NEW
Font size
WorksheetsVăn học
Total questions: 80
Worksheet time: 40mins
Chọn phương án trả lời chính xác nhất
Thi pháp học là bộ môn nghiên cứu:
Các nguyên tắc sáng tác âm nhạc
Các nguyên tắc sáng tác thơ
Các nguyên tắc trong khám phá văn học nói chung
Các nguyên tắc sáng tác văn xuôi
Chọn phương án trả lời chính xác nhất
Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học là:
Cách nhìn nhận, cách suy nghĩ cách đánh giá về con người
Cách nhìn nhận, suy nghĩ, đánh giá về con người đã hóa thân thành các nguyên tắc nghệ thuật.
Cách nhìn nhận về con người
Cách suy nghĩ về con người
Chọn phương án trả lời chính xác nhất
Chữ “thi pháp” có nguồn gốc từ hiện tượng:
Tất cả các sáng tác văn học thời điểm thi pháp học xuất hiện đều được làm bằng hình thức thơ
Người cổ đại chỉ coi trọng nghiên cứu thơ
Tác phẩm đầu tiên được nghiên cứu có tên là “thi”
Ngẫu nhiên
Chọn phương án trả lời chính xác nhất
Thời gian nghệ thuật là:
Thời gian được miêu tả trong tác phẩm văn học
Thời gian tồn tại riêng của nhân vật
Thời gian được miêu tả trong tác phẩm văn học, mang tính quan niệm
Thời gian tồn tại riêng của người kể chuyện
Các giai đoạn của văn học trung đại Việt Nam thường được chia theo các mốc:
a. Thế kỷ X đến thế kỷ XIV, thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX.
a. Thế kỷ X đến thế kỷ XIV, thế kỷ XV đến thế kỷ XVI, thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, nửa cuối thế kỷ XIX
Thế kỷ X đến thế kỷ XV, thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, nửa cuối thế kỷ XIX
Thế kỷ X đến thế kỷ XIV, thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, nửa cuối thế kỷ XIX
Thơ thiền là loại hình thơ phổ biến nhất trong giai đoạn:
Văn học thế kỷ XV đến thế kỷ XVII
Văn học thế kỷ X đến thế kỷ XIV
Văn học thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Văn học nửa cuối thế kỷ XIX
Thi pháp học hiện đại hướng đến hoạt động:
Tiếp nhận
Sáng tạo
Quảng bá
Bảo tồn
Theo cách phân chia của Nguyễn Huệ Chi, phú trong văn học trung đại Việt Nam thuộc thể loại:
Tạp văn
Thơ ca
Biền văn
Tản văn
Theo cách phân chia của Nguyễn Huệ Chi, văn thư tín trong văn học trung đại Việt Nam thuộc thể loại:
Tản văn
Bản văn
Tạp văn
Văn xuôi tự sự
Thể nào sau đây thuộc hệ thống thể loại nội sinh
Thất ngôn bát cú
Cổ thể
Song thất lục bát
Chiếu
Thể loại văn học chữ Hán xuất hiện trong văn học trung đại Việt Nam trước hết là để đáp ứng nhu cầu:
Bày tỏ tư tưởng
Hoạt động trong đời sống chính trị, xã hội, bang giao
Thể hiện tâm tình
Miêu tả hiện thực
Thi pháp học ra đời từ:
Thời hiện đại
Thời trung đại
Thời cận đại
Thời cổ đại
Quan niệm về con người có trong:
Chỉ có trong khoa học xã hội
a. chỉ có trong khoa học tự nhiên
Nhiều ngành khoa học, có cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Chỉ có trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Việc nghiên cứu thi pháp và khái niệm “thi pháp” trước hết bắt đầu từ:
Các nhà triết học Trung Quốc cổ đại
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
Các nhà triết học Ai Cập cổ đại
Các nhà triết học La Mã cổ đại
Văn chương Lý – Trần là khái niệm dùng chỉ
Các sáng tác văn chương của các cao tăng Lý – Trần
Các sáng tác văn chương của các tác giả họ Lý và họ Trần
Các sáng tác văn chương của các nhà Nho đời Lý – Trần
Các sáng tác văn chương hai triều Lý- Trần
Thời trung đại Việt Nam được tính từ
Thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Thế kỷ V đến thế hết kỷ XV
Thế kỷ X đến thế hết kỷ XVI
Thế kỷ X đến thế hết kỷ XVII
Cảm hứng chủ đạo của văn học giai đoạn thế kỷ X đến thế kỷ XIV là:
Cảm hứng tôn giáo
Cảm hứng thế sự
Cảm hứng nhân đạo
Cảm hứng yêu nước
Nghệ văn chí là tác phẩm của:
Ngô Thì Chí
Lê Qúy Đôn
Phạm Quý Thích
a. Phạm Nguyễn Du
Cuốn Nghệ thuật thi ca là của:
Aristotles
Socrates
D.Diderot
N.Boileau
Quan niệm nghệ thuật về con người có trong:
Chỉ có trong các tác phẩm văn học
Mọi tác phẩm nghệ thuật
Chỉ có trong các tác phẩm âm nhạc
Chỉ có trong các tác phẩm hội họa
“Bắt chước” học thuyết là học thuyết sáng tác gắn liền với tên tuổi của:
a. Phlaton
Lưu Hiệp
Aristotles
a. Socrates
“Văn học trung đại Việt Nam” là khái niệm quen thuộc để chỉ:
Văn học viết Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỉ XIX
Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Văn học viết của người Kinh từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Tác phẩm văn chương được coi là “bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên” của Việt Nam là:
a. Tụng giá hoàn kinh sư
Bạch Đằng giang phú
Dụ chư tì tướng hịch văn
Nam Quốc Sơn Hà
Tác giả của bài Nam quốc sơn hà là:
Lý Thường Kiệt
Chưa xác định được
Lý Công Uẩn
Trương Hống, Trương Hát.
Cảm hứng chủ đạo của văn học giai đoạn thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX là:
Yêu nước
Nhân đạo
Thế sự
Tôn giáo
Nghệ An văn chí - sách nghiên cứu về văn học Nghệ An – là tác phẩm của:
Phan Huy Ích
Lê Qúy Đôn
Ngô Thì Nhậm
Ban cố
Thứ tự xuất hiện của hệ thống thể loại trong văn học trung đại Việt Nam là:
Hệ thống thể loại nội sinh có trước, hệ thống thể loại ngoại nhập có sau
Cả hai xuất hiện cùng thời điểm
Chưa xác định được
Hệ thống thể loại ngoại nhập có trước, hệ thống thể loại nội sinh có sau
Tác giả của Văn tâm điêu long là:
Lỗ Tấn
Lưu Hiệp
Viên Chi
Khâu Chấn Thanh
Thi pháp là:
a. Nguyên tắc sáng tác tiểu thuyết
Nguyên tắc sáng tác thơ
Nguyên tắc sáng tác trong văn học nghệ thuật nói chung
a. Nguyên tắc sáng tác truyện ngắn
Không gian nghệ thuật là:
Không gian được miêu tả trong tác phẩm văn học
Không gian được miêu tả trong tác phẩm văn học, mang tính quan niệm
Không gian tồn tại riêng của nhân vật
Không gian tồn tại riêng của người kể chuyện
Kiểu tác giả trong sáng tác văn học là:
Khái niệm nghiên cứu mối quan hệ, sự chi phối giữa kiểu, loại hình tác giả với đặc trưng về nội dung tư tưởng và hình thức nội dung của tác phẩm văn học
Nghiên cứu cứu mối quan hệ, sự chi phối giữa kiểu, loại hình tác giả với đặc trưng về nội dung tư tưởng và hình thức nội dung của tác phẩm văn học.
Mối quan hệ, sự chi phối giữa kiểu, loại hình tác giả với đặc trưng về nội dung tư tưởng và hình thức nội dung của tác phẩm văn học.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa kiểu, loại hình tác giả với đặc trưng về nội dung tư tưởng và hình thức nội dung của tác phẩm văn học.
Khi nói đến nhà văn “lúc nào cũng có quyển sổ tay và ngòi bút để ghi lại các tư liệu đời sống” là để chỉ:
Kiểu tác giả trung đại
Kiểu tác giả lãng mạn
Kiểu tác giả hiện thực
Kiểu tác giả hậu hiện đại
“gắn văn với đạo cho cho nên sáng tác là nghiêm túc, kể cả khi đặt thơ trong “cầm, kỳ, thi, tửu” họ cũng đặt “văn” trong quan hệ với “đức” của con người là biểu hiện của
Kiểu tác giả cách mạng
Kiểu tác giả cổ điển
Kiểu tác giả trung cổ phương Tây
Kiểu tác giả trung đại phương Đông
Văn học trung đại Việt Nam gồm có:
Hệ thống thể loại ngoại nhập, hệ thống thể loại nội sinh và hệ thống thể loại hỗn hợp
Hệ thống thể loại ngoại nhập
Hệ thống thể loại ngoại nhập và hệ thống thể loại nội sinh
Hệ thống thể loại nội sinh
Theo cách phân chia của Nguyễn Huệ Chi, thơ tự sự trong văn học trung đại Việt Nam thuộc thể loại:
Tản văn
Tạp văn
Biền Văn
Thơ ca
Chức năng ban đầu của phú là:
Tụng ca
Giãi bày
Tự sự
Tự biểu hiện
Chức năng ban đầu của lục bát là
Tự biểu hiện
Gi ãi bày
Tụng ca
Tự sự
Sự tiếp thu các thể loại chữ Hán của văn học trung đại Việt Nam ban đầu diễn ra ở mức độ:
Một phần nhỏ
Toàn diện
Một phần lớn
Khó đánh giá
Kiểu tác giả văn học là:
Tổng hòa tất cả những đặc điểm loại hình trong quan hệ với thế giới vật liệu đời sống, ngôn ngữ, truyền thống nghệ thuật, sáng tác, tác giả khác, bạn đọc và nhà phê bình văn học
Sự thể hiện các phẩm chất của một phương pháp sáng tác
Biểu hiện của thái độ của một thế hệ tác giả trước cuộc sống và con người
Hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật được nhà văn sử dụng để văn bản có được phẩm chất nghệ thuật.
Theo cách phân chia của Nguyễn Huệ Chi, văn ngữ lục trong văn học trung đại Việt Nam thuộc thể loại:
Truyện kể
Tạp văn
Biền văn
Tản văn
Thể nào sau đây thuộc hệ thống thể loại nội sinh:
Thất ngôn tứ tuyệt
Thất ngôn bát cú
Lục bát
Cổ Phong
Đơn vị cơ bản của câu thơ lục bát là:
Ba (3) dòng
Hai (2) dòng
Bốn (4) dòng
Sáu (6) dòng
Thứ tự tiếp nhận các thể loại văn học chữ Hán ở Việt Nam lần lượt là:
Thơ, sau đó là các thể loại sử học và hành chính, truyền kì, tiểu thuyết, phú.
Các thể loại sử học và thể loại hành chính, sau đó là truyền kì, tiểu thuyết, thơ, phú.
Các thể loại sử học và truyền kì, tiểu thuyết, sau đó là các thể loại hành chính và thơ.
Các thể loại sử học và các thể loại hành chính, sau đó là các loại thơ, phú và truyền kì, tiểu thuyết
Nhắc đến kiểu tác giả văn học trung đại là nhắc đến:
Một con người lí trí, thích mức độ, ưa tao nhã, cao thượng, quy phạm trí thức uyên bác.
Một con người luôn tuân thủ các quy phạm sáng tác
Một con người luôn cố gắng dùng văn nghệ để chuyển tải các vấn đề đạo đức, luân lí.
Một con người luôn hướng đến các vẻ cao quý, thanh nhã, quy phạm của văn chương.
“Tác giả trung đại, dù ở phương Đông hay phương Tây”, trong một mức độ lớn đều xây dựng tác phẩm của mình bằng công thức tu từ và cốt truyện có sẵn” là nhận định của:
Kundera
Bakhtin
Likhachop
Riptin
Tác giả đầu tiên của văn học chữ Hán Việt Nam là:
Nguyễn Nhân Khí
Chưa thể xác định
Ngô Chân Lưu
Lý Công Uẩn
Thông thường, văn học trung đại Việt Nam được chia làm:
Hai (2) giai đoạn
Ba (3) giai đoạn
Bốn (4) giai đoạn
Năm (5) gian đoạn.
“Hào khí Đông A” là khái niệm dùng để chỉ một nét tinh thần đặc trưng của
Văn học thời Lê Sơ
Văn học thời Trần
Văn học Tây Sơn
Văn học triều Nguyễn
Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về:
Lý luận văn học của một giai đoạn văn học lịch sử cụ thể
Lý luận về thi pháp của một giai đoạn văn học lịch sử cụ thể
Lý luận về thơ của một giai đoạn văn học lịch sử cụ thể
Lý luận về văn chính luận của một giai đoạn văn học lịch sử cụ thể
Thi pháp học truyền thống là “những cẩm nang sắp xếp những lời dạy” về:
Sự tiếp nhận
Sự sáng tạo
Sự phát hành
Sự bảo tồn
Hệ thống thể loại ngoại nhập trong văn học trung đại Việt Nam trung đại có nguồn gốc chủ yếu từ:
Đông Nam Á
Nhật Bản
Ấn Độ
Trung Quốc
Thể nào sau đây thuộc hệ thống thể loại nội sinh
Ngâm khúc
Phú
Kệ
Hịch
Theo cách phân chia của Nguyễn Huệ Chi, hịch trong văn học trung đại Việt Nam thuộc thể loại:
Tản văn
Biền văn
Tạp văn
Văn thư tín
Thứ tự xuất hiện của văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm trong văn học Việt Nam chính xác là:
Hiện chưa thể xác định
Cả hai thứ xuất hiện cùng lúc
Văn học chữ Nôm có trước
Văn học chữ Hán có trước
Khái niệm “văn” thời trung đại dùng để chỉ:
Thể loại văn
Hệ thống thể loại văn học phi quan phương
Các sáng tác văn học nói chung
Văn chương, học vấn, giáo dục, văn hóa
Người được tôn là đại thi hào dân tộc là
Nguyễn Du
Nguyễn Trãi
Cao Bá Quát
Nguyễn Công Trứ
Đặng Dung là tác giả của bài thơ nào dưới đây
Thuật hoài
Cảm hoài
Ngôn hoài
Tính hoài
“Chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hoang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích về thơ thanh cao, chí ở chỗ uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thi làm ra điệu thơ ai oán”.
Đoạn lập luận trên hàm ý bàn về:
Sáng tạo ca
Tiếp nhận thi ca
Nhân cách, cá tính của con người
. Đánh giá thi ca
“Người làm văn quý ở mực thước, thanh nhã, hồn nhiên, biết nắm lấy cái thực làm cốt tử, rồi dùng đẹp để trang sức thêm, làm thơ cũng phải như thế” là nhằm ý:
Đề cao cả hai
Đề cao cái mỹ
Đề cao cái thực và khuyến khích cái mỹ
Đề cao cái thực và phủ nhận cái mỹ
Số bài thơ chữ Nôm hiện còn của Nguyễn Trãi là:
255
254
256
257
Tác giả của Chinh phụ ngâm khúc là:
Đoàn Thị Điểm
Phan Huy Ích
Đặng Trần Côn
Cao Bá Nhạ
Việt điện u linh là sách ghi chép lại:
Các chuyện kỳ lạ nói chung
Lịch sử triều đại
Lai lịch chư thần
Chuyện cao tăng
“Người dùng nghệ thuật như một vũ khí để thay đổi xã hội” là cách nói để chỉ:
Kiểu tác giả hiện thực
Kiểu tác giả cách mạng
Kiểu tác giả lãng mạn
Kiểu tác giả cổ điển
Tác giả văn học trung đại Việt Nam xuất hiện
Đồng thời với nền văn học dân tộc viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
Đồng thời với nền văn học dân tộc
Đồng thời với nền văn học dân tộc viết bằng chữ Nôm
Đồng thời với nền văn học dân tộc viết bằng chữ Hán
“Thiên cổ hùng văn” là cụm từ dùng để ca ngợi:
Bạch Đằng giang phú
Bình Ngô Đại cáo
Dụ chư tỳ tướng hịch văn
Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc
Câu thơ
Tam vạn quyển thư vô dụng xứ
Bạch đầu không phụ ái dân tâm
Là của:
Nguyễn Trãi
Nguyễn Phi Khanh
Trần Nguyên Đán
Hồ Qúy Ly
Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập
Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm
Là hai câu trong bài:
Bình Ngô Đại cáo
Dụ chư tì tướng hịch văn
Bạch Đằng giang phú
Chí Linh sơn phú
“Các nhà thơ đều có sở trường riêng. Người đài các thị tụng thì thơ êm ái dồi dào; kẻ ở nơi quán thành biên thú thì thơ hoang lạnh mà hào tráng” là nhận định của
Phan Huy Chú
Ngô Thì Sỹ
Lê Qúy Đôn
Cao Bá Nhạ
Thơ Thiền thường thể hiện:
Sự ngộ đạo, biểu hiện thiền lí, thiền thú và thiền cảnh
Tuyên truyền Phật pháp
Miêu tả cảnh vật với quan niệm sắc là không, không là sắc
Khuyến thiện trừng dâm
“Thiên cổ kỳ bút” là cụm từ dùng để ca ngợi:
Lục Vân Tiên
Truyền kỳ mạn lục
Chinh phụ ngâm
Cung oán ngâm khúc
Bui một tấc lòng trung liễn hiếu
Mài chăng… nhuộm chăng đen
Vẹt
Khuyết
Sắc
Héo
“Văn là gì? Văn là vẻ đẹp. Chương là gì? Chương là vẻ sáng. Lời của người ta rực rỡ, bóng bẩy, tựa như ta có vẻ đẹp vẻ sáng, cho nên gọi là văn chương” là câu được trích dẫn từ
Việt Hán văn khảo
Việt Nam văn học
Vân Đài loại ngữ
Chương Dân thi thoại
Các nhà thơ trung đại hết sức đề cao cái thực, cái trung hậu là chính, xem cái đẹp, cái điểm tô là cái phụ, cái thêm vào, vì:
Do làm thơ lấy việc tỏ lòng là chính
Do bản chất lương thiện
Do họ coi thường những điều hoa mỹ
Do hạn chế về tưởng tượng
Nhà thơ trung đại Việt Nam làm thơ ngôn chí là để
Bày tỏ tình cảm đối với vua
Biểu hiện tình cảm thật, thân phận thật của mình
Bày tỏ tình cảm với đất nước
Bày tỏ tình cảm với nhân dân
Việc nghiên cứu văn học theo tinh thần Thi pháp học đã xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thời gian:
Giai đoạn 1945 – 1975
Sau 1975
Nửa đầu thế kỷ XX
Nửa cuối thế kỷ XIX
Thi pháp học phát triển mạnh mẽ nhất ở Việt Nam giai đoạn:
Từ 1975 đến 1985
Từ giữa thập niên 80 của thế kỷ XX đến đầu thế kỉ XXI
Ngẫu nhiênTừ 85 đến nay
1. Từ 1985 đến 2000
Ở bộ phận văn học viết, yếu tố nhục cảm xuất hiện đầu tiên trong thơ của:
Hồ Xuân Hương
Nguyễn Trãi
Nguyễn Công Trứ
Lê Thánh Tông
Ở bộ phận văn học viết, ý thức nuối tiếc thời gian xuất hiện một cách hệ thống trước tiên ở
Trần Nguyên Đán
Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Trãi
Lê Thánh Tông
Tác giả của bài Thiên Trường vãn vọng là
Trần Thái Tông
Tuệ Trung thượng sỹ
Trần Nhân Tông
Trương Hán Siêu
Tác phẩm văn học chữ Hán đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào:
Thời Bắc thuộc
Thời nhà Lý
Thời nhà Trần
Thời nhà Hậu Lê
