WorksheetsCHẠY VĂN ĐỒNG CHÍ
Total questions: 56
Worksheet time: 30mins
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, ....................... không biết tự bao giờ đã trở thành cội nguồn sáng tác cho biết bao người nghệ sĩ. Và Chính Hữu là một trong những cây bút tiêu biểu viết về đề tài này. Thi phẩm “Đồng chí” của Chính Hữu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc bằng những trang thơ đậm màu sắc bình dị, mộc mạc, hàm súc và lắng đọng.
Điền từ thích hợp vào mở bài trên?
đề tài người phụ nữ
đề tài người lính
đề tài người nông dân
đề tài người trí thức
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đề tài người lính không biết tự bao giờ đã trở thành cội nguồn sáng tác cho biết bao người nghệ sĩ. Và Chính Hữu là một trong những cây bút tiêu biểu viết về đề tài này. Thi phẩm “Đồng chí” của Chính Hữu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc bằng những trang thơ .........................
Điền từ thích hợp vào mở bài trên?
nhuần
nhuyễn bút
pháp hiện thực
lãng mạn khi
ca ngợi sự đổi
mới của quê
hương và con
người.
giọng thơ tự nhiên, tinh nghịch, sôi nổi, ngang tàng, vô cùng sâu sắc.
đậm màu sắc bình dị, mộc mạc, hàm súc và lắng đọng.
trầm
lắng, suy tư,
ấm áp, sâu sắc
Là một nhà thơ quân đội, tuy không sáng tác nhiều nhưng Chính Hữu đã để lại cho nền văn học những tác phẩm hay, ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc. Ông thường cố gắng biểu hiện những tình cảm mộc mạc, nguyên khởi của con người trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, ở những nơi mà người này có thể nói với người kia chân thực như lời nói với chính trái tim mình. Chất thơ hàm súc, lắng đọng, có sự chọn lọc tinh tế trong từng hình ảnh thơ đã làm nên đặc trưng cho trang thơ Chính Hữu. “Đồng chí” chính là thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ độc đáo này. Ra đời năm 1948, bài thơ đã khắc họa thành công tình cảm, tinh thần, vẻ đẹp của tình đồng chí và người lính cách mạng. Một nhan đề súc tích, vừa thân thuộc vừa giàu ý nghĩa, một thể thơ tự do tạo nhịp điệu trầm lắng, xúc động, một trái tim rung cảm thiết tha, khôn nguôi về người lính và sức mạnh của tình đồng chí,… tất cả đã làm nên trang thơ “Đồng chí” mộc mạc, giản dị mà thật sâu sắc, khó quên, một bài thơ tiêu biểu của văn học thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đoạn văn trên làm nhiệm vụ gì?
mở bài
khái quát
kết bài
liên hệ mở rộng
Là một nhà thơ quân đội, tuy không sáng tác nhiều nhưng Chính Hữu đã để lại cho nền văn học những tác phẩm hay, ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc. Ông thường cố gắng biểu hiện những tình cảm mộc mạc, nguyên khởi của con người trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, ở những nơi mà người này có thể nói với người kia chân thực như lời nói với chính trái tim mình. Chất thơ hàm súc, lắng đọng, có sự chọn lọc tinh tế trong từng hình ảnh thơ đã làm nên đặc trưng cho trang thơ Chính Hữu. “Đồng chí” chính là thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ độc đáo này. Ra đời năm 1948, bài thơ đã khắc họa thành công tình cảm, tinh thần, vẻ đẹp của tình đồng chí và người lính cách mạng. Một nhan đề súc tích, vừa thân thuộc vừa giàu ý nghĩa, một thể thơ tự do tạo nhịp điệu trầm lắng, xúc động, một trái tim rung cảm thiết tha, khôn nguôi về người lính và sức mạnh của tình đồng chí,… tất cả đã làm nên trang thơ “Đồng chí” mộc mạc, giản dị mà thật sâu sắc, khó quên, một bài thơ tiêu biểu của văn học thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong đoạn văn trên đâu là câu văn làm nhiệm vụ khái quát về phong cách nghệ thuật của tác giả Chính Hữu?
Chất thơ hàm súc, lắng đọng, có sự chọn lọc tinh tế trong từng hình ảnh thơ đã làm nên đặc trưng cho trang thơ Chính Hữu.
Ra đời năm 1948, bài thơ đã khắc họa thành công tình cảm, tinh thần, vẻ đẹp của tình đồng chí và người lính cách mạng.
Một nhan đề súc tích, vừa thân thuộc vừa giàu ý nghĩa,
một thể thơ tự do tạo nhịp điệu trầm lắng, xúc động, một trái tim rung cảm thiết tha
Là một nhà thơ quân đội, tuy không sáng tác nhiều nhưng Chính Hữu đã để lại cho nền văn học những tác phẩm hay, ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc. Ông thường cố gắng biểu hiện những tình cảm mộc mạc, nguyên khởi của con người trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, ở những nơi mà người này có thể nói với người kia chân thực như lời nói với chính trái tim mình. Chất thơ hàm súc, lắng đọng, có sự chọn lọc tinh tế trong từng hình ảnh thơ đã làm nên đặc trưng cho trang thơ Chính Hữu. “Đồng chí” chính là thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ độc đáo này. Ra đời năm 1948, bài thơ đã khắc họa thành công tình cảm, tinh thần, vẻ đẹp của tình đồng chí và người lính cách mạng. Một nhan đề súc tích, vừa thân thuộc vừa giàu ý nghĩa, một thể thơ tự do tạo nhịp điệu trầm lắng, xúc động, một trái tim rung cảm thiết tha, khôn nguôi về người lính và sức mạnh của tình đồng chí,… tất cả đã làm nên trang thơ “Đồng chí” mộc mạc, giản dị mà thật sâu sắc, khó quên, một bài thơ tiêu biểu của văn học thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong đoạn văn trên đâu là câu văn làm nhiệm vụ khái quát về hoàn cảnh sáng tác của bài thơ "Đồng chí" (Chính Hữu)?
Chất thơ hàm súc, lắng đọng, có sự chọn lọc tinh tế trong từng hình ảnh thơ đã làm nên đặc trưng cho trang thơ Chính Hữu.
Một nhan đề súc tích, vừa thân thuộc vừa giàu ý nghĩa
Ra đời năm 1948, bài thơ đã khắc họa thành công tình cảm, tinh thần, vẻ đẹp của tình đồng chí và người lính cách mạng.
một thể thơ tự do tạo nhịp điệu trầm lắng, xúc động, một trái tim rung cảm thiết tha
Là một nhà thơ quân đội, tuy không sáng tác nhiều nhưng Chính Hữu đã để lại cho nền văn học những tác phẩm hay, ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc. Ông thường cố gắng biểu hiện những tình cảm mộc mạc, nguyên khởi của con người trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, ở những nơi mà người này có thể nói với người kia chân thực như lời nói với chính trái tim mình. Chất thơ hàm súc, lắng đọng, có sự chọn lọc tinh tế trong từng hình ảnh thơ đã làm nên đặc trưng cho trang thơ Chính Hữu. “Đồng chí” chính là thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ độc đáo này. Ra đời năm 1948, bài thơ đã khắc họa thành công tình cảm, tinh thần, vẻ đẹp của tình đồng chí và người lính cách mạng. Một nhan đề súc tích, vừa thân thuộc vừa giàu ý nghĩa, một thể thơ tự do tạo nhịp điệu trầm lắng, xúc động, một trái tim rung cảm thiết tha, khôn nguôi về người lính và sức mạnh của tình đồng chí,… tất cả đã làm nên trang thơ “Đồng chí” mộc mạc, giản dị mà thật sâu sắc, khó quên, một bài thơ tiêu biểu của văn học thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong đoạn văn trên đâu là phần khái quát về thể thơ của bài thơ "Đồng chí" (Chính Hữu)?
Là một nhà thơ quân đội, tuy không sáng tác nhiều nhưng Chính Hữu đã để lại cho nền văn học những tác phẩm hay, ghi dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc.
Chất thơ hàm súc, lắng đọng, có sự chọn lọc tinh tế trong từng hình ảnh thơ đã làm nên đặc trưng cho trang thơ Chính Hữu.
một thể thơ tự do tạo nhịp điệu trầm lắng, xúc động, một trái tim rung cảm thiết tha, khôn nguôi về người lính và sức mạnh của tình đồng chí
Một nhan đề súc tích, vừa thân thuộc vừa giàu ý nghĩa,
Đâu là câu chủ đề đoạn văn diễn dịch phân tích 7 câu thơ đầu bài thơ "Đồng chí" (Chính Hữu)?
Bảy câu thơ đầu của thi phẩm đã khắc họa một cách chân thực, giản dị và xúc động về những cơ sở hình thành tình đồng chí.
Tình đồng chí còn là sẻ chia khó khăn, động viên nhau vượt qua gian khổ.
Hình ảnh đăng đối kết hợp với việc vận dụng thành ngữ dân gian “quê hương anh” – “làng tôi”, “nước mặn đồng chua” – “đất cày lên sỏi đá” đem đến hình dung về những miền quê khác nhau, nơi ven biển đất phèn chua ngập mặn, chốn núi đồi đất đai khô cằn sỏi đá. Đó là nơi người lính đã từ biệt gia đình để lên đường nhập ngũ. Tuy những miền quê này cách xa nhau nhưng đều toát lên sự nghèo khó, nhọc nhằn và những người lính ở đây đều xuất thân từ nông dân.
Đây là những câu văn nằm trong đoạn phân tích hai câu thơ nào?
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ/ Đồng chí!”
Quê hương anh nước mặn đồng chua/Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
“chẳng hẹn quen nhau” là sự ............................................................................................................mà thật đáng quý..
quen biết mà tri âm tri kỉ, hiểu mình, hiểu người
quen biết thân tình hẹn trước, sự quen biết không tình cờ
quen biết mà không hẹn trước, sự quen biết tình cờ
quen biết mà đã hẹn trước, sự quen biết hữu ý
Hình ảnh đăng đối kết hợp với việc vận dụng thành ngữ dân gian “quê hương anh” – “làng tôi”, “nước mặn đồng chua” – “đất cày lên sỏi đá” đem đến hình dung về những miền quê khác nhau, nơi ven biển đất phèn chua ngập mặn, chốn núi đồi đất đai khô cằn sỏi đá. Đó là nơi người lính đã từ biệt gia đình để lên đường nhập ngũ. Tuy những miền quê này cách xa nhau nhưng đều toát lên sự nghèo khó, nhọc nhằn và những người lính ở đây đều xuất thân từ ....................................
trí thức
tiểu thương
công nhân
nông dân.
Từ những ......................., từ ..............................................., những người lính đều mang trong mình lòng yêu nước, vì nghĩa lớn mà xung phong ra trận và đó là lí do họ quen nhau trong quân ngũ. “chẳng hẹn quen nhau” là sự quen biết mà không hẹn trước, sự quen biết tình cờ mà thật đáng quý.
người xa lạ
mọi phương trời
người thân quen
một phương trời
Từ những người xa lạ, từ mọi phương trời, những người lính đều mang trong mình.................................... , vì nghĩa lớn mà xung phong ra trận và đó là lí do họ quen nhau trong quân ngũ. “chẳng hẹn quen nhau” là sự quen biết mà không hẹn trước, sự quen biết tình cờ mà thật đáng quý.
tình yêu đồng bào
tình yêu thiên nhiên
lòng yêu nước
tình yêu làng quê
Từ những người xa lạ, từ mọi phương trời, những người lính đều mang trong mình lòng yêu nước, vì nghĩa lớn mà ................................................. và đó là lí do họ quen nhau trong quân ngũ. “chẳng hẹn quen nhau” là sự quen biết mà không hẹn trước, sự quen biết tình cờ mà thật đáng quý.
xung phong ra trận
xung phong vào Nam
xung phong ra Bắc
xung phong ra ngoài
Từ những người xa lạ, từ mọi phương trời, những người lính đều mang trong mình lòng yêu nước, vì nghĩa lớn mà xung phong ra trận và đó là lí do họ quen nhau ................................................ “chẳng hẹn quen nhau” là sự quen biết mà không hẹn trước, sự quen biết tình cờ mà thật đáng quý.
trong gia đình
trong trường lớp
trong làng xóm
trong quân ngũ
Hình ảnh “anh – tôi” riêng biệt đã mờ nhoà mà thay vào đó là sóng đôi trong .......................................................: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”. “Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp. Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấu của những người đồng chí đồng đội.
hoàn cảnh neo đơn
hoàn cảnh không nơi nương tựa
hoàn cảnh hòa bình
hoàn cảnh sống và chiến đấu
Hình ảnh “anh – tôi” riêng biệt đã mờ nhoà mà thay vào đó là sóng đôi trong hoàn cảnh sống và chiến đấu: .................................................................................. “Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp. Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấu của những người đồng chí đồng đội.
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”
“Quê hương anh nước mặn đồng chua "
"Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá"
Đồng chí!”
Hình ảnh “anh – tôi” riêng biệt đã mờ nhoà mà thay vào đó là sóng đôi trong hoàn cảnh sống và chiến đấu: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”. “Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa .......................................................................................................................................................................... Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấu của những người đồng chí đồng đội.
tượng trưng cho nhiệm vụ sản xuất và xây dựng đất nước
tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và chi viện cho chiến trường
tượng trưng cho tình yêu thiên nhiên và lý tưởng cao đẹp.
tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp.
Hình ảnh “anh – tôi” riêng biệt đã mờ nhoà mà thay vào đó là sóng đôi trong hoàn cảnh sống và chiến đấu: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”. “Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp. ........................................................................................................................ trong chiến đấu của những người đồng chí đồng đội.
nhân hóa “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó
Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó
so sánh “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó
Câu hỏi tu từ“súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh tình cảm gắn bó
Hình ảnh “anh – tôi” riêng biệt đã mờ nhoà mà thay vào đó là sóng đôi trong hoàn cảnh sống và chiến đấu: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”. “Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp. Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần như nhấn mạnh ......................................trong chiến đấu của những người đồng chí đồng đội.
tình cảm gắn bó
tình cảm nhạt nhẽo
tình cảm quấn quýt
tình cảm hờ hững
Tình đồng chí từ đó mà nảy nở bền chặt trong sự chan hoà, chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui giản dị. Đó là mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt mà tác giả biểu hiện bằng một hình ảnh thật cụ thể: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Chính trong những ngày thiếu thốn, khó khăn ấy từ “xa lạ” họ đã trở thành tri kỉ của nhau. “Tri kỉ” là ............................................................. Vất vả nguy nan đã gắn kết những người đồng chí khiến họ trở thành người bạn tâm giao gắn bó. Đặc biệt, việc tác giả sử dụng các từ “bên”, “sát”, “chung” đã nhấn mạnh và tô đậm sự sẻ chia, xóa nhòa đi mọi khoảng cách, đem đến hơi thở thân thương, gắn bó như tình bạn bè chân thật.
người bạn thân thiết tốt hiểu rất rõ về họ
người bạn xa lạ hiểu rất rõ về ta
người bạn thân thiết hiểu rất rõ về ta
người bạn thân thiết hiểu rất rõ về bản thân
Tình đồng chí từ đó mà nảy nở bền chặt trong sự chan hoà, chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui giản dị. Đó là mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt mà tác giả biểu hiện bằng một hình ảnh thật cụ thể: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Chính trong những ngày thiếu thốn, khó khăn ấy từ “xa lạ” họ đã trở thành tri kỉ của nhau. “Tri kỉ” là người bạn thân thiết hiểu rất rõ về ta. .................................................................................. khiến họ trở thành người bạn tâm giao gắn bó. Đặc biệt, việc tác giả sử dụng các từ “bên”, “sát”, “chung” đã nhấn mạnh và tô đậm sự sẻ chia, xóa nhòa đi mọi khoảng cách, đem đến hơi thở thân thương, gắn bó như tình bạn bè chân thật.
sung sướng, thành công đã gắn kết những người thân trong gia đình
Vất vả nguy nan đã gắn kết những người đồng chí
Vất vả nguy nan đã gắn kết những người thân trong gia đình
sung sướng, thành công đã gắn kết những người đồng chí
Từ tất cả những điểm tương đồng trên, giữa những người nông dân mặc áo lính đã hình thành tình đồng chí. Đó là cả một quá trình được nhà thơ khắc họa thực tự nhiên mà vô cùng hợp lí, sâu sắc, từ “anh” – “tôi” thành “anh với tôi” rồi “đôi tri kỉ” và cuối cùng là “đồng chí”. - Khép lại đoạn thơ chỉ vẻn vẹn một từ “Đồng chí!” đứng tách riêng thể hiện cảm xúc dồn nén, chân thành và gợi sự thiêng liêng, sâu nặng. Từ “đồng chí’ với dấu chấm cảm như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khác nhau, vừa là sự kết đọng như một thành quả tất yếu của quá trình gắn bó, vừa là lời thốt lên đầy trân trọng, ngân vang. Hai tiếng “Đồng chí!” đã đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người lính. Đó không chỉ là cách xưng hô mà còn là một tình cảm sâu đậm, thiêng liêng vô cùng trong thời kì lửa đạn. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo. Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất............................................................
cầu kì nhưng vô cùng hàm súc.
trang nhã nhưng vô cùng hàm súc.
bình dị nhưng vô cùng đơn giản.
bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
Từ tất cả những điểm tương đồng trên, giữa những người nông dân mặc áo lính đã hình thành tình đồng chí. Đó là cả một quá trình được nhà thơ khắc họa thực tự nhiên mà vô cùng hợp lí, sâu sắc, từ “anh” – “tôi” thành “anh với tôi” rồi “đôi tri kỉ” và cuối cùng là “đồng chí”. - Khép lại đoạn thơ chỉ vẻn vẹn một từ “Đồng chí!” đứng tách riêng thể hiện cảm xúc dồn nén, chân thành và gợi sự thiêng liêng, sâu nặng. Từ “đồng chí’ với dấu chấm cảm như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khác nhau, vừa là sự kết đọng như một thành quả tất yếu của quá trình gắn bó, vừa là lời thốt lên đầy trân trọng, ngân vang. Hai tiếng “Đồng chí!” đã ......................................................................................................................................................................................Đó không chỉ là cách xưng hô mà còn là một tình cảm sâu đậm, thiêng liêng vô cùng trong thời kì lửa đạn. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo. Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những nông dân.
đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người lính.
đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người công nhân.
đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người trí thức.
Từ tất cả những điểm tương đồng trên, giữa những người nông dân mặc áo lính đã hình thành tình đồng chí. Đó là cả một quá trình được nhà thơ khắc họa thực tự nhiên mà vô cùng hợp lí, sâu sắc, từ “anh” – “tôi” thành “anh với tôi” rồi “đôi tri kỉ” và cuối cùng là “đồng chí”. - Khép lại đoạn thơ chỉ vẻn vẹn một từ “Đồng chí!” đứng tách riêng thể hiện cảm xúc dồn nén, chân thành và gợi sự thiêng liêng, sâu nặng. Từ “đồng chí’ với ..........................................................................................................................................................................Hai tiếng “Đồng chí!” đã đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người lính. Đó không chỉ là cách xưng hô mà còn là một tình cảm sâu đậm, thiêng liêng vô cùng trong thời kì lửa đạn. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo. Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
dấu ngoặc kép như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khác nhau, vừa là sự kết đọng như một thành quả tất yếu của quá trình gắn bó, vừa là lời thốt lên đầy trân trọng, ngân vang.
dấu chấm cảm như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khác nhau, vừa là sự kết đọng như một thành quả tất yếu của quá trình gắn bó, vừa là lời thốt lên đầy trân trọng, ngân vang.
dấu chấm hỏi như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khác nhau, vừa là sự kết đọng như một thành quả tất yếu của quá trình gắn bó, vừa là lời thốt lên đầy trân trọng, ngân vang.
dấu gạch ngang như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khác nhau, vừa là sự kết đọng như một thành quả tất yếu của quá trình gắn bó, vừa là lời thốt lên đầy trân trọng, ngân vang.
Hai tiếng “Đồng chí!” đã ................................................ của mối quan hệ giữa những người lính. Đó không chỉ là cách xưng hô mà còn là một tình cảm sâu đậm, thiêng liêng vô cùng trong thời kì lửa đạn. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo. Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
đúc kết và nâng lên ý nghĩa
tổng hợp và phân tích ý nghĩa
chỉ rõ và nâng lên ý nghĩa
đúc kết và giảm nhẹ ý nghĩa
Hai tiếng “Đồng chí!” đã đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người lính. Đó không chỉ là cách xưng hô mà còn là một tình cảm sâu đậm, thiêng liêng vô cùng trong thời kì lửa đạn. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ ......................... và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo. Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
tám câu thơ trước
năm câu thơ trước
..sáu câu thơ trước..
bảy câu thơ trước
Hai tiếng “Đồng chí!” đã đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người lính. Đó không chỉ là cách xưng hô mà còn là một tình cảm sâu đậm, thiêng liêng vô cùng trong thời kì lửa đạn. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo. Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
Trong đoạn văn trên, đâu là câu văn nhận xét về phong cách sáng tác của Chính Hữu?
Hai tiếng “Đồng chí!” đã đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người lính.
Đó không chỉ là cách xưng hô mà còn là một tình cảm sâu đậm, thiêng liêng vô cùng trong thời kì lửa đạn.
Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo.
Hai tiếng “Đồng chí!” đã đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người lính. Đó không chỉ là cách xưng hô mà còn là một tình cảm sâu đậm, thiêng liêng vô cùng trong thời kì lửa đạn. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo. Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
Trong đoạn văn trên, đâu là những câu văn phân tích, cảm nhận về câu thơ "Đồng chí"?
Hai tiếng “Đồng chí!” đã đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người lính.
Đó không chỉ là cách xưng hô mà còn là một tình cảm sâu đậm, thiêng liêng vô cùng trong thời kì lửa đạn.
Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo.
Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
Hai tiếng “Đồng chí!” đã đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người lính. Đó không chỉ là cách xưng hô mà còn là một tình cảm sâu đậm, thiêng liêng vô cùng trong thời kì lửa đạn. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo. Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
Trong đoạn văn trên, đâu là câu văn nhận xét về hình thức của câu thơ "Đồng chí"?
Hai tiếng “Đồng chí!” đã đúc kết và nâng lên ý nghĩa của mối quan hệ giữa những người lính.
Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc.
Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho những suy ngẫm, chiêm nghiệm tiếp theo.
Quả thật ngôn từ Chính Hữu rất bình dị nhưng vô cùng hàm súc. Tự nhiên và sâu lắng, nhẹ nhàng và sâu xa, hình ảnh thơ giản dị, nhịp điệu thơ linh hoạt chậm rãi, bảy câu thơ đầu đã đưa ta trở về với buổi đầu người lính gặp gỡ để rồi gắn bó với nhau và hình thành tình đồng chí đồng đội keo sơn.
Bảy câu thơ đầu có những nét đặc sắc nghệ thuật nào?
hình ảnh thơ giản dị
nhịp điệu thơ linh hoạt chậm rãi
thể thơ lục bát
bút pháp ước lệ
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày/ Gian nhà không mặc kệ gió lung lay/ Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính/ Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh/ Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi/ Áo anh rách vai/Quần tôi có vài mảnh vá /Miệng cười buốt giá/Chân không giày/Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
Đoạn thơ với những câu thơ ngắn, dài linh hoạt đã khắc họa một cách chân thực và cảm động về những biểu hiện của tình đồng chí đồng đội. Tình đồng chí trước tiên là cảm thông những tâm sự thầm kín về hậu phương, quê hương: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày / Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. “Ruộng nương”, “gian nhà” là tài sản quý giá nhất của người nông dân. Nhưng tất cả những tài sản quý giá ấy các anh đều dứt khoát “gửi bạn thân cày” và “mặc kệ gió lung lay” - một sự cứng cỏi, sẵn lòng dẹp lợi ích riêng tư để vì nghĩa vụ chung. Hai tiếng “mặc kệ” vang lên đầy ngạo nghễ, không phải là phó mặc vô tình mà là sự dứt khoát đầy tin tưởng, tạm gác lại công việc thường ngày để ra đi vì nghĩa lớn. Một lí tưởng sống thật cao đẹp! Người lính lên đường chiến đấu mang theo nỗi băn khoăn, trăn trở về gia đình, vườn ruộng và ở chiều ngược lại của nỗi nhớ, quê hương cũng luôn hướng về họ: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”. “Giếng nước gốc đa” là hoán dụ cho quê hương làng xóm nơi các anh đã từ biệt để lên đường. Là quê hương nhớ thương người ra trận song cảm hiểu được nỗi nhớ ấy đâu thể là một người vô tâm. Đó phải là một tấm lòng sâu sắc hướng về, người lính lên đường chiến đấu cũng luôn hướng về quê hương để biết hậu phương đang trông về mình mà đợi ngày độc lập. Cách nói hoán đổi tế nhị và sâu sắc kết hợp cùng giọng điệu tha thiết tâm tình vừa thể hiện được sự cứng cỏi trong tinh thần người lính vừa khéo léo biểu đạt nỗi nhớ quê hương khắc khoải trong tấm lòng của họ. Tình đồng chí thân thiết, họ chia sẻ với nhau những gì riêng tư, thân thuộc nhất. Cách nói ấy đâu phải chỉ là cái khéo léo của người làm thơ mà chắc hẳn phải xuất phát từ sự thấu hiểu sâu sắc của Chính Hữu đối với tâm tư, nỗi lòng chiến sĩ, sự thấu hiểu giữa những người đồng chí đồng đội với nhau.
Đâu là câu chủ đề?
Đoạn thơ với những câu thơ ngắn, dài linh hoạt đã khắc họa một cách chân thực và cảm động về những biểu hiện của tình đồng chí đồng đội.
Tình đồng chí thân thiết, họ chia sẻ với nhau những gì riêng tư, thân thuộc nhất.
Cách nói ấy đâu phải chỉ là cái khéo léo của người làm thơ mà chắc hẳn phải xuất phát từ sự thấu hiểu sâu sắc của Chính Hữu đối với tâm tư, nỗi lòng chiến sĩ, sự thấu hiểu giữa những người đồng chí đồng đội với nhau.
Tình đồng chí trước tiên là cảm thông những tâm sự thầm kín về hậu phương, quê hương:
Tình đồng chí trước tiên là cảm thông những tâm sự thầm kín về hậu phương, quê hương: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày / Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. “Ruộng nương”, “gian nhà” là tài sản quý giá nhất của người nông dân. Nhưng tất cả những tài sản quý giá ấy các anh đều dứt khoát “gửi bạn thân cày” và “mặc kệ gió lung lay” - một sự cứng cỏi, sẵn lòng dẹp lợi ích riêng tư để vì nghĩa vụ chung. Hai tiếng “mặc kệ” vang lên đầy ngạo nghễ, không phải là phó mặc vô tình mà là sự dứt khoát đầy tin tưởng, tạm gác lại công việc thường ngày để ra đi vì nghĩa lớn. Một lí tưởng sống thật cao đẹp!
Biểu hiện đầu tiên của tình đồng chí trong đoạn văn trên là gì?
Tình đồng chí trước tiên là cảm thông những tâm sự thầm kín về người thương
Tình đồng chí trước tiên là cùng giai cấp
Tình đồng chí trước tiên là cảm thông những tâm sự thầm kín về hậu phương, quê hương
Tình đồng chí trước tiên là đồng cảnh ngộ
Tình đồng chí trước tiên là cảm thông những tâm sự thầm kín về hậu phương, quê hương: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày / Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. ................................................................................là tài sản quý giá nhất của người nông dân. Nhưng tất cả những tài sản quý giá ấy các anh đều dứt khoát “gửi bạn thân cày” và “mặc kệ gió lung lay” - một sự cứng cỏi, sẵn lòng dẹp lợi ích riêng tư để vì nghĩa vụ chung. Hai tiếng “mặc kệ” vang lên đầy ngạo nghễ, không phải là phó mặc vô tình mà là sự dứt khoát đầy tin tưởng, tạm gác lại công việc thường ngày để ra đi vì nghĩa lớn. Một lí tưởng sống thật cao đẹp!
Biểu hiện đầu tiên của tình đồng chí trong đoạn văn trên là gì?
“Mảnh vườn”, “gian nhà”
“Ruộng nương”, “gian nhà”
“Ruộng nương”, “mảnh vườn”
“Đồ đạc”, “gian nhà”
Tình đồng chí trước tiên là cảm thông những tâm sự thầm kín về hậu phương, quê hương: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày / Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. “Ruộng nương”, “gian nhà” là tài sản quý giá nhất của người nông dân. Nhưng tất cả những tài sản quý giá ấy các anh đều dứt khoát “gửi bạn thân cày” và “mặc kệ gió lung lay” -........................................................................................................................để vì nghĩa vụ chung. Hai tiếng “mặc kệ” vang lên đầy ngạo nghễ, không phải là phó mặc vô tình mà là sự dứt khoát đầy tin tưởng, tạm gác lại công việc thường ngày để ra đi vì nghĩa lớn. Một lí tưởng sống thật cao đẹp!
một sự phân vân, chưa sẵn lòng dẹp lợi ích riêng tư
một sự cứng cỏi, do dự khi phải dẹp lợi ích riêng tư
một sự cứng cỏi, sẵn lòng dẹp lợi ích riêng tư
một sự yếu mềm, sẵn lòng dẹp lợi ích riêng tư
Hai tiếng .................................vang lên đầy ngạo nghễ, không phải là phó mặc vô tình mà là sự dứt khoát đầy tin tưởng, tạm gác lại công việc thường ngày để ra đi vì nghĩa lớn.
....“mặc kệ”
“đồng chí”
“quê hương”
“gia đình”
“Giếng nước gốc đa” là.............................. cho quê hương làng xóm nơi các anh đã từ biệt để lên đường. Là quê hương nhớ thương người ra trận song cảm hiểu được nỗi nhớ ấy đâu thể là một người vô tâm.
.....hoán dụ
ẩn dụ
so sánh
nhân hóa
Tình đồng chí còn là sẻ chia khó khăn, động viên nhau vượt qua gian khổ. Nghệ thuật liệt kê kết hợp cùng
cấu trúc thơ sóng đôi trong những câu thơ sau đã nhấn mạnh những khó khăn gian khổ, thiếu thốn của đời sống lính tráng. Ở đó, “anh với tôi” đã thấm thía nỗi mệt nhọc do căn bệnh sốt rét rừng: “biết từng cơn ớn lạnh”, “sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”. Bệnh sốt rét đã hành hạ, bòn rút, làm tiêu hao sức lực con người. Các anh còn phải chống chọi với bệnh tật, chiến đấu chống quân thù trong hoàn cảnh thiếu thốn quân trang những ngày đầu kháng chiến: “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”, những vật dụng tối thiểu cũng không có. Cái buốt giá, khắc nghiệt của thiên nhiên vùng cao nơi người lính hành quân cũng là một thử thách lớn. Nhịp thơ dồn dập, hình ảnh thơ chân thực, mộc mạc nhưng cũng rất chọn lọc, hàm súc đã làm nổi bật những biểu hiện xúc động của tình đồng chí. Và biểu hiện cụ thể nhất, trực tiếp nhất của tình đồng chí chính là cử chỉ: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Cái nắm tay để sẻ chia, truyền hơi ấm, để hy vọng, để quyết tâm. Một cử chỉ bình thường nhưng mang ý nghĩa tinh thần đặc biệt, là biểu hiện giản dị mà sâu sắc của tình thương không nói nên lời. Sự hô ứng giữa “miệng cười buốt giá” và “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” làm nổi bật lên vẻ đẹp ngời sáng của niềm tin vượt lên gian khổ, của sự sẻ chia, đồng cảm và tin yêu. Câu thơ cuối cùng của đoạn có nhịp điệu kéo dài ra để chuyển tải hết chiều sâu và độ vững bền của cảm xúc. Cứ như thế, tình đồng chí được biểu hiện trong cuộc sống thường ngày và trở thành sức mạnh để người lính vượt qua khó khăn. Quả thật, tình đồng chí không chỉ là đồng cảm sâu sắc mà còn là sẻ chia chân tình. Nhà thơ Chính Hữu thấu hiểu hơn ai hết mối chân tình ấy để rồi khắc họa thật xúc động trong những trang thơ:
“Cuộc đời anh cho tôi chia một nửa/ Nửa giọt mồ hôi vạt áo còn đầm/
Nửa dãy Trường Sơn thác ghềnh vất vả/Nửa nắm cơm hạt muối nhọc nhằn/
Một nửa trận nắng/Một nửa cơn mưa”
Tìm câu chủ đề nêu luận điểm?
Bệnh sốt rét đã hành hạ, bòn rút, làm tiêu hao sức lực con người. Các anh còn phải chống chọi với bệnh tật, chiến đấu chống quân thù trong hoàn cảnh thiếu thốn quân trang những ngày đầu kháng chiến: “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”, những vật dụng tối thiểu cũng không có.
Nhà thơ Chính Hữu thấu hiểu hơn ai hết mối chân tình ấy để rồi khắc họa thật xúc động trong những trang thơ
Tình đồng chí còn là sẻ chia khó khăn, động viên nhau vượt qua gian khổ.
Nghệ thuật liệt kê kết hợp cùng
cấu trúc thơ sóng đôi trong những câu thơ sau đã nhấn mạnh những khó khăn gian khổ, thiếu thốn của đời sống lính tráng.
Tình đồng chí còn là sẻ chia khó khăn, động viên nhau vượt qua gian khổ. Nghệ thuật liệt kê kết hợp cùng
cấu trúc thơ sóng đôi trong những câu thơ sau đã nhấn mạnh những khó khăn gian khổ, thiếu thốn của đời sống lính tráng. Ở đó, “anh với tôi” đã thấm thía nỗi mệt nhọc do căn bệnh sốt rét rừng: “biết từng cơn ớn lạnh”, “sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”. Bệnh sốt rét đã hành hạ, bòn rút, làm tiêu hao sức lực con người. Các anh còn phải chống chọi với bệnh tật, chiến đấu chống quân thù trong hoàn cảnh thiếu thốn quân trang những ngày đầu kháng chiến: “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”, những vật dụng tối thiểu cũng không có. Cái buốt giá, khắc nghiệt của thiên nhiên vùng cao nơi người lính hành quân cũng là một thử thách lớn. Nhịp thơ dồn dập, hình ảnh thơ chân thực, mộc mạc nhưng cũng rất chọn lọc, hàm súc đã làm nổi bật những biểu hiện xúc động của tình đồng chí. Và biểu hiện cụ thể nhất, trực tiếp nhất của tình đồng chí chính là cử chỉ: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Cái nắm tay để sẻ chia, truyền hơi ấm, để hy vọng, để quyết tâm. Một cử chỉ bình thường nhưng mang ý nghĩa tinh thần đặc biệt, là biểu hiện giản dị mà sâu sắc của tình thương không nói nên lời. Sự hô ứng giữa “miệng cười buốt giá” và “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” làm nổi bật lên vẻ đẹp ngời sáng của niềm tin vượt lên gian khổ, của sự sẻ chia, đồng cảm và tin yêu. Câu thơ cuối cùng của đoạn có nhịp điệu kéo dài ra để chuyển tải hết chiều sâu và độ vững bền của cảm xúc. Cứ như thế, tình đồng chí được biểu hiện trong cuộc sống thường ngày và trở thành sức mạnh để người lính vượt qua khó khăn. Quả thật, tình đồng chí không chỉ là đồng cảm sâu sắc mà còn là sẻ chia chân tình. Nhà thơ Chính Hữu thấu hiểu hơn ai hết mối chân tình ấy để rồi khắc họa thật xúc động trong những trang thơ:
“Cuộc đời anh cho tôi chia một nửa/ Nửa giọt mồ hôi vạt áo còn đầm/
Nửa dãy Trường Sơn thác ghềnh vất vả/Nửa nắm cơm hạt muối nhọc nhằn/
Một nửa trận nắng/Một nửa cơn mưa”
Tìm câu nêu biểu hiện cụ thể nhất của tình đồng chí trong đoạn văn trên?
Nghệ thuật liệt kê kết hợp cùng
cấu trúc thơ sóng đôi trong những câu thơ sau đã nhấn mạnh những khó khăn gian khổ, thiếu thốn của đời sống lính tráng.
Các anh còn phải chống chọi với bệnh tật, chiến đấu chống quân thù trong hoàn cảnh thiếu thốn quân trang những ngày đầu kháng chiến: “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”, những vật dụng tối thiểu cũng không có.
Nhịp thơ dồn dập, hình ảnh thơ chân thực, mộc mạc nhưng cũng rất chọn lọc, hàm súc đã làm nổi bật những biểu hiện xúc động của tình đồng chí.
Và biểu hiện cụ thể nhất, trực tiếp nhất của tình đồng chí chính là cử chỉ: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.
Tình đồng chí còn là sẻ chia khó khăn, động viên nhau vượt qua gian khổ. Nghệ thuật liệt kê kết hợp cùng
cấu trúc thơ sóng đôi trong những câu thơ sau đã nhấn mạnh những khó khăn gian khổ, thiếu thốn của đời sống lính tráng. Ở đó, “anh với tôi” đã thấm thía nỗi mệt nhọc do căn bệnh sốt rét rừng: “biết từng cơn ớn lạnh”, “sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”. Bệnh sốt rét đã hành hạ, bòn rút, làm tiêu hao sức lực con người. Các anh còn phải chống chọi với bệnh tật, chiến đấu chống quân thù trong hoàn cảnh thiếu thốn quân trang những ngày đầu kháng chiến: “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”, những vật dụng tối thiểu cũng không có. Cái buốt giá, khắc nghiệt của thiên nhiên vùng cao nơi người lính hành quân cũng là một thử thách lớn. Nhịp thơ dồn dập, hình ảnh thơ chân thực, mộc mạc nhưng cũng rất chọn lọc, hàm súc đã làm nổi bật những biểu hiện xúc động của tình đồng chí. Và biểu hiện cụ thể nhất, trực tiếp nhất của tình đồng chí chính là cử chỉ: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Cái nắm tay để sẻ chia, truyền hơi ấm, để hy vọng, để quyết tâm. Một cử chỉ bình thường nhưng mang ý nghĩa tinh thần đặc biệt, là biểu hiện giản dị mà sâu sắc của tình thương không nói nên lời. Sự hô ứng giữa “miệng cười buốt giá” và “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” làm nổi bật lên vẻ đẹp ngời sáng của niềm tin vượt lên gian khổ, của sự sẻ chia, đồng cảm và tin yêu. Câu thơ cuối cùng của đoạn có nhịp điệu kéo dài ra để chuyển tải hết chiều sâu và độ vững bền của cảm xúc. Cứ như thế, tình đồng chí được biểu hiện trong cuộc sống thường ngày và trở thành sức mạnh để người lính vượt qua khó khăn. Quả thật, tình đồng chí không chỉ là đồng cảm sâu sắc mà còn là sẻ chia chân tình. Nhà thơ Chính Hữu thấu hiểu hơn ai hết mối chân tình ấy để rồi khắc họa thật xúc động trong những trang thơ:
“Cuộc đời anh cho tôi chia một nửa/ Nửa giọt mồ hôi vạt áo còn đầm/
Nửa dãy Trường Sơn thác ghềnh vất vả/Nửa nắm cơm hạt muối nhọc nhằn/
Một nửa trận nắng/Một nửa cơn mưa”
Tìm phần liên hệ mở rộng trong đoạn văn trên?
Ở đó, “anh với tôi” đã thấm thía nỗi mệt nhọc do căn bệnh sốt rét rừng: “biết từng cơn ớn lạnh”, “sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”.
Tình đồng chí còn là sẻ chia khó khăn, động viên nhau vượt qua gian khổ.
Nhà thơ Chính Hữu thấu hiểu hơn ai hết mối chân tình ấy để rồi khắc họa thật xúc động trong những trang thơ:
“Cuộc đời anh cho tôi chia một nửa/ Nửa giọt mồ hôi vạt áo còn đầm/
Nửa dãy Trường Sơn thác ghềnh vất vả/Nửa nắm cơm hạt muối nhọc nhằn/
Một nửa trận nắng/Một nửa cơn mưa”
Nghệ thuật liệt kê kết hợp cùng
cấu trúc thơ sóng đôi trong những câu thơ sau đã nhấn mạnh những khó khăn gian khổ, thiếu thốn của đời sống lính tráng.
Tình đồng chí còn là sẻ chia khó khăn, động viên nhau vượt qua gian khổ. Nghệ thuật liệt kê kết hợp cùng
cấu trúc thơ sóng đôi trong những câu thơ sau đã nhấn mạnh những khó khăn gian khổ, thiếu thốn của đời sống lính tráng. Ở đó, “anh với tôi” đã thấm thía nỗi mệt nhọc do căn bệnh sốt rét rừng: “biết từng cơn ớn lạnh”, “sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”. Bệnh sốt rét đã hành hạ, bòn rút, làm tiêu hao sức lực con người. Các anh còn phải chống chọi với bệnh tật, chiến đấu chống quân thù trong hoàn cảnh thiếu thốn quân trang những ngày đầu kháng chiến: “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”, những vật dụng tối thiểu cũng không có. Cái buốt giá, khắc nghiệt của thiên nhiên vùng cao nơi người lính hành quân cũng là một thử thách lớn. Nhịp thơ dồn dập, hình ảnh thơ chân thực, mộc mạc nhưng cũng rất chọn lọc, hàm súc đã làm nổi bật những biểu hiện xúc động của tình đồng chí.
Đâu là những khó khăn mà những người lính phải vượt qua?
Ở đó, “anh với tôi” đã thấm thía nỗi mệt nhọc do căn bệnh sốt rét rừng: “biết từng cơn ớn lạnh”, “sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”.
Bệnh sốt rét đã hành hạ, bòn rút, làm tiêu hao sức lực con người.
Các anh còn phải chống chọi với bệnh tật, chiến đấu chống quân thù trong hoàn cảnh thiếu thốn quân trang những ngày đầu kháng chiến: “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”, những vật dụng tối thiểu cũng không có.
Cái buốt giá, khắc nghiệt của thiên nhiên vùng cao nơi người lính hành quân cũng là một thử thách lớn.
Tình đồng chí còn là sẻ chia khó khăn, động viên nhau vượt qua gian khổ. Nghệ thuật liệt kê kết hợp cùng
cấu trúc thơ sóng đôi trong những câu thơ sau đã nhấn mạnh những khó khăn gian khổ, thiếu thốn của đời sống lính tráng. Ở đó, “anh với tôi” đã thấm thía nỗi mệt nhọc do căn bệnh sốt rét rừng: “biết từng cơn ớn lạnh”, “sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”. Bệnh sốt rét đã hành hạ, bòn rút, làm tiêu hao sức lực con người. Các anh còn phải chống chọi với bệnh tật, chiến đấu chống quân thù trong hoàn cảnh thiếu thốn quân trang những ngày đầu kháng chiến: “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”, những vật dụng tối thiểu cũng không có. Cái buốt giá, khắc nghiệt của thiên nhiên vùng cao nơi người lính hành quân cũng là một thử thách lớn. Nhịp thơ dồn dập, hình ảnh thơ chân thực, mộc mạc nhưng cũng rất chọn lọc, hàm súc đã làm nổi bật những biểu hiện xúc động của tình đồng chí.
Nhịp thơ có sự thay đổi như thế nào?
Nhịp thơ chậm rãi
Nhịp thơ dồn dập
Nhịp thơ khỏe khoắn
Nhịp thơ trầm hùng
Và biểu hiện cụ thể nhất, trực tiếp nhất của tình đồng chí chính là cử chỉ: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Cái nắm tay để sẻ chia, truyền hơi ấm, để hy vọng, để quyết tâm. Một cử chỉ bình thường nhưng mang ý nghĩa tinh thần đặc biệt, là biểu hiện giản dị mà sâu sắc của tình thương không nói nên lời. Sự hô ứng giữa “miệng cười buốt giá” và “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” làm nổi bật lên vẻ đẹp ngời sáng của niềm tin vượt lên gian khổ, của sự sẻ chia, đồng cảm và tin yêu. Câu thơ cuối cùng của đoạn có nhịp điệu kéo dài ra để chuyển tải hết chiều sâu và độ vững bền của cảm xúc. Cứ như thế, tình đồng chí được biểu hiện trong cuộc sống thường ngày và trở thành sức mạnh để người lính vượt qua khó khăn. Quả thật, tình đồng chí không chỉ là đồng cảm sâu sắc mà còn là sẻ chia chân tình.
Nhận xét về nhịp điệu của câu thơ cuối đoạn?
Câu thơ cuối cùng của đoạn có nhịp điệu trầm hùng để chuyển tải hết chiều sâu và độ vững bền của cảm xúc.
Câu thơ cuối cùng của đoạn có nhịp điệu nhanh, gấp gáp để chuyển tải hết chiều sâu và độ vững bền của cảm xúc.
Câu thơ cuối cùng của đoạn có nhịp điệu kéo dài ra để chuyển tải hết chiều sâu và độ vững bền của cảm xúc.
Câu thơ cuối cùng của đoạn có nhịp điệu ngắn gọn để chuyển tải hết chiều sâu và độ vững bền của cảm xúc.
Và biểu hiện cụ thể nhất, trực tiếp nhất của tình đồng chí chính là cử chỉ: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Cái nắm tay để.................., truyền hơi ấm, để .................., để ...................... Một cử chỉ bình thường nhưng mang ý nghĩa tinh thần đặc biệt, là biểu hiện giản dị mà sâu sắc của tình thương không nói nên lời. Sự hô ứng giữa “miệng cười buốt giá” và “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” làm nổi bật lên vẻ đẹp ngời sáng của niềm tin vượt lên gian khổ, của sự sẻ chia, đồng cảm và tin yêu. Câu thơ cuối cùng của đoạn có nhịp điệu kéo dài ra để chuyển tải hết chiều sâu và độ vững bền của cảm xúc. Cứ như thế, tình đồng chí được biểu hiện trong cuộc sống thường ngày và trở thành sức mạnh để người lính vượt qua khó khăn. Quả thật, tình đồng chí không chỉ là đồng cảm sâu sắc mà còn là sẻ chia chân tình.
Điền từ thích hợp vào chỗ trống?
quyết tâm
hy vọng
gần gũi
sẻ chia
Và biểu hiện cụ thể nhất, trực tiếp nhất của tình đồng chí chính là cử chỉ: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Cái nắm tay để sẻ chia, truyền hơi ấm, để hy vọng, để quyết tâm. Một cử chỉ bình thường nhưng ..................................................., là biểu hiện giản dị mà sâu sắc của tình thương không nói nên lời. Sự hô ứng giữa “miệng cười buốt giá” và “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” làm nổi bật lên vẻ đẹp ngời sáng của niềm tin vượt lên gian khổ, của sự sẻ chia, đồng cảm và tin yêu. Câu thơ cuối cùng của đoạn có nhịp điệu kéo dài ra để chuyển tải hết chiều sâu và độ vững bền của cảm xúc. Cứ như thế, tình đồng chí được biểu hiện trong cuộc sống thường ngày và trở thành sức mạnh để người lính vượt qua khó khăn. Quả thật, tình đồng chí không chỉ là đồng cảm sâu sắc mà còn là sẻ chia chân tình.
mang ý nghĩa vật chất bình dị
mang ý nghĩa tinh thần đặc biệt
mang ý nghĩa vật chất đặc biệt
mang ý nghĩa tinh thần bình dị
Từ những hồi ức quá khứ, đến với ba câu thơ cuối của bài thơ "Đồng chí", cảm xúc thơ trở về với ........................................................, khắc họa một biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí đồng đội.
thời khắc hiện tại
thời khắc quá khứ
thời khắc tương lai
Từ những hồi ức quá khứ, đến với ba câu thơ cuối, cảm xúc thơ trở về với thời khắc hiện tại, khắc họa một biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí đồng đội.
“Đêm nay rừng hoang sương muối/ Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới /Đầu súng trăng treo”
...................................... là “đêm nay”, không gian là nơi “rừng hoang sương muối”, khoảnh khắc của hiện tại thật tĩnh lặng và lạnh lẽo, hoang vu. Một cảm giác hồi hộp xuất hiện trong tâm trí bạn đọc. Cái mênh mông ngút ngàn bị bao trùm bởi bóng tối đêm thâu, cãi tĩnh lặng hoang vu lại thêm sự khắc nghiệt của thời tiết sương muối, tất cả tạo ra một cái nền làm nổi bật hình tượng người lính đang sát cánh kề vai. Họ sát cánh bên nhau trong tư thế và tâm thế chủ động, dũng cảm: “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.
Thời gian
không gian
khoảnh khắc
hiện tại
Họ sát cánh bên nhau trong tư thế và tâm thế chủ động, dũng cảm: ................................................ Mặc dù ngay sau đây thôi có thể là chiến đấu ác liệt nhưng người lính không hề sợ hãi và nao núng tinh thần. Tình đồng chí đã trở thành nền tảng sức mạnh, động lực chiến đấu của các anh. Như một kết quả tất yếu của sự đồng hành giữa những người lính trong đêm phục kích chờ giặc, hình ảnh “Đầu súng trăng treo” xuất hiện đem đến những ấn tượng độc đáo. Nhịp thơ 2/2 như nhịp vầng trăng lắc lư trên đầu súng, bầu trời và mặt đất được nối liền bởi một từ “treo”.
"Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ"
"Chân không giày"
"Đồng chí!"
“đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”
Tình đồng chí đã trở thành nền tảng sức mạnh, động lực chiến đấu của các anh. Như một kết quả tất yếu của sự đồng hành giữa những người lính trong đêm phục kích chờ giặc, hình ảnh “Đầu súng trăng treo” xuất hiện đem đến những ấn tượng độc đáo. Nhịp thơ 2/2 như nhịp vầng trăng lắc lư trên đầu súng, bầu trời và mặt đất được nối liền bởi một từ “treo”. Câu thơ chỉ vỏn vẹn hai hình ảnh “súng” và “trăng” trước tiên mang ý nghĩa tả thực. Trong đêm khuya, người lính đứng gác, chỉ có đồng đội, có súng và ánh trăng làm bạn. Bầu trời miền rừng núi bao giờ cũng trong hơn, rộng hơn và thấp hơn so với bầu trời ở miền khác. Đêm càng khuya thì càng có cảm giác như trăng đang thấp xuống đến độ có thể treo trên đầu mũi súng. Đồng thời đây cũng là hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng. “Súng” là biểu tượng cho chiến tranh, cho nhiệm vụ chiến đấu của người lính, đi liền với đó, “trăng” lại là biểu tượng cho hòa bình, cuộc sống bình yên của đất nước, quê hương. Người lính cầm súng là để bảo vệ cho cuộc sống hòa bình ấy. Đó là mục đích, lí tưởng cao đẹp mà các anh luôn hướng tới. Một cách tự nhiên mà sâu sắc, câu thơ đã ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của người lính. Một bên là hiện thực khốc liệt gắn với đời sống người chiến sĩ, một bên là thiên nhiên tươi mát trong tâm hồn lãng mạn của người thi sĩ.
Đâu là những nét đặc sắc nghệ thuật để phân tích câu thơ cuối?
Nhịp thơ 2/2 như nhịp vầng trăng lắc lư trên đầu súng, bầu trời và mặt đất được nối liền bởi một từ “treo”.
Câu thơ chỉ vỏn vẹn hai hình ảnh “súng” và “trăng” trước tiên mang ý nghĩa tả thực.
Đồng thời đây cũng là hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng.
Đó là mục đích, lí tưởng cao đẹp mà các anh luôn hướng tới.
Hai hình ảnh, hai sự cảm nhận ...........................lại đi liền với nhau thật tài tình trong cách liên tưởng của những người đang tham gia cuộc chiến, cận kề với mất mát, hi sinh. Tuy cầm súng chiến đấu nhưng tâm hồn người lính không hề chai sạn. Họ vẫn thả hồn mình rung động trước vẻ đẹp của ánh trăng khuya. Từ đó “Đầu súng trăng treo” đã trở thành biểu tượng cho tâm hồn bay bổng, lãng mạn, yêu đời, lạc quan đầy chất thơ của người lính thời kì kháng chiến. Một câu thơ, một khung cảnh nhưng hàm chứa trong đó sự đối lập của biết bao khía cạnh. Sự kết hợp tài tình, đặc sắc ấy đã cho ta những cảm nhận riêng về người lính và tình đồng chí đồng đội. Tình đồng chí đã xây đắp nên niềm tin chiến thắng nơi những người đồng đội đứng chung một chiến hào, để họ có thể vô tư quan sát và cảm nhận thấy khoảnh khắc “Đầu súng trăng treo”.
tương đồng
đối lập
giống nhau
so sánh
Hai hình ảnh, hai sự cảm nhận đối lập lại đi liền với nhau thật tài tình trong cách liên tưởng của những người đang tham gia cuộc chiến, cận kề với mất mát, hi sinh. Tuy cầm súng chiến đấu nhưng ....................................................................... Họ vẫn thả hồn mình rung động trước vẻ đẹp của ánh trăng khuya. Từ đó “Đầu súng trăng treo” đã trở thành biểu tượng cho tâm hồn bay bổng, lãng mạn, yêu đời, lạc quan đầy chất thơ của người lính thời kì kháng chiến. Một câu thơ, một khung cảnh nhưng hàm chứa trong đó sự đối lập của biết bao khía cạnh. Sự kết hợp tài tình, đặc sắc ấy đã cho ta những cảm nhận riêng về người lính và tình đồng chí đồng đội. Tình đồng chí đã xây đắp nên niềm tin chiến thắng nơi những người đồng đội đứng chung một chiến hào, để họ có thể vô tư quan sát và cảm nhận thấy khoảnh khắc “Đầu súng trăng treo”.
tâm hồn người lính không hề mơ mộng
tâm hồn người lính không hề run sợ
tâm hồn người lính không hề chai sạn...
tâm hồn người lính không hề lo lắng
Hai hình ảnh, hai sự cảm nhận đối lập lại đi liền với nhau thật tài tình trong cách liên tưởng của những người đang tham gia cuộc chiến, cận kề với mất mát, hi sinh. Tuy cầm súng chiến đấu nhưng tâm hồn người lính không hề chai sạn. Họ vẫn thả hồn mình rung động trước vẻ đẹp của ánh trăng khuya. Từ đó “Đầu súng trăng treo” đã trở thành biểu tượng cho .....................................................................................................................của người lính thời kì kháng chiến. Một câu thơ, một khung cảnh nhưng hàm chứa trong đó sự đối lập của biết bao khía cạnh. Sự kết hợp tài tình, đặc sắc ấy đã cho ta những cảm nhận riêng về người lính và tình đồng chí đồng đội. Tình đồng chí đã xây đắp nên niềm tin chiến thắng nơi những người đồng đội đứng chung một chiến hào, để họ có thể vô tư quan sát và cảm nhận thấy khoảnh khắc “Đầu súng trăng treo”.
tinh thần dũng cảm, tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan giàu chất hiện thực
tâm hồn bay bổng, lãng mạn, đa sầu, đa cảm
tinh thần dũng cảm, tư thế hiên ngang, đối mặt với kẻ thù
tâm hồn bay bổng, lãng mạn, yêu đời, lạc quan đầy chất thơ
Câu thơ khép lại thi phẩm nhưng mở ra trong ta nhiều suy ngẫm lắng sâu. Có
thể thấy, vầng trăng vừa là bạn đồng hành của cây súng vừa là đối tượng bảo vệ của cây súng nơi biên cương, trên mỗi tấc đất vạt rừng của Tổ quốc. Cảm nhận được sự bình yên và vẻ đẹp thơ mộng này, ta mới thấm thía cái giá phải trả cho hòa bình, cũng hiểu rõ hơn động lực để người lính sẵn sàng rời bỏ “ruộng nương”, “gian nhà” để lên đường ra trận. Ba câu thơ cuối bài đã góp phần nâng cao giá trị bài thơ, tạo được những dư âm sâu lắng trong lòng người đọc về biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí động đổi giữa những người chiến sĩ buổi đầu kháng Pháp. Đúng như có người đã từng khẳng định: “Cuối cùng nhà thơ đã tạc vào không gian nghệ thuật giàu chất sử thi ba nhân vật: Người lính, khẩu súng và vầng trăng như một bức phù điêu hoành tráng của kháng chiến”.
Đâu là câu khái quát giá trị của ba câu thơ cuối bài?
Có
thể thấy, vầng trăng vừa là bạn đồng hành của cây súng vừa là đối tượng bảo vệ của cây súng nơi biên cương, trên mỗi tấc đất vạt rừng của Tổ quốc.
Câu thơ khép lại thi phẩm nhưng mở ra trong ta nhiều suy ngẫm lắng sâu.
Đúng như có người đã từng khẳng định: “Cuối cùng nhà thơ đã tạc vào không gian nghệ thuật giàu chất sử thi ba nhân vật: Người lính, khẩu súng và vầng trăng như một bức phù điêu hoành tráng của kháng chiến”.
Ba câu thơ cuối bài đã góp phần nâng cao giá trị bài thơ, tạo được những dư âm sâu lắng trong lòng người đọc về biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí động đổi giữa những người chiến sĩ buổi đầu kháng Pháp.
Như vậy tình đồng chí trong bài thơ “Đồng chí” là tình cảm cao đẹp của những con người gắn bó keo sơn trong cuộc chiến đấu vĩ đại vì một lý tưởng chung. Đó là mối tình có cơ sở hết sức vững chắc: sự đồng cảm của những người chiến sĩ vốn xuất thân từ những người nông dân hiền lành chân thật gắn bó với ruộng đồng. Tình cảm ấy được hình thành trên cơ sở tình yêu Tổ quốc, cùng chung lí tưởng và mục đích chiến đấu. Hoàn cảnh chiến đấu gian khổ và ác liệt lại tôi luyện thử thách làm cho mối tình đồng chí đồng đội của những người lính càng gắn bó, keo sơn. Mối tình thiêng liêng sâu nặng, bền chặt đó đã tạo nên nguồn sức mạnh to lớn để những người lính “áo rách vai”, “chân không giầy” vượt lên mọi gian nguy để đi tới và làm nên thắng trận để viết lên những bản anh hùng ca Việt Bắc, Biên giới, Hoà Bình, Tây Bắc…. tô thắm thêm trang sử chống Pháp hào hùng của dân tộc.
Trong luận điểm đánh giá trên, người viết đã sử dụng những phương tiện liên kết nào?
phép nối
phép thế
phép lặp
phép đồng nghĩa, trái nghĩa
Như vậy tình đồng chí trong bài thơ “Đồng chí” là tình cảm cao đẹp của những con người gắn bó keo sơn trong cuộc chiến đấu vĩ đại vì một lý tưởng chung. Đó là mối tình có cơ sở hết sức vững chắc: sự đồng cảm của những người chiến sĩ vốn xuất thân từ những người nông dân hiền lành chân thật gắn bó với ruộng đồng. Tình cảm ấy được hình thành trên cơ sở tình yêu Tổ quốc, cùng chung lí tưởng và mục đích chiến đấu. Hoàn cảnh chiến đấu gian khổ và ác liệt lại tôi luyện thử thách làm cho mối tình đồng chí đồng đội của những người lính càng gắn bó, keo sơn. Mối tình thiêng liêng sâu nặng, bền chặt đó đã tạo nên nguồn sức mạnh to lớn để những người lính “áo rách vai”, “chân không giầy” vượt lên mọi gian nguy để đi tới và làm nên thắng trận để viết lên những bản anh hùng ca Việt Bắc, Biên giới, Hoà Bình, Tây Bắc…. tô thắm thêm trang sử chống Pháp hào hùng của dân tộc.
Đây là nhiệm vụ của phần nào?
mở bài
khái quát
đánh giá
kết bài
Bài thơ “Đồng chí” vừa mang vẻ đẹp giản dị lại vừa mang vẻ đẹp cao cả thiêng liêng. Tình đồng chí gắn bó keo sơn, chân dung người lính vệ quốc trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, tất cả hiện lên thật đẹp đẽ qua những vần thơ mộc mạc, chân tình mà gợi nhiều suy tưởng. Đọc những trang thơ ấy, ta lại càng thêm trân quý tài năng của một cây bút xuất sắc viết về đề tài người lính cách mạng, góp phần làm nên diện mạo nền văn học Việt Nam phong phú và đậm đà bao ý nghĩa sâu xa.
Đây là nhiệm vụ nào?
mở bài
khái quát
đánh giá
kết bài
Bài thơ “Đồng chí” vừa mang vẻ đẹp giản dị lại vừa mang vẻ đẹp cao cả thiêng liêng. Tình đồng chí gắn bó keo sơn, chân dung người lính vệ quốc trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, tất cả hiện lên thật đẹp đẽ qua những vần thơ mộc mạc, chân tình mà gợi nhiều suy tưởng. Đọc những trang thơ ấy, ta lại càng thêm trân quý tài năng của một cây bút xuất sắc viết về .................................................................... góp phần làm nên diện mạo nền văn học Việt Nam phong phú và đậm đà bao ý nghĩa sâu xa.
đề tài người lao động cách mạng
đề tài người lính cách mạng
đề tài cuộc sống hòa bình
đề tài người nông dân
