WorksheetsKiến thức về chụp X quang vú
Total questions: 50
Worksheet time: 28mins
Kỹ thuật thăm khám nào sau đây có giá trị nhất trong sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú hiện nay:
Chụp X quang tuyến vú (Mammography).
Siêu âm tuyến vú (Breast ultrasound)
Chụp cản quang ống tuyến vú (Galactography)
Chụp cắt lớp vi tính tuyến vú (Breast CT)
Chụp cộng hưởng từ tuyến vú (Breast MRI)
Hiệp hội ung thư Hoa kỳ (American Cancer Society - ACS) khuyến cáo chụp X quang vú sàng lọc định kỳ cho phụ nữ ở độ tuổi:
Trên 40
Trên 35
Trên 30
Trên 25
Trên 20.
Bộ phận kiểm soát phát tia tự động (AEC - Automatic Exposure Control) trong thiết bị chụp X quang vú với phim và bìa tăng sáng rất quan trọng trong việc:
Cung cấp một mật độ phim ổn định dù độ dày tuyến vú thay đổi.
Loại trừ tia khuyếch tán trong quá trình chụp.
Giảm độ dày tuyến vú nhằm làm tách rời các cấu trúc trong tuyến.
Cung cấp thông tin về lực ép vú sau khi tiến hành ép vú cho bệnh nhân.
Làm giảm bề dày vú nên giảm liều chiếu tia X.
Sensor bộ phận kiểm soát phát tia tự động (AEC sensor) có độ di chuyển từ thành ngực ra phía núm vú khoảng bao nhiêu xentimét:
8 cm
2 cm
4 cm
6 cm
10 cm
Khoảng cách bóng - bìa tăng sáng của các máy chụp X quang vú hiện nay khoảng bao nhiêu xentimét:
65 cm
35 cm
45 cm
85 cm
95 cm.
Bộ Anode - lọc "chuẩn vàng" cho các máy X quang vú hiện nay là:
Molypdenum - Molypdenum (Mo/Mo).
Molypdenum - Rhodium (Mo/Rh).
Rhodium - Rhodium (Rh/Rh).
Tungsten - Rhodium (W/Rh).
Tungsten - Tungsten (W/W).
Những hình bán nguyệt trên bề mặt bộ phận ép trong máy chụp X quang vú cho phép ta xác định:
Vị trí đặt sensor.
Lực ép vú.
Chiều dày tuyến vú trước khi ép.
Chiều dày tuyến vú sau khi ép.
Trường khảo sát (FOV).
Tia X với kVp thấp đặc biệt quan trọng trong chụp X quang vú, chọn khoảng kV đúng nhất:
22 - 45.
12 - 22.
45 - 65.
32 - 52.
52 - 75.
Phụ nữ chưa mãn kinh chụp X quang vú nên được thực hiện vào thời điểm mà nồng độ Estrogen trong máu giảm xuống, tuyến vú bớt giữ nước và bớt căng hơn, do đó bệnh nhân dễ chịu hơn và hình ảnh quan sát sẽ rõ hơn, thời điểm này là:
Một tuần sau sạch.
Hai tuần sau sạch kinh.
Ba tuần sau sạch.
Ngay trước khi chuẩn bị có kinh.
Bất kỳ thời điểm nào cũng được vì thời điểm chụp là không quan trọng đối với việc ép vú và việc quan sát hình ảnh.
Mục đích đầu tiên quan trọng của việc ép vú là:
Làm giảm độ dày tuyến vú, nhờ đó tia X xuyên thấu qua một cách đồng nhất hơn.
Giữ chặt tuyến vú, tránh bị nhòe ảnh khi chụp.
Làm giảm khoảng cách vật - phim giúp cho độ phân giải tốt hơn.
Làm tách rời các cấu trúc trong tuyến, một tổn thương nếu có không còn bị mô tuyến bình thường che lấp đi.
Làm giảm bề dày vú nên giảm liều chiếu tia X.
Hiện nay, quốc tế công nhận hai chiều thế căn bản trong chụp X quang vú cho việc sàng lọc ung thư vú là:
Thế chếch trong - ngoài (MLO) và thế thẳng trên - dưới (CC).
Thế chếch ngoài - trong (LMO) và thế thẳng trên - dưới (CC).
Thế nghiêng 900 ngoài - trong (LM) và thế thẳng trên - dưới (CC).
Thế chếch trong - ngoài (MLO) và thế thẳng từ dưới lên (FB).
Thế nghiêng 900 trong - ngoài (ML) và thế thẳng trên - dưới (CC).
t chỉ trên một hình chụp và phần lớn các ung thư vú được phát hiện trên thế này, tuy nhiên nhược điểm của thế này là bỏ sót tổn thương tại (vùng mù):
Phần cao của ¼ trên trong.
Phần đuôi nách.
Phần thấp của ¼ trên ngoài.
Phần mô vú ở nếp gấp dưới vú.
Phần đuôi nách và nếp gấp dưới vú.
Trong chụp X quang vú thế chếch trong - ngoài (MLO), tia X đi xuyên qua vú từ phần trên trong đến phần dưới ngoài của vú và thẳng góc với bề mặt cát xét, độ nghiêng của đầu đèn thay đổi tùy theo giải phẫu của bệnh nhân như sau:
30 - 600 (thông thường 450).
10 - 300 (thông thường 200).
20 - 400 (thông thường 300).
30 - 500 (thông thường 400).
60 - 800 (thông thường 700).
Trong chụp X quang vú thế chếch trong - ngoài (MLO), bờ cát xét và bộ phận ép song song với:
Cơ ngực lớn.
Đuôi nách.
Đường nách giữa.
Đường nách sau.
Đường nách trước.
Tiêu chuẩn chất lượng của phim chụp X quang vú thế chếch trong - ngoài (MLO), chọn ý sai:
Thấy được một ít cơ ngực lớn ở bờ sau của phim.
Mô tuyến trải đều trên phim.
Thấy được cơ ngực lớn tới ngang hoặc dưới núm vú.
Thấy được bờ cơ ngực lớn hơi lồi ra trước và tạo với bờ ngoài phim một góc khoảng 200, trên rộng hơn dưới.
Thấy được nếp gấp dưới vú ở phần dưới của phim.
Bước đầu tiên trong thực hiện chụp X quang vú thế thẳng trên - dưới (CC) là:
Nâng bờ dưới vú lên sao cho rãnh dưới vú nằm cao nhất có thể được.
Nâng giá đỡ vú lên ngang tầm tuyến vú hiện tại của bệnh nhân.
Yêu cầu bệnh nhân nâng cả người lên để dễ dàng thực hiện ép vú.
Yêu cầu bệnh nhân hạ thấp người để kéo vú ra trước dễ dàng.
Xoay đầu đèn một góc 100 để không chồng xương cánh tay lên phim.
Trong tiêu chuẩn chất lượng của phim chụp vú, đặc biệt là chụp sàng lọc, cần so sánh khoảng cách sau núm vú trên hai phim thế chếch trong ngoài (MLO) và thế thẳng trên dưới (CC) để biết chắc chắn là phần mô phía sâu đã được chụp đủ. Hai khoảng cách này chênh nhau:
≤ 1 cm.
≤ 2 cm.
≤ 3 cm.
≤ 4 cm.
≤ 5 cm.
Trong tình huống lâm sàng, trên phim chụp hai chiều thế căn bản là chếch trong- ngoài (MLO) và thẳng trên - dưới (CC), người ta thấy các vi vôi hóa mà các vi vôi hóa này được nghi ngờ là do lắng đọng sữa can xi trong các nang nhỏ (hình thái lắng đọng này là tiêu chuẩn quan trọng của vi vôi hoá lành tính), theo bạn để khẳng định chẩn đoán chiều thế chụp bổ sung nên chọn là:
Thế chụp nghiêng 900 (ML/LM).
Thế chụp tiếp tuyến (TAN).
Thế chụp tập trung đường giữa hai vú (CV).
Thế trên - dưới lệch ngoài hoặc lệch trong (Lateral/Medial bias).
Thế lăn (cuộn) ra ngoài hoặc vào trong (RL/ RM)
Trong các thế chụp vú bổ sung, người ta sử dụng thế lăn ra trong trường hợp:
Muốn tách rời những phần mô tuyến chồng nhau, thí dụ một tổn thương bị che khuất, nhất là trong trường hợp tổn thương chỉ được phát hiện trên một thế chuẩn.
Xác định vôi hóa trong hay ngoài tuyến vú cho phép hướng đến bản chất lành hay ác tính của vôi hóa.
Muốn phân tích bờ và các liên quan của khối u vú.
Muốn phân tích chi tiết tổn thương và tìm các tổn thương nhỏ, các vi vôi hóa.
Muốn xác định và phân tích chi tiết tổn thương vùng đuôi nách.
Kỹ thuật chụp X quang vú bổ sung nào cho phép giảm đáng kể độ dày vùng tuyến quan tâm và mô tuyến được trải ra rõ rệt:
Chụp ép khu trú (Spot compression).
Chụp phóng đại (Magnification).
Thế lăn ra ngoài hoặc vào trong (RL/RM).
Thế tiếp tuyến (TAN).
Thế tập trung đường giữa hai vú (CV).
Mục đích của chụp X quang vú thế tiếp tuyến:
Xác định các vôi hoá nghi ngờ dưới da (vôi hoá trong da hoặc mô dưới da cho phép hướng đến bản chất lành tính).
Đánh giá các vi vôi hoá trong trường hợp lắng đọng sữa can xi trong các nang nhỏ.
Tìm các tổn thương nhỏ và các vi vôi hóa, đặc biệt là xác định số lượng, sự phân bố và nhất là hình thái của các vi vôi hoá.
Đây là thế quan trọng nhất giúp sàng lọc tốt bệnh ung thư vú.
Tách rời những phần mô tuyến chồng nhau.
Trong tình huống lâm sàng, một tổn thương chỉ được phát hiện trên phim MLO, ta nghĩ đến tổn thương này bị che khuất và muốn tách rời những phần mô tuyến chồng nhau trên phim CC để thấy rõ tổn thương, theo bạn ta nên chọn lựa thế chụp X quang vú bổ sung nào sau đây:
Thế lăn ra ngoài hay vào trong (RL/RM).
Thế tiếp tuyến (TAN).
Thế tập trung đường giữa hai vú (CV).
Thế ép khu trú (Spot Compression).
Thế phóng đại (Magnification).
Trong chụp X quang vú, kỹ thuật viên phải thực hiện việc kiểm tra chất lượng hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, mỗi 3 tháng, mỗi 6 tháng theo như sổ tay kiểm tra chất lượng của ACR (American College of Radiology). Công việc vệ sinh phòng tối (nhiệt độ, độ ẩm) được thực hiện:
Hàng ngày.
Hàng tuần.
Hàng tháng.
Mỗi 3 tháng.
Mỗi 6 tháng.
Trong chụp X quang vú, chất lượng cũng phải được kiểm tra bởi một chuyên viên vật lý để điều chỉnh về độ chuẩn trực, độ phân giải, kilovolt, độ chính xác của bộ phận điều khiển phát tia tự động (AEC), khoảng thời gian cho việc kiểm tra này là:
Ít nhất mỗi năm một lần.
Ít nhất mỗi tháng một lần.
Ít nhất mỗi quý một lần.
Ít nhất mỗi hai năm một lần.
Ít nhất mỗi ba năm một lần.
Chụp X quang ống tuyến sữa (Galactography) có giá trị:
Chẩn đoán các bệnh gây chảy dịch qua đầu núm vú vì có thể giúp thấy được rất rõ hình ảnh của một u nhú hoặc một ống dẫn sữa bị giãn.
Kết hợp với siêu âm để phát hiện ung thư vú ở những phụ nữ có tiết dịch núm vú.
Kết hợp với siêu âm vú trong chẩn đoán bệnh lý thay đổi xơ nang tuyến vú.
Kết hợp với siêu âm vú trong chẩn đoán những trường hợp có khối u tại núm vú.
Sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú ở những phụ nữ có yếu tố nguy cơ cao.
Hình ảnh sau đây mô tả thế chụp X quang vú nào:
Chụp phóng đại (magnification) kèm ép khu trú (spot compression).
Chụp phóng đại (magnification).
Chụp ép khu trú (spot compression).
Chụp tiếp tuyến (TAN).
Chụp thẳng trên - dưới (CC).
Hình ảnh sau đây mô tả thế chụp X quang vú nào:
Thế chụp nghiêng 900 trong - ngoài (ML).
Thế chụp nghiêng 900 ngoài - trong (LM).
Thế chụp đuôi nách (AT).
Thế chụp chếch trong - ngoài (MLO).
Thế chụp chếch ngoài - trong (LMO).
Hình ảnh sau đây mô tả thế chụp X quang vú nào:
Thế chụp nghiêng 900 ngoài - trong (LM).
Thế chụp nghiêng 900 trong - ngoài (ML).
Thế chụp đuôi nách (AT).
Thế chụp chếch trong - ngoài (MLO).
Thế chụp chếch ngoài - trong (LMO).
Hình ảnh sau đây mô tả thế chụp X quang vú nào:
Thế chụp đuôi nách (AT).
Thế chụp chếch trong - ngoài (MLO).
Thế chụp chếch ngoài - trong (LMO).
Thế chụp nghiêng 900 trong - ngoài (ML).
Thế chụp nghiêng 900 ngoài - trong (LM).
Tuỷ sống liên tục từ não qua lỗ chẩm xuống ống sống, chóp tủy thường kết thúc tại vị trí:
Khe liên đốt sống L1 - L2/ L2 - L3.
Khe liên đốt sống D12 - L1
Khe liên đốt sống L3 - L4.
Khe liên đốt sống L4 - L5.
Khe liên đốt sống L5 - S1
Các chống chỉ định của chụp tuỷ sống cản quang, chọn câu đúng nhất:
Dịch não tuỷ có máu, soi đáy mắt có phù gai thị, tăng áp lực nội sọ.
Bệnh nhân mang máy trợ tim, dịch não tuỷ có máu, tăng áp lực nội sọ.
Các tổn thương cột sống do chấn thương, dịch não tuỷ có máu.
Hẹp ống sống hay rộng ống sống, tăng áp lực nội sọ.
Soi đáy mắt có phù gai thị, dịch não tuỷ có máu.
Chụp tuỷ sống cản quang (myelography) giúp thăm khám điện quang bộ phận nào sau đây bằng chất cản quang, chọn câu đúng nhất:
Tuỷ sống và các rể thần kinh
Tủy sống và các dây thần kinh.
Tủy sống và đĩa đệm cột sống.
Các rễ thần kinh và ống sống.
Các rễ thần kinh và các màng não tủy.
Thông thường người ta chụp tủy sống cản quang qua đường thắt lưng, đường dưới chẩm được dùng trong các trường hợp cần thiết nào sau đây:
Muốn xác định giới hạn trên của tổn thương như trong u tủy sống.
Trường hợp thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng.
Trường hợp có trượt đốt sống thắt lưng.
Trường hợp có tổn thương vùng cột sống thắt lưng do chấn thương.
Xác định các tổn thương phối hợp trong u tủy sống.
Trong kỹ thuật chụp tủy sống cản quang đường cột sống thắt lưng, vị trí chọc kim không an toàn là:
Khe liên đốt L1 - L2.
Khe liên đốt L3 - L4.
Khe liên đốt L4 - L5.
Khe liên đốt L5 - S1.
Vị trí đầu kim chọc là khoang dưới nhện.
Trong kỹ thuật chụp tủy sống cản quang đường dưới chẩm, vị trí chọc kim hay dùng là:
Trong kỹ thuật chụp tủy sống cản quang đường dưới chẩm, vị trí chọc kim hay dùng là:
Khe liên đốt C1 - C2.
Khe liên đốt C2 - C3.
Khe liên đốt C3 - C4.
Khe liên đốt C4 - C5.
Khe liên đốt C5 - C6.
Trong kỹ thuật chụp tủy sống cản quang, vị trí đầu kim chọc để rút dịch não tủy xét nghiêm và bơm thuốc cản quang vào là:
Khoang dưới nhện xung quanh tuỷ sống.
Khoang dưới màng cứng.
Khoang ngoài màng cứng.
Khoang bể lớn ở hố sau.
Xoang tĩnh mạch màng cứng.
Hiện nay, người ta chọn lựa loại thuốc cản quang nào trong các loại sau đây để chụp tủy sống cản quang:
Loại cản quang có iode, tan trong nước, không ion hóa.
Loại cản quang dầu siêu lỏng.
Không khí vô trùng (Gas myelography).
Loại cản quang có iode không tan trong nước.
Loại cản quang có iode, tan trong nước, ion hóa.
Ưu điểm của loại thuốc cản quang có iode, tan trong nước, không ion hóa hiện nay dùng trong chụp tủy sống cản quang là, ngoại trừ:
Độ thẩm thấu cao.
Hòa tan hoàn toàn trong nước.
Thải hết qua đường nước tiểu.
Không chuyển biến về mặt dược lý.
Tính cản quang rất cao.
Sau chụp tủy sống cản quang, bệnh nhân có thể có triệu chứng đau đầu, nên xử trí:
Cho bệnh nhân nằm đầu cao trong khoảng 4 - 8 giờ và có thể cho thuốc giảm đau.
Cho bệnh nhân ngồi dậy và có thể cho thuốc giảm đau.
Cho bệnh nhân nằm tư thế nghiêng đầu một bên và có thể cho thuốc giảm đau.
Cho bệnh nhân đứng lên để giảm áp lực nội sọ và có thể cho thuốc giảm đau.
Cho bệnh nhân uống nhiều nước và dùng thuốc an thần để giảm lo lắng.
Chụp phế quản cản quang là một xét nghiệm kinh điển cho phép chẩn đoán:
Giãn phế quản.
Viêm phế quản cấp.
Phế quản phế viêm.
Hen phế quản.
Tràn khí màng phổi.
Ngày nay, chỉ định chụp phế quản cản quang chẩn đoán giãn phế quản ít dần và được thay thế chủ yếu bởi kỹ thuật nào sau đây:
Chụp cắt lớp vi tính phổi độ phân giải cao.
Chụp cộng hưởng từ lồng ngực.
Soi khí phế quản với ống soi mềm.
Đo chức năng hô hấp (khí dung ký).
Xạ hình phổi.
Chuẩn bị trước khi chụp phế quản cản quang, chọn câu sai:
Chụp trong khi bệnh nhân đang có đợt nhiễm khuẩn để chẩn đoán bệnh dễ dàng
Bệnh nhân cần nhịn ăn 4 - 6 giờ trước khi tiến hành thủ thuật để tránh nôn.
Mỗi lần chỉ chụp một bên phổi, nếu cần chụp bên còn lại thì chờ một thời gian sau.
Có thể cho dùng thuốc an thần nếu bệnh nhân cảm thấy lo lắng.
Chọn loại thuốc cản quang Iode, tan trong nước, không ion hóa và nên làm ấm thuốc cản quang trước khi dùng để giảm độ nhớt.
Trong chụp phế quản cản quang, nếu cần kiểm tra phế quản cả hai bên thì phải cách nhau ít nhất:
Hai tuần.
Hai ngày.
Năm ngày.
Một tuần.
Chụp hai bên cùng lần để tiện cho việc đánh giá kết quả hình ảnh.
Trong chụp phế quản cản quang hiện nay, cần lưu ý các điểm sau khi dùng thuốc cản quang đưa vào cây phế quản, chọn câu sai:
Nên sử dụng loại thuốc cản quang Iode tan trong dầu như Lipiodol vì loại thuốc này nhanh được thải trừ.
Dùng loại thuốc cản quang Iode, tan trong nước, không ion hóa như Ultravist, Xenetic…vì có nhiều ưu điểm.
Mỗi lần chỉ chụp một bên phổi, nếu cần kiểm tra phế quản cả hai bên thì phải cách xa nhau.
Nên làm ấm thuốc cản quang trước khi dùng để giảm độ nhớt.
Không nên bơm quá nhanh vì đưa một lượng thuốc quá lớn hoặc quá nhanh sẽ làm xẹp thùy phổi.
Trong chẩn đoán giãn phế quản, chụp phế quản cản quang nhằm xác định:
Hình thái giãn phế quản và độ lan rộng của tổn thương.
Bệnh sinh của giãn phế quản.
Tất cả các tổn thương phối hợp của bệnh.
Chức năng thông khí của phổi.
Giải phẫu bệnh của vùng phế quản bị giãn.
Hình ảnh bình thường của cây phế quản trong chụp phế quản cản quang là:
Toàn bộ cây phế quản ngấm thuốc đều, các nhánh phế quản bé dần từ trên xuống dưới.
Toàn bộ cây phế quản ngấm thuốc đều, các nhánh phế quản to dần từ trên xuống dưới.
Toàn bộ cây phế quản có hình ảnh giống như các chuỗi tràng hạt, ngấm đều thuốc cản quang bên trong.
Toàn bộ cây phế quản có hình ảnh chia nhánh đều nhau như hình trụ, ngấm đều thuốc cản quang bên trong.
Toàn bộ cây phế quản có hình ảnh chia nhánh giống như hình chùm nho, ngấm đều thuốc cản quang bên trong.
Kỹ thuật nào trong các kỹ thuật sau đây có giá trị nhất trong chẩn đoán giãn phế quản:
Chụp cắt lớp vi tính phổi độ phân giải cao (HRCT).
Chụp X quang phổi thẳng nghiêng.
Chụp phế quản cản quang.
Siêu âm phổi.
Chụp cộng hưởng từ lồng ngực.
Trong chụp phế quản cản quang, người ta dùng thuốc cản quang loại có Iode tan trong nước, mỗi lần chỉ nên chụp một bên, liều lượng dùng đối với một bên là:
60 ml
40 ml
20 ml
80 ml
100 ml
Trong chụp phế quản cản quang, trường hợp bắt buộc chụp cả hai bên cùng lúc thì lượng thuốc cản quang khoảng:
55 - 60 ml.
3,5 - 4 ml.
5,5 - 6 ml.
35 - 40 ml.
65 - 70 ml.
