NEW
Font size
Worksheetsbc,tt,ct
Total questions: 79
Worksheet time: 40mins
Nghiên cứu bệnh chứng là:
Nghiên cứu quan sát
Nghiên cứu thực nghiệm.
Nghiên cứu cắt ngang.
Nghiên cứu chùm bệnh.
Nghiên cứu bệnh chứng là:
Nghiên cứu mô tả.
Nghiên cứu phân tích
Nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu cắt ngang
Nghiên cứu bệnh chứng là:
Nghiên cứu cắt ngang.
Nghiên cứu tương quan.
Nghiên cứu tương lai
Nghiên cứu hồi cứu
Trong nghiên cứu bệnh chứng, các đối tượng nghiên cứu được xác định dựa trên.
Tình trạng bệnh.
Tình trạng phơi nhiễm.
Tình trạng bệnh hoặc phơi nhiễm đều được.
Chọn ngẫu nhiên bất kỳ.
Trong nghiên cứu bệnh chứng, các nhóm nghiên cứu
Được áp dụng một loại thuốc điều trị mới
Được khai thác và so sánh tiền sử tiếp xúc với yếu tố nguy cơ.
Được can thiệp một phương pháp điều trị nào đó
Được theo dõi sự phát triển bệnh trong một thời gian dài
Đặc điểm của nghiên cứu bệnh chứng là
Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu tất cả các sự kiện cần nghiên cứu (tình trạng phơi nhiễm và bệnh) chưa xảy ra.
Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu các cá thể đã có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ nhưng chưa phát triển bệnh.
Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu tất cả các sự kiện cần nghiên cứu (tình trạng phơi nhiễm và bệnh) đã xảy ra.
Cả ba ý trên đều đúng
Trong nghiên cứu bệnh chứng, nhóm chủ cứu (nhóm bệnh) được lựa chọn là những người:
Không tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
Có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
Có bệnh mà ta nghiên cứu
Không có bệnh mà ta nghiên cứu
Trong nghiên cứu bệnh chứng, nhóm chứng được lựa chọn là những người:
Không tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
Có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
Có bệnh mà ta nghiên cứu
Không có bệnh mà ta nghiên cứu
Vấn đề quan trọng đầu tiên trong thiết kế nghiên cứu bệnh chứng là:
Lựa chọn quần thể có phơi nhiễm
Lựa chọn nhóm so sánh bên ngoài (không phơi nhiễm)
Lựa chọn nhóm so sánh đặc biệt (có phơi nhiễm đặc biệt)
Định nghĩa bệnh và lựa chọn nhóm bệnh
Khi lựa chọn nhóm bệnh ta phải:
Định nghĩa bệnh hay hậu quả mà ta quan tâm
Xác lập tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh nghiêm ngặt
Xác định rõ ràng nguồn lựa chọn nhóm bệnh
Phải tiến hành cả ba bước trên
Các nguồn lựa chọn nhóm bệnh có thể là:
Bệnh viện, quần thể
Bệnh viện, quần thể và nhóm đặc biệt
Bệnh viện và nhóm đặc biệt
Quần thể và nhóm đặc biệt
Ưu điểm của việc lựa chọn nhóm bệnh từ bệnh viện:
Tránh được sai số lựa chọn
Dễ thực hiện, không tốn kém
Có tính đại diện cao
Mô tả được bức tranh toàn diện của bệnh trong quần thể.
Nhược điểm của việc lựa chọn nhóm bệnh từ quần thể:
Tốn kém, khó thực hiện
Gặp phải sai số lựa chọn
Kết quả không có tính đại diện cho quần thể
Không tính trực tiếp được tỷ lệ bệnh ở nhóm phơi nhiễm và không phơi nhiễm
Các nguồn lựa chọn nhóm chứng có thể là:
Bệnh viện, quần thể
Bệnh viện, quần thể và nhóm đặc biệt
Bệnh viện và nhóm đặc biệt
Quần thể và nhóm đặc biệt
Ưu điểm của việc lựa chọn nhóm chứng từ bệnh viện
Đại diện cho sự phân bố phơi nhiễm của quần thể mà từ đó nhóm bệnh được chọn ra
Phơi nhiễm giống như những người bình thường trong quần thể
Dễ tập hợp đủ số lượng cần có, ít tốn kém
Có cả ba ưu điểm trên
Nhược điểm của lựa chọn nhóm chứng từ bệnh viện:
Khó tập hợp nên thường tốn kém
Không đại diện cho sự phân bố của quần thể mà từ đó nhóm bệnh được chọn ra
Tăng nguy cơ gặp sai lệch hồi tưởng, sai lệch lựa chọn và sai lêch không đáp ứng
Ưu điểm của việc lựa chọn nhóm chứng từ quần thể
Ít tốn kém....
Đảm bảo sự so sánh tốt nhất....
Có động cơ hợp tác...
Ít gặp sai số nhớ lại....
Lý tưởng nhất là có:
Một nhóm chứng thích hợp với nhóm bệnh
Hai nhóm chứng thích hợp với nhóm bệnh
Ba nhóm chứng thích hợp với nhóm bệnh
Bốn nhóm chứng thích hợp với nhóm bệnh
Đây là ví dụ về:
Nghiên cứu ngang mô tả.
Nghiên cứu thuần tập
Nghiên cứu bệnh chứng
Nghiên cứu thực nghiệm
Từ kết quả trên ta không thể tính được:
Nguy cơ tương đối (RR).
Tỷ suất chênh (OR).
Nguy cơ quy thuộc % (AR%)
Nguy cơ quy thuộc quần thể % (PAR%)
Tỷ suất chênh được tính như sau:
OR = (130/230) : (20/70)
OR = (130/20) : (100/50)
OR = (130/150) : (100/150)
OR = (20/130) : (50/100)
Giả sử ta tính được OR=2,5, ta có thể kết luận là:
Tỷ lệ những người hút thuốc lá trong số những người bị ung thư phổi cao gấp 2,5 lần so với những người không bị ung thư phổi.
Tỷ lệ những người không hút thuốc lá trong nhóm không ung thư phổi cao gấp 2,5 lần so với nhóm ung thư phổi
Nguy cơ bị ung thư phổi ở những người hút thuốc lá cao gấp 2,5 lần so với những người không hút thuốc lá
Khả năng không ung thư phổi ở những người hút thuốc lá kém 2,5 lần so với những người không hút thuốc lá
Giả sử trong một nghiên cứu về mối liên quan giữa hút thuốc lá và ung thư phổi ta tính được nguy cơ quy thuộc phần trăm (AR%) là 60%, ta có thể kết luận là:
60% những người hút thuốc lá sẽ bị ung thư phổi và có thể giảm tỷ lệ ung thư phổi nếu ngừng hút thuốc lá.
60% những người bị ung thư phổi là do hút thuốc lá và có thể giảm được tỷ lệ ung thư phổi nếu ngừng hút thuốc lá.
60% những người ung thư phổi không phải là do hút thuốc lá, còn lại 40% những người bị ung thư phổi là do hút thuốc lá và có thể giảm được tỷ lệ ung thư phổi nếu ngừng hút thuốc lá.
60% những người không ung thư phổi là do không hút thuốc lá.
Trong nghiên cứu bệnh - chứng, loại sai số gặp phải khi những người đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu nhưng không tình nguyện tham gia hay không được chọn vào nghiên cứu là:
Sai lệch quan sát
Sai lệch lựa chọn
Sai lệch hồi tưởng
Sai lệch phân loại
Trong nghiên cứu bệnh - chứng, loại sai lệch trong sự thu thập thông tin về tình trạng phơi nhiễm và bệnh là:
Sai lệch quan sát
Sai lệch lựa chọn
Sai lệch hồi tưởng
Sai lệch phân loại
Trong nghiên cứu bệnh - chứng, loại sai lệch trong việc phân loại sai tình trạng phơi nhiễm và bệnh là:
Sai lệch quan sát
Sai lệch lựa chọn
Sai lệch hồi tưởng
Sai lệch phân loại
Trong nghiên cứu bệnh - chứng, loại sai lệch về sự nhớ lại tần suất phơi nhiễm ở hai nhóm bệnh và chứng:
Sai lệch quan sát
Sai lệch lựa chọn
Sai lệch hồi tưởng
Sai lệch phân loại
Ưu điểm của nghiên cứu bệnh - chứng là:
Hiệu quả khi nghiên cứu các phơi nhiễm hiếm
Thực hiện tương đối nhanh, ít tốn kém so với các nghiên cứu phân tích khác
Có thể tính toán trực tiếp tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm phơi nhiễm và nhóm không phơi nhiễm
Không gặp sai lệch lựa chọn
Ưu điểm của nghiên cứu bệnh - chứng là:
Hiệu quả khi nghiên cứu các phơi nhiễm hiếm
Không gặp sai lệch hồi tưởng
Có thể tính toán trực tiếp tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm phơi nhiễm và nhóm không phơi nhiễm
Đặc biệt thích hợp cho nghiên cứu những bệnh có thời kỳ ủ bệnh dài, tối ưu khi nghiên cứu các bệnh hiếm
Nhược điểm của nghiên cứu bệnh - chứng là:
Nhạy cảm với các sai lệch đặc biệt sai lệch chọn và sai lệch hồi tưởng
Thực hiện lâu, tốn kém so với các nghiên cứu phân tích khác
Không thích hợp cho nghiên cứu những bệnh có thời kỳ ủ bệnh dài và nghiên cứu các bệnh hiếm
Không thể điều tra ảnh hưởng của nhiều yếu tố căn nguyên.
Nghiên cứu thần tập là:
Nghiên cứu quan sát
Nghiên cứu thực nghiệm.
Nghiên cứu cắt ngang.
Nghiên cứu ca bệnh.
Nghiên cứu thuần tập là:
Nghiên cứu mô tả.
Nghiên cứu phân tích
Nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu cắt ngang
Trong nghiên cứu thuần tập, các đối tượng nghiên cứu được xác định dựa trên.
Tình trạng bệnh
Tình trạng phơi nhiễm
Tình trạng bệnh hoặc phơi nhiễm đều được.
Chọn ngẫu nhiên bất kỳ
Nghiên cứu thần tập là nghiên cứu mà:
Nhà nghiên cứu không chỉ định tình trạng phơi nhiễm của các đối tượng nghiên cứu, họ chỉ quan sát và ghi nhận lại.
Nhà nghiên cứu chỉ định tình trạng phơi nhiễm của các đối tượng nghiên cứu.
Các đối tượng nghiên cứu được áp dụng một loại thuốc điều trị mới
Các đối tượng nghiên cứu được can thiệp một phương pháp điều trị nào đó.
Trong nghiên cứu thuần tập, các nhóm nghiên cứu được
So sánh hiệu quả của phương pháp điều trị mới với phương pháp điều trị cũ
Khai thác và so sánh tiền sử tiếp xúc với yếu tố nguy cơ.
So sánh tỷ lệ hiện mắc giữa nhóm phơi nhiễm và không phơi nhiễm
Theo dõi sự phát triển bệnh trong một thời gian dài
Nghiên cứu thuần tập là nghiên cứu:
Cung cấp hình ảnh chụp nhanh về tình trạng sức khỏe cộng đồng và các yếu tố liên quan
Chủ yếu hình thành giả thuyết
Kiểm định giả thuyết đã được đặt ra trước đó.
Hình thành và kiểm định giả thuyết.
Nghiên cứu thuần tập mà tất cả các sự kiện cần nghiên cứu (tình trạng phơi nhiễm và bệnh) đã xảy ra tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu là:
Nghiên cứu thuần tập tương lai
Nghiên cứu thuần tập hồi cứu
Nghiên cứu thuần tập vừa hồi cứu, vừa tương lai
Nghiên cứu thuần tập lồng nghiê
Nghiên cứu thuần tập mà tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu các cá thể nghiên cứu đã có phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ nhưng chưa xuất hiện bệnh và được theo dõi một thời gian dài trong tương lai là:
Nghiên cứu thuần tập tương lai
Nghiên cứu thuần tập hồi cứu
Nghiên cứu thuần tập vừa hồi cứu, vừa tương lai
Nghiên cứu thuần tập lồng nghiên cứu bệnh chứng
Một ví dụ nghiên cứu thuần tập về ảnh hưởng có hại của chất độc màu da cam trên những phi công Mỹ tham gia chiến tranh ở Việt Nam . Nhóm phơi nhiễm gồm 1264 phi công Mỹ có liên quan đến việc rải chất độc này ở Việt Nam trong thời gian 1962- 1967. Nhóm không phơi nhiễm gồm 1264 phi công làm nhiệm vụ vận chuyển hàng đến vùng Đông Nam á cùng thời gian này. Những số liệu được phân tích hồi cứu so sánh ở hai nhóm về hậu quả phơi nhiễm sau một thời gian ngắn như: các bệnh ngoài da, quái thai, thay đổi chức năng gan, rối loạn tâm thần. Các nhóm này cũng được theo dõi tương lai trong một thời gian dài hậu quả phát triển các bệnh ác tính. Đây là một ví dụ về:
Nghiên cứu thuần tập tương lai
Nghiên cứu thuần tập hồi cứu
Nghiên cứu thuần tập vừa hồi cứu, vừa tương lai
Nghiên cứu thuần tập lồng nghiên cứu bệnh chứng
Trong nghiên cứu thuần tập, nhóm chủ cứu được lựa chọn là những người:
Không tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
Có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
Có bệnh mà ta nghiên cứu
Không có bệnh mà ta nghiên cứu
Trong nghiên cứu thuần tập, nhóm so sánh được lựa chọn là những người:
Không tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
Có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ
Có bệnh mà ta nghiên cứu
Không có bệnh mà ta nghiên cứu
Trong nghiên cứu thuần tập, nhóm phơi nhiễm có thể được lựa chọn từ:
Quần thể tổng quát
Quần thể đặc biệt
Từ bệnh viện và quần thể tổng quát
Quần thể tổng quát và quần thể đặc biệt
Đối với các phơi nhiễm tương đối phổ biến như hút thuốc lá, uống cà phê thì ta có thể chọn nhóm chủ cứu từ:
Quần thể tổng quát
Quần thể đặc biệt
Từ bệnh viện và quần thể tổng quát
Quần thể tổng quát và quần thể đặc biệt
Với các phơi nhiễm hiếm như yếu tố phơi nhiễm nghề nghiệp thì ta có thể chọn đối tượng phơi nhiễm từ:
Quần thể tổng quát
Quần thể đặc biệt
Từ bệnh viện và quần thể tổng quát
Quần thể tổng quát và quần thể đặc biệt
Nếu nghiên cứu thuần tập dựa trên một nhóm thuần tập tổng quát và các cá thể được chia thành các mức độ phơi nhiễm khác nhau; độ mạnh của kết hợp giữa phơi nhiễm và bệnh được xác lập theo mức độ phơi nhiễm thì người ta áp dụng nhóm so sánh đó là:
Nhóm so sánh bên ngoài
Nhóm so sánh bên trong
Nhóm so sánh đặc biệt
Nhiều nhóm so sánh
Khi nghiên cứu thuần tập có sử dụng nhóm có phơi nhiễm đặc biệt như nhóm nghề nghiệp, nhóm người sống trong một môi trường đặc biệt, người ta không thể xác định một nhóm so sánh mà hoàn toàn không có phơi nhiễm, khi đó người ta có thể áp dụng nhóm so sánh như là quần thể tổng quát ở vùng mà nhóm phơi nhiễm sống, đó là:
Nhóm so sánh bên ngoài
Nhóm so sánh bên trong
Nhóm so sánh đặc biệt
Nhiều nhóm so sánh
Đây là một ví dụ về
Nghiên cứu ngang
Nghiên cứu bệnh chứng
Nghiên cứu thuần tập
Nghiên cứu thực nghiệm
Từ kết quả trên ta có thể tính được:
Tỷ suất chênh (OR)
Nguy cơ tương đối (RR)
Tỷ lệ mật độ mới mắc.
Cả ba số đo trên
Nếu tính được nguy cơ tương đối từ số liệu trên thì nguy cơ tương đối có thể được tính là:
(27/77): (455/1831)
(27/482) : (77/1908)
(455/428) : (1831/1908)
(27/104) : (455/2286)
Giả sử tính được RR=1,4 ; ta có thể nhận xét rằng:
Nguy cơ bị nhiễm khuẩn tiết niệu ở những phụ nữ có sử dụng thuốc tránh thai cao gấp 1,4 lần so với các phụ nữ không sử dụng thuốc tránh thai.
Nguy cơ không bị nhiễm khuẩn tiết niệu ở những phụ nữ không sử dụng thuốc tránh thai cao gấp 1,4 lần so với các phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai.
Tỷ lệ phụ nữ uống thuốc tránh thai trong nhóm nhiễm khuẩn tiết niệu cao gấp 1,4 lần so với nhóm không nhiễm khuẩn tiết niệu
Tỷ lệ phụ nữ bị nhiễm khuẩ
Yếu tố không phải là ưu điểm của nghiên cứu thuần tập:
Rất có giá trị trong và tối ưu khi nghiên ảnh hưởng của các phơi nhiễm hiếm gặp
Hiệu quả với nghiên cứu các bệnh hiếm gặp
Có thể kiểm định ảnh hưởng nhiều mặt của một phơi nhiễm đến sự phát triển nhiều bệnh
Có thể xác định khoảng thời gian phơi nhiễm và bệnh
Yếu tố không phải là ưu điểm của nghiên cứu thuần tập:
Có thể kiểm định ảnh hưởng nhiều mặt của một phơi nhiễm đến sự phát triển nhiều bệnh
Hạn chế được sai số hệ thống với ng/cứu thuần tập tương lai
Tính toán trực tiếp tỷ lệ mới mắc ở hai nhóm
Ít tốn kém về kinh tế và thời gian.
Yếu tố không phải là nhược điểm của nghiên cứu thuần tập:
Tốn kém về kinh tế và thời gian đặc biệt với nghiên cứu thuần tập tương lai
Không có hiệu quả với nghiên cứu các bệnh hiếm gặp
Không có hiệu quả khi nghiên ảnh hưởng của các phơi nhiễm hiếm gặp
Giá trị của kết quả nghiên cứu bị ảnh hưởng nghiêm trọng do mất các đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp là thiết kế :
Nghiên cứu quan sát
Nghiên cứu cắt ngang.
Nghiên cứu hồi cứu.
Nghiên cứu thực nghiệm.
Nghiên cứu can thiệp là thiết kế :
Nghiên cứu tương lai.
Nghiên cứu quan sát
Nghiên cứu cắt ngang.
Nghiên cứu hồi cứu.
Trong nghiên cứu can thiệp, các đối tượng nghiên cứu được xác định dựa trên.
Tình trạng bệnh
Tình trạng phơi nhiễm
Tình trạng bệnh hoặc phơi nhiễm đều được.
Chọn ngẫu nhiên bất kỳ
Thông thường, nghiên cứu can thiệp là nghiên cứu:
Tình trạng phơi nhiễm của các đối tượng nghiên cứu xảy ra tự nhiên, người nghiên cứu chỉ quan sát và ghi nhận lại.
Tình trạng phơi nhiễm của các đối tượng nghiên cứu do chính họ lựa chọn.
Tình trạng phơi nhiễm của các đối tượng nghiên cứu do người nghiên cứu chỉ định.
Cả ba tình huống trên đều được.
Thử nghiệm lâm sàng là:
Thử nghiệm được áp dụng ở những bệnh nhân bị một bệnh nào đó để xác định khả năng giảm bớt triệu chứng, giảm nguy cơ chết vì bệnh đó của một loại thuốc hay một phương pháp điều trị.
Thử nghiệm để đánh giá tác dụng của thuốc trên một phạm vi lớn.
Điều trị ban đầu ảnh hưởng lâm sàng của thuốc điều trị.
Thử nghiệm nhằm đánh giá tác dụng của một tác nhân hay một phương pháp làm giảm nguy cơ phát triển bệnh ở những người khỏe mạnh có nguy cơ mắc bệnh.
Thử nghiệm phòng bệnh là:
Thử nghiệm được áp dụng ở những bệnh nhân bị một bệnh nào đó để xác định khả năng giảm bớt triệu chứng, giảm nguy cơ chết vì bệnh đó của một loại thuốc hay một phương pháp điều trị.
Thử nghiệm để đánh giá tác dụng của thuốc trên một phạm vi lớn.
Điều trị ban đầu ảnh hưởng lâm sàng của thuốc điều trị.
Thử nghiệm nhằm đánh giá tác dụng của một tác nhân hay một phương pháp làm giảm nguy cơ phát triển bệnh ở những người khỏe mạnh có nguy cơ mắc bệnh.
Trong thử nghiệm thuốc điều trị, giai đoạn nghiên cứu tính an toàn chứ không phải tính hiệu quả của thuốc và sau đó xác định liều sử dụng thích hợp là giai đoạn:
Điều trị ban đầu ảnh hưởng lâm sàng của thuốc điều trị.
Dược lý lâm sàng và độc tính.
Giám sát thuốc trên thị trường
Đánh giá tác dụng của thuốc trên phạm vi lớn
Giai đoạn điều tra trên một phạm vi nhỏ hiệu quả và sự an toàn của thuốc là giai đoạn:
Điều trị ban đầu ảnh hưởng lâm sàng của thuốc điều trị.
Dược lý lâm sàng và độc tính.
Giám sát thuốc trên thị trường.
Đánh giá tác dụng của thuốc trên phạm vi lớn.
Giai đoạn điều xác định tính hiệu quả của thuốc, so sánh với các phương pháp khác hiện đang áp dụng đối với cùng một bệnh trên một số lớn bệnh nhân là giai đoạn:
Điều trị ban đầu ảnh hưởng lâm sàng của thuốc điều trị.
Dược lý lâm sàng và độc tính.
Giám sát thuốc trên thị trường.
Đánh giá tác dụng của thuốc trên phạm vi lớn.
Giai đoạn nhằm giám sát các ảnh hưởng phụ của thuốc, các nghiên cứu bổ sung lâu dài trên phạm vi lớn về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong và sự quan tâm chú ý sử dụng thuốc của các thầy thuốc đang điều trị là giai đoạn:
Điều trị ban đầu ảnh hưởng lâm sàng của thuốc điều trị.
Dược lý lâm sàng và độc tính.
Giám sát thuốc trên thị trường.
Đánh giá tác dụng của thuốc trên phạm vi lớn.
Giai đoạn thực chất đồng nghĩa với khái niệm "thử nghiệm lâm sàng" là giai đoạn:
Điều trị ban đầu ảnh hưởng lâm sàng của thuốc điều trị.
Dược lý lâm sàng và độc tính.
Giám sát thuốc trên thị trường.
Đánh giá tác dụng của thuốc trên phạm vi lớn.
Cỡ mẫu nghiên cứu phù hợp cho giai đoạn dược lý lâm sàng và độc tính là:
10-20 người
20-80 người
100-200 người
Trên 200 người
Cỡ mẫu nghiên cứu phù hợp cho giai đoạn điều trị ban đầu ảnh hưởng lâm sàng của thuốc điều trị là:
10-20 người
20-80 người
100-200 người
Trên 200 người
Thử nghiệm lâm sàng thường được áp dụng ở:
Các cá thể.
Các nhóm cá thể đặc biệt.
Toàn bộ quần thể.
Các cá thể hoặc toàn bộ quần thể.
Thử nghiệm phòng bệnh thường được áp dụng ở:
Các cá thể.
Các nhóm cá thể đặc biệt.
Toàn bộ quần thể.
Các cá thể hoặc toàn bộ quần thể.
Các yêu cầu khi lựa chọn quần thể nghiên cứu:
Phải có đủ số người phát triển bệnh hay một hậu quả mà ta nghiên cứu để cho phép so sánh có ý nghĩa giữa các phương pháp điều trị khác nhau trong một khoảng thời gian hợp lý
Phải đảm bảo khả năng thu thập được thông tin theo dõi đầy đủ và chính xác trong thời gian nghiên cứu.
Các đối tượng phải được mời tham gia vào nghiên cứu sau khi được thông báo đầy đủ về mục tiêu của thử nghiệm, qui trình thử nghiệm, lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra
Cả ba yêu cầu trên
Quần thể nghiên cứu là:
Những người đủ tiêu chuẩn đề ra.
Những người tham gia nghiên cứu
Những người tham gia nghiên cứu và đủ tiêu chuẩn đề ra.
Quần thể thực nghiệm.
Việc liệu những người tham gia nghiên cứu có đại diện cho toàn thể quần thể thực nghiệm hay không sẽ:
không ảnh hưởng đến tính giá trị của kết quả, nhưng có thể ảnh hưởng đến khả năng khái quát hóa kết quả cho nhóm quần thể thực nghiệm hay quần thể có liên quan
có ảnh hưởng đến tính giá trị của kết quả, nhưng không ảnh hưởng đến khả năng khái quát hóa kết quả cho nhóm quần thể thực nghiệm hay quần thể có liên quan
không ảnh hưởng đến tính giá trị của kết quả và không ảnh hưởng đến khả năng khái quát hóa kết quả cho nh
Lưu ý trong việc chỉ định các nhóm điều trị khác nhau:
tiến hành ngẫu nhiên để tăng khả năng so sánh các nhóm nhận các can thiệp khác nhau
chỉ được tiến hành sau khi các đối tượng nghiên cứu được xác định là đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu.
chỉ được tiến hành sau khi các đối tượng nghiên cứu được xác định là đủ tiêu chuẩn và tình nguyện tham gia nghiên cứu.
(a) và (c) đúng
Ưu điểm của chỉ định ngẫu nhiên trong thử nghiệm lâm sàng là:
Loại trừ được được các sai chệch do chỉ định nhóm điều trị và sự khác nhau quan sát được không phải là do lựa chọn bệnh nhân nhận một can thiệp nào đó.
Các nhóm nghiên cứu có thể so sánh được nhiều biến số trừ can thiệp nghiên cứu.
Cỡ mẫu nghiên cứu càng lớn, quá trình lấy ngẫu nhiên và phân bố như nhau các yếu tố gây nhiễu biết rõ và chưa biết rõ ở các nhóm điều trị càng đạt được kết quả.
Cả ba ưu điểm trên
Biện pháp làm "mù đơn" là:
Chỉ có người trực tiếp điều trị và theo dõi và người xử lý và phân tích số liệu biết được tình trạng can thiệp.
Chỉ có đối tượng nghiên cứu biết được tình trạng can thiệp.
Chỉ có người xử lý và phân tích số liệu biết được tình trạng can thiệp.
Chỉ có người trực tiếp điều trị và theo dõi biết được tình trạng can thiệp.
Biện pháp làm "mù kép" là:
Chỉ có người trực tiếp điều trị và theo dõi biết được tình trạng can thiệp.
Chỉ có đối tượng nghiên cứu biết được tình trạng can thiệp.
Chỉ có người xử lý và phân tích số liệu biết được tình trạng can thiệp.
Không ai trong ba đối tượng trên biết được tình trạng can thiệp.
Biện pháp làm "mù ba" là:
Chỉ có người trực tiếp điều trị và theo dõi biết được tình trạng can thiệp.
Chỉ có đối tượng nghiên cứu biết được tình trạng can thiệp.
Chỉ có người xử lý và phân tích số liệu biết được tình trạng can thiệp.
Không ai trong ba đối tượng trên biết được tình trạng can thiệp.
Để loại trừ yếu tố may rủi trong nghiên cứu can thiệp cần:
Xác định cỡ mẫu đủ lớn.
Chọn mẫu ngẫu nhiên
Áp dụng biện pháp làm mù
Không loại trừ khỏi phân tích các đối tượng không đủ tiêu chuẩn hay không tuân thủ chế độ nghiên cứu sau khi được chọn ngẫu nhiên
Để loại trừ sai số hệ thống trong nghiên cứu can thiệp cần:
Chọn mẫu ngẫu nhiên
Áp dụng biện pháp làm mù
Không loại trừ khỏi phân tích các đối tượng không đủ tiêu chuẩn hay không tuân thủ chế độ nghiên cứu sau khi được chọn ngẫu nhiên
Cả ba biện pháp trên
Ưu điểm của nghiên cứu can thiệp là:
Cho phép chứng minh giả thuyết về mối liên quan giữa bệnh và yếu tốn nguy cơ cần nghiên cứu.
Không nhất thiết số lượng bệnh nhân phải ổn định
Kết quả nghiên cứu không bị ảnh hưởng bởi sự tuân thủ chế độ can thiệp của đối tượng nghiên cứu
Cả ba ưu điểm trên
