đã nhiều lần công bố “Sách trắng”, đấu tranh về pháp lý để bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam nhưng đã từng bị Trung Quốc gây xung đột vũ trang nhằm xâm chiếm.
Trong Tuyên bố của mình năm 1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định sẽ đáp trả về quân sự đối với hành động gây xung đột vũ trang của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa.
Một trong những biện pháp để bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam là thành lập các đơn vị hành chính tại quần đảo này.
